DC&PT - Thời Sự 2011

 

 

Nợ công của Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro

 

 

 

 

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đă khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương tŕnh giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với Thanh Niên.

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20116/TuanThanh/10/Vu-Thanh-Tu-Anh.jpg
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh

Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lư giải thế nào về nghịch lư này?

Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách th́ sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung b́nh từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở t́nh trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ư kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất v́ khu vực DNNN của họ rất nhỏ. C̣n ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. V́ suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ th́ ngân sách cũng phải gánh. Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lư kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty th́ quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

 

http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/quote1.gif

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô h́nh tăng trưởng vốn đă trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế

http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/quote2.gif

 

 

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng ch́m” này th́ cũng không thể quản lư rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lư nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

Nhưng không thể phủ nhận vai tṛ quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều b́nh thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đă mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay v́ điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công th́ Chính phủ cũng lại hào hứng theo. V́ thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích v́ túi đă thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát ŕnh rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải - Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng c̣n lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay v́ cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD th́ đến 2010 đă lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung b́nh khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của DNNN c̣n tăng nhanh hơn, nhất là trong ṿng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.

Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đă có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp h́nh thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

Tại sao có t́nh trạng cái cần cắt th́ ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên th́ tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách th́ sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô h́nh tăng trưởng vốn đă trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Nguyên Hằng
(thực hiện

 

Trích: Thanh niên 3.10

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

   
   

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục