DC&PT - Thời Sự 2011

 

 

MNG LƯỚI NHÂN QUYN VIT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/1

 

 

TƯỜNG TR̀NH V T̀NH H̀NH NHÂN QUYN

TI VIT NAM NĂM 2010

 

 

Tóm Lược / 2

I. S dă man ca nhà nước công an tr / 3

II. Ṭa án phc v li ích ca đảng cm quyn / 4

- H́nh s hóa mi hành vi đi ngược li quyn li ca ĐCSVN / 5

- Vi phm nhng nguyên tc cơ bn ca lut t tng h́nh s / 5

- Đàn áp các lut sư / 6

III. Quyn t do phát biu và t do ngôn lun b chà đạp / 6

IV. Người lao động trong bàn tay phù phép ca nhà nước và gii ch nhân / 9

V. Không có tự do tôn giáo / 11

- Ngăn chặn bằng pháp luật / 11

- Kiểm soát bằng tổ chức / 12

- Đàn áp bằng bạo lực / 13

VI. Dân Oan: Khi quyền tư hữu đất đai bị tước đoạt bất công / 13

VII. Khi con người trở thành một món hàng trao đổi / 15

- Nạn bóc lột người công nhân làm việc tại nước ngoài / 16

- Nạn môi giới “cô dâu” cho đàn ông ở nước ngoài / 16

- Nạn trẻ em và phụ nữ bị lừa gạt làm “nô lệ t́nh dục” / 17

Đề Nghị / 18

PHỤ ĐÍNH: Danh sách tù nhân lương tâm tại Việt Nam được cập nhật tháng 3 năm 2011

 

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 2

 

TÓM LƯỢC

 

Tuy đă là một thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1977 và đă kư kết tham gia nhiều

văn kiện quốc tế về nhân quyền chính yếu, chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục chà đạp các

quyền cơ bản và chính đáng của người dân Việt Nam.

Bản tường tŕnh nầy nhằm ghi lại một số nét nổi bật việc vi phạm những nhân quyền căn

bản tại Viêt Nam trong năm 2010.

Nếu điều được chú ư trong năm 2009 là việc nhà nước sử dụng bọn côn đồ để tiếp tay sách

nhiễu, đe doạ và trấn áp các thành phần đối lập, th́ năm 2010 được ghi đậm nét với việc sử

dụng bạo lực có hệ thống của chính lực lượng an ninh nhà nước, khiến gây thương tích

hoặc tử vong cho người dân.

Hệ thống tư pháp, thay v́ là một cơ quan độc lập và công bằng bảo vệ người dân chống lại

các hành vi độc đoán trái phép của các nhân viên công quyền làm thiệt hại quyền lợi hay vi

phạm nhân quyền, vẫn tiếp tục được vận dụng tối đa như là một công cụ trọng yếu để bảo

vệ chế độ.

Quyền tự do ngôn luận, điều kiện thiết yếu của một sinh hoạt chính trị lành mạnh, chẳng

những không sáng sủa ǵ so với những năm trước mà trái lại càng bị xiết chặt hơn trong

thời gian chuẩn bị cho đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) vào đầu

năm 2011. Một mặt nhà nước tiếp tục độc quyền ngôn luận, mặt khác gia tăng mức độ

kiểm soát lượng thông tin từ nước ngoài, và đàn áp những người dám bày tỏ quan điểm

chính kiến khác với đường lối của ĐCSVN hoặc lên tiếng bênh vực cho những nạn nhân

của cường quyền.

Mặc dù luôn tự hào là nhà nước của giai cấp công nông, nhà cầm quyền cộng sản Việt

Nam vẫn tiếp tục vi phạm trầm trọng những quyền căn bản của công nhân, và thẳng tay

đàn áp những người đấu tranh cho quyền của người lao động.

Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục t́m đủ mọi cách để kiểm soát, khống chế, và đàn áp

các tổ chức tôn giáo bằng cách ngăn cản những quyền chính đáng b́nh thường của các tổ

chức tôn giáo bằng việc áp dụng những luật lệ khắt khe, xen vào sinh hoạt nội bộ các tôn

giáo qua nhiều h́nh thức, và đàn áp những tổ chức tôn giáo không chịu thuần phục chính

sách của ĐCSVN.

Việc tịch thu và trưng dụng đất đai một cách bất công của người dân để phục vụ cho điều

gọi là các “dự án phát triển” vẫn tiếp tục tạo oan ức đối với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt

là giới nông dân ở miền quê. T́nh trạng đó càng ngày càng đào sâu hố ngăn cách một bên

là người dân bị cướp đoạt và bên kia là quan chức tư sản mới.

Nạn buôn người không những không được cải thiện, mà lại có chiều hướng gia tăng trong

cả ba loại đối tượng nạn nhân: “xuất khẩu lao động”, “cô dâu ở nước ngoài”, và trẻ em bị

bán làm nô lệ t́nh dục.

Với bản tường tŕnh nầy, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tóm tắt những vi phạm nhân

quyền nghiêm trọng của nhà cầm quyền Hà Nội, và hy vọng những vi phạm này sẽ phải

chấm dứt hay giảm thiểu đáng kể, nhờ vào sự can thiệp tích cực của các chánh phủ cũng

như các tổ chức quốc tế đang quan tâm đến vấn đề nhân quyền và những nạn nhân hiện bị

đàn áp tại Việt Nam.

 

 

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 3

 

I. Sự Dă Man Của Nhà Nước Công An Trị

Năm 2010 được ghi đậm nét với việc sử dụng bạo lực có hệ thống của lực lượng an ninh

nhà nước, khiến gây thương tích hoặc tử vong cho người dân. Tính cách dă man của các

hành vi bạo lực đó không những được thể hiện qua nhiều h́nh thức tra tấn, nhằm vào các

tù nhân mà chính quyền cho là nguy hiểm trong các trại giam (xem “Lời chứng” số 4 của

linh mục Nguyễn văn Lư ngày 8-6-2010), mà c̣n đối với bất kỳ người dân nào.

Vào cuối tháng 9 năm 2010, tổ chức theo dơi nhân quyền Human Rights Watch đă lên

tiếng báo động về t́nh trạng bạo hành của công an Việt Nam, và liệt kê 19 vụ gây thiệt

mạng 15 người, trong đó có những trường hợp nạn nhân bị đánh chết khi đang c̣n bị câu

lưu thẩm vấn, có những trường hợp chết sau khi được thả về, và cũng có những trường hợp

tử vong ở nơi công cộng khi công an lạm dụng vũ lực một cách quá mức không cần thiết.

Dĩ nhiên bản báo cáo của Human Rights Watch chỉ đề cập đến các trường hợp bạo hành

của công lực có gây tử vong, mà đă được công khai hóa bởi các cơ quan truyền thông có

sự kiểm soát của nhà nước. Thực tế có rất nhiều trường hợp không gây tử vong, nhưng gây

thương tích trầm trọng, hoặc đă xảy ra ở vùng quê hẻo lánh trong ṿng kiểm soát của các

bạo chúa địa phương, mà báo chí Việt Nam không đề cập đến. Báo chí cũng tuyệt đối

không bao giờ được đề cập đến những trường hợp công an sử dụng bạo hành nhằm vào

những người bất đồng chính kiến. Sau đây là một số trường hợp điển h́nh:

- Trường hợp của ông Thor Halvorssen, nhà sản xuất phim và cũng là sáng lập viên và

chủ tịch Sáng hội Nhân quyền (Human Rights Foundation) có trụ sở đặt tại New York,

Hoa Kỳ, đă bị công an hành hung khi đến thăm Đại lăo Ḥa thượng Thích Quảng Độ ở

Thanh Minh Thiền viện ngày 16/3/2010. Vừa bước chân ra khỏi chùa sau khi tiếp xúc

với HT Quảng Độ, ông Thor Halvorssen liền bị bốn công an mặc thường phục nhảy xô

đến, miệng vừa la hét “Tại sao mày vào chùa? Mày vào chùa làm ǵ?”, tay vừa thụi vào

lưng ông đến bầm tím. Sau đó chúng áp giải ông về đồn công an quận Phú Nhuận làm

việc..

- Trường hợp chị Lư Thị Thu Trang, thành viên Khối 8406, bị công an bắt tại nhà của bà

Dương Thị Tân, vợ của tù nhân lương tâm Điếu Cày Nguyễn văn Hải, vào ngày

28/4/2010, rồi bị đưa về đồn công an đánh đập thậm tệ, mà theo lời của chị kể lại: “Em

nghĩ họ cố t́nh giết em bằng những đ̣n thù hận, chứ không phải hành động nặng tay

b́nh thường.”

- Trường hợp chị Hồ Thị Bích Khương, một thành viên khác của Khối 8406, bị công an

quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh đánh đập dă man đến ngất xỉu nhiều lần cả đêm

14/6/2010. Sáng sớm 15/6/2010, công an đem chị bỏ lên một xe taxi và thả chị tại công

viên Gia Định trong t́nh trạng bất tỉnh. May nhờ có người quen đem chị vô bệnh viện

Phú Nhuận cấp cứu.

- Trường hợp nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Ngọc Quang và con trai 7 tuổi bị mưu

sát bằng tai nạn giao thông ngày 18/9/2010 tại Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Công an

ch́m đi trên 2 xe gắn máy, một xe ép xe gắn máy của anh Quang làm cho anh và con bị

té xuống đường, và một xe khác từ phía sau phóng tới cán ngang qua đầu anh. May

nhờ có nón bảo hiểm tốt, nên anh thoát chết, nhưng toàn thân và mặt bị chấn thương

nặng.

 

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 4

 

Những hành vi bạo lực của công an không những chỉ nhằm vào những cá nhân riêng lẻ, mà

c̣n nhằm đối phó với những tập thể đông đảo người dân:

- Ngày 6/1/2010, nhân viên chính quyền và hơn 500 công an thành phố Hà Nội đă dùng

vũ lực đánh đập số đông người, trong khi ra tay tháo gỡ cây thánh giá đă được giáo dân

dựng trên Núi Chẽ tại thôn Đồng Chiêm, khiến gây thương tích cho nhiều giáo dân.

- Ngày 23/2/2010 lực lượng công an khủng bố cuộc niệm Phật tại nhà Bà Nguyễn Thị

Tuyết thuộc Xă Tân Quới, tỉnh Vĩnh Long, đánh đập và gây thương tích cho nhiều tín

đồ Phật Giáo Ḥa Hảo.

- Ngày 4/5/2010, khoảng ba trăm công an đă tấn công những giáo dân vô tội tại giáo xứ

Cồn Dầu bằng lựu đạn cay, roi điện và dùi cui, bất chấp ǵa trẻ, trai gái, cướp quan tài,

bắt đi 60 người, và sau đó đánh chết một người.

- Ngày 25/5/2010, trong một cuộc biểu t́nh đ̣i đất ở Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, tỉnh

Thanh Hóa, công an đă nổ súng bắn chết tại chỗ một em học sinh 12 tuổi, và một nạn

nhân khác cũng đă chết v́ vết đạn của công an vài ngày sau đó.

Tính cách bạo hành của chính quyền không những chỉ giới hạn ở việc sử dụng vũ lực gây

thương tích hoặc tử vong, mà c̣n được thể hiện qua các hành vi xúc phạm nghiêm trọng

đến nhân phẩm của người dân. Vụ công an Thị xă Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, thu h́nh hai

cô gái nghi là gái mại dâm bị bắt trong tư thế không mảnh vải che thân, kèm theo những

lời la mắng chưởi rủa thô tục vào ngày 29/6/2010, rồi tung lên Internet là một trường hợp

điển h́nh cho thấy mức độ coi thường phẩm giá con người của chế độ cộng sản Việt nam

hiện nay. Điều đáng quan tâm hơn là chính cấp lănh đạo công an đă cho rằng việc việc

quay phim như thế được coi như là một “nghiệp vụ” chính đáng của ngành công an. Hầu

hết các vụ vi phạm của công an luôn luôn được bao che bởi chính quyền. Mọi vụ khiếu nại

của người dân liên hệ đến bạo hành của công an không bao giờ đi đến một đền bù xứng

đáng cho nạn nhân, hay một biện pháp h́nh sự thích đáng đối với kẻ gây ra thiệt hại.

 

II. Ṭa Án Phục Vụ Lợi Ích Của Đảng Cầm Quyền

Cũng như đối với các nhân quyền căn bản khác, quyền được đối xử b́nh đẳng trước pháp

luật (Điều 52 HPVN) và được xét xử đúng luật (Điều 130 HPVN) của công dân đă được

quy định trong hiến pháp của Việt Nam. Tuy nhiên trong thực tế bất cứ người dân nào

cũng có thể bị bắt giam, truy tố và xét xử một cách tùy tiện. Tiêu chuẩn tối hậu của nền tư

pháp Việt Nam là lợi ích của đảng cầm quyền. Sự lệ thuộc của ṭa án vào ĐCSVN là một

hệ luận tất yếu của nhà nước “dân chủ nhân dân”, trong đó ṭa án là một công cụ trọng yếu

để bảo vệ chế độ. Nhân ngày kỷ niệm lần thứ 65 Ngày Truyền Thống của ngành Ṭa Án

Nhân Dân Việt Nam (10/9/2010), ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao Trương Ḥa B́nh

đă khẳng định lại điều đó khi đề cao thành tích của ṭa án nhân dân trong việc giữ vững an

ninh chính trị do đảng giao phó: “Tuyệt đại đa số cán bộ, công chức Ṭa án có đạo đức

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 5

Cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, Nhà nước và

tận tụy với nhân dân”.1

Cho dù trong những năm gần đây nhiều tổ chức quốc tế và và các quốc gia chi viện đă

khuyến cáo Việt Nam phải cải tổ luật pháp và tổ chức ṭa án, việc vi phạm nhân quyền

trong lănh vực tư pháp càng ngày càng trầm trọng thêm, và được biểu lộ qua một số nét

đặc trưng sau:

- H́nh sự hóa mọi hành vi đi ngược lại quyền lợi của ĐCSVN

Không lạ ǵ khi nhà nước Việt Nam luôn rêu rao không có tù chính trị tại Việt Nam; bởi v́

tất cả mọi biểu lộ quyền chính trị chính đáng của người dân, dù ôn ḥa, cũng bi quy kết với

những tội danh của Bộ Luật H́nh Sự ban hành năm 1999, đặc biệt là điều 79 (Tội hoạt

động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điều 87 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết), và

điều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam). Những

điều luật nầy quy định việc bày tỏ chính kiến qua các h́nh thức ôn ḥa như tranh luận, lưu

trữ, hoặc phổ biến tài liệu khác với chính sách của ĐCSVN là “tội”, và “phạm nhân” có thể

bị xử đến 20 năm tù (Điều 88), hoặc đến tử h́nh nếu có “hoạt động nhằm lật đổ ¡ç|¡ç|¡ç|¡chính

quyền nhân dân” (Điều 79). Trong năm 2010 đă có trên 20 nhà bất đồng chính kiến bị xử

tù bởi việc lạm dụng luật h́nh sự nầy.

- Vi phạm những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng h́nh sự

Việc vi phạm những nguyên tắc do chính ḿnh đặt ra được thể hiện suốt quá tŕnh tố tụng

h́nh sự từ việc bắt người tùy tiện, ngụy tạo bằng chứng, tra tấn ép cung, ngăn cản luật sư,

xử án qua loa trong khi bản án đă có sẵn, v.v. Chính công an, chứ không phải quan ṭa là

yếu tố quyết định của các vụ án h́nh sự. Công an có thể xông vào nhà dân, hoặc chận bắt

người trên đưởng phố bất cứ lúc nào. Các nghi can, đặc biệt là những người bất đồng chính

kiến thường bị tra tấn trong khi lấy cung, bị cách ly khỏi gia đ́nh và luật sư. Hầu hết các

vụ xử án được diễn ra không quá một ngày, có khi chỉ vài giờ. Sự hiện diện của luật sư nếu

có chỉ là để trang trí cho phiên ṭa. Thông thường th́ thời gian nghị án nhanh hơn thời gian

tuyên án, nghĩa là bản án đă có sẵn trước khi xử.

Việc chà đạp những nguyên tắc h́nh sự nầy không những để khống chế người dân mà c̣n

được dùng như một phương tiện bao che cho giới cầm quyến. Vụ án được cả nước chú ư

năm 2010 liên hệ đến ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh Hà Giang bị tố cáo tội mua dâm

các em học sinh trường trung học thị trấn Việt Lâm là một bằng chứng. Mặc dù luật sư của

hai học sinh đă yêu cầu khởi tố ông Chủ tịch UBND tỉnh và những cán bộ nhà nước liên hệ

đến đường dây mua dâm trẻ vị thành niên nầy, ṭa án đă không có một phản ứng nào. Việc

luật sư Cù Huy Hà Vũ, cũng trong năm 2010, làm đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

do sai lầm khi thực hiện khai thác bauxit Tây Nguyên bị ṭa án trả lại đơn kiện với lời giải

thích không thỏa đáng cũng vạch rơ rằng không hề có một nhà nước pháp quyền tại VN.

1 Ṭa án phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lư. Truy cập ngày 7-01-2011

http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30089&cn_id=422244

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 6

- Đàn áp các luật sư

Cách đây mấy năm, chính ông Bộ trưởng Tư pháp VN Hà Hùng Cường trong một báo cáo

với Quốc Hội đă cho biết chỉ có chừng 20% vụ án là có luật sư. Nền tư pháp Việt Nam

què quặt không những ở tại số lượng luật sư ít ỏi, tŕnh độ thấp, mà hơn thế nữa chính ở

thái độ của chính quyền đối với giới luật sư. Công an và ṭa án luôn cản trở, gây khó dễ

cho luật sư trong tiến tŕnh tham gia các vụ án. Muốn bào chữa cho một bị cáo, luật sư phải

xin phép ṭa án, và hầu như không bao giờ có được giấy phép đúng thời hạn luật định. Và

dù có giấy chứng nhận bào chữa, luật sư vẫn phải xin phép của cơ quan điều tra. Luật sư

phải nương nhờ các cơ quan điều tra để được gặp thân chủ trong những thời khắc vội vàng.

Trước ṭa án, hội đồng xét xử ít khi để ư đến lời biện hộ của luật sư; trái lại luật sư thường

không dám phản bác công tố viên; nhiệm vụ của họ, trong hầu hết các vụ án chỉ là xin

khoan hồng cho thân chủ.

Chính v́ thái độ thù nghịch của nhà nước, các luật sư thường tránh những vụ án “nhạy

cảm”. Tuy nhiên đă có một số luật sư dám lên tiếng bảo vệ dân oan, bảo vệ tự do tôn giáo

và những nhân quyền căn bản khác. Nhà nước đă không nương tha những vi luật sư can

cường nầy bằng nhiều biện pháp từ rút giấy hành nghề, trục xuất khỏi luật sư đoàn, đến

những biện pháp quyết liệt hơn như cho côn đồ hành hung hoặc truy tố ra ṭa và tống giam

với những tôi danh mơ hồ. Đó là trường hợp các luật sư Nguyễn văn Đài, Lê thị Công

Nhân, Lê Quốc Quân, Trần Quốc Hiến, Nguyễn Bắc Truyển, Lê Trần Luật, Nguyễn Quốc

Đạt, Lê Công Định, và gần đây nhất, bị bắt trong năm 2010 là luật sư Cù Huy Hà Vũ.

 

III. Quyền Tự Do Phát Biểu Và Tự Do Ngôn Luận Bị Chà Đạp

Quyền tự do ngôn luận trong năm 2010 chẳng những không sáng sủa ǵ hơn so với những

năm trước mà trái lại càng gần kề đại hội kỳ thứ 11 của ĐCSVN vào đầu năm 2011 th́

việc đàn áp của nhà cầm quyền lại càng ráo riết hơn. Một mặt nhà nước tiếp tục độc quyền

ngôn luận, mặt khác gia tăng mức độ kiểm soát lượng thông tin từ nước ngoài, và đàn áp

những người dám bày tỏ quan điểm chính kiến khác với đường lối của ĐCSVN hoặc lên

tiếng bênh vực cho những nạn nhân của cường quyền.

Theo thống kê của Bộ Thông Tin và Truyền Thông VN, trong năm 2010 cả nước có 706

cơ quan báo in, 21 báo điện tử, 160 trang tin điện tử của các cơ quan báo in, 76 đài phát

thanh, truyền h́nh với hơn 17.000 người được cấp thẻ nhà báo.2

Tuy nhiên con số thống kê trên chẳng có ư nghĩa ǵ khi tất cả những cơ quan ngôn luận nầy

thực chất chỉ là công cụ của ĐCSVN với nhiệm vụ tuyên truyền chính sách của đảng. Điều

nầy đă được chính thức nhắc nhở bởi ông Trương Tấn Sang, nhân vật có thế lực hàng đầu

của ĐCSVN trong Đại hội của Hội Nhà báo Việt Nam vào tháng 5 năm 2010: “Các cơ

quan báo chí tiếp tục thể hiện rơ vai tṛ là bộ phận tiên phong trong công tác tư tưởng của

Đảng…” 3 Hiện nay, trên toàn quốc không hề có một tờ báo hay cơ quan truyền thông nào

2 Báo Hà Nội Mới Điện Tử. Truy cập ngày 9/01/2011.

http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/chinh_tri/326915/bao-chi-viet-nam-nam-2010-chu-dong-tich-cucnhay-

ben-trach-nhiem.htm

3 Ibid.

MNG LƯỚI NHÂN QUYN VIT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 7

ca tư nhân được quyn hat động độc lp. Ch th s 37CP ngày 29-11-2006 ca Th

tướng Nguyn Tn Dũng “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mi h́nh thc và

không để bt c t chc hoc cá nhân nào li dng, chi phi báo chí để phc v li ích

riêng, gây tn hi li ích đất nước.” vn c̣n hiu lc trong năm 2010.

Cũng như mt s quc gia đang phát trin, Vit Nam đang chng kiến s bùng n các

phương tin truyn thông hin đại như đin thoi di động và Internet. Theo Tng Cc

Thng Kê VN, s thuê bao đin thoi ca c nước tính đến cui tháng 12/2010 là 170,1

triu thuê bao (sic), tăng 35,4% so vi cùng thi đim năm trước; s thuê bao Internet c

nước có đến cui tháng 12/2010 đạt 3,77 triu thuê bao, tăng 27,4% so vi cùng thi đim

năm trước.4 Tuy nhiên song song vi s gia tăng ny, chính quyn cũng gia tăng vic

kim soát lượng thông tin mà h cho là không có li cho h bng nhiu phương cách khác

nhau như nghe lén đin đàm hoc ct đường dây đin thoi ca nhng người bt đồng

chính kiến. Chính quyn cho phép các trang mng Internet hoc blogs trong nước hot

động t do, k c nhng trang mng “xu” được hiu theo nghĩa truyn thng văn hóa

Vit Nam, trong mc độ các trang mng đó không đề cp đến nhng vn đế mà chính

quyn cho là nhy cm, như Trung Quc xâm chiếm hai qun đảo Hoàng Sa và Trường Sa,

khai thác bô-xít ti Cao Nguyên Trung Phn VN, giết hi các ngư dân Vit trên Bin

Đông, và nht là sự độc quyn lănh đạo ca ĐCSVN.

Riêng đối vi lượng thông tin t ngoài nước, chính quyn Vit Nam tiếp tc ngăn cn

không cho người dân có th tiếp cn vi các ngun thông tin độc lp và khách quan bng

k thut phá sóng các đài truyn thanh vit ng t ngoài nước (đặc bit là đài Á Châu T

Do), dng tường la ngăn cn vic truy cp các trang mng không chung lp trường.

Chính trung tướng Vũ Hi Triu, phó Tng Cc trưởng Tng cc An ninh, B Công An,

ti “Hi ngh toàn quc trin khai nhim v ca các cơ quan báo chí Vit Nam năm 2010”

tuyên bố đă chỉ đạo nhân viên dưới quyn phá sp 300 báo mng và blog cá nhân b ông ta

đánh giá là xu! Theo McAfee, mt trong nhng công ty uy tín nht v an toàn mng lưới

đin toán, Vit Nam được xếp hng nht trong các tên ti phm trên mng Internet trong

năm 2010, trong khi năm ngoái Vit Nam chỉ đứng hng th 39 trên danh sách này.5

Các nhà báo thường xuyên được nhc nh “phi gi l phi”, tc là phi theo đúng l li

thông tin mt chiu, bóp méo s tht ca nhà nước cung cp. Đă có nhiu nhà báo bt tuân

b bt gi__________, sa thi khi s làm, hoc cm tù v́ đă phát biu lp trường khác vi quan đim

ca nhà nước cng sn t nhng vn đề ln liên hệ đến đường li chính sách ca đảng đến

nhng chuyn làm ăn bê bi ca các quan chc các cp. V Blogger Cô gái Đồ Long b bt

hi tháng 10/2010 liên quan ti bài viết v con trai ca mt quan chc công an cao cp là

mt đin h́nh.

Đặc bit đối vi nhng phát biu chính kiến khác vi hoc ngược li ch trương ca

ĐCSVN, cho dù qua bt c phương tin truyn thông nào cũng đều b quy ti “tuyên

truyn chng phá nhà nước” (Điu 88) hoc “hot động lt đổ chính quyn nhân dân”

(Điu 79) ca B H́nh Lut 1999. Trong năm 2010, qua th tc h́nh s hóa vic s dng

4 Tng Cc Thng Kê. Truy cp ngày 12/01/2011.

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=403&idmid=2&ItemID=10835

5 Đài Á Châu T Do, Việt Nam đang là mục tiêu của tin tặc. Truy cập ngày 12/01/2011

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-becomes-the-target-for-cyber-attackers-KDiem-

10302010114100.html?searchterm=None

 

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 8

quyền tự do ngôn luận của người dân, chính quyền Việt Nam đă bắt giữ, truy tố, và cầm tù

rất nhiều kẻ bất đồng chính kiến. Sau đây là những trường hợp nổi bật:

Tháng 1/2010: Toà Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đă tuyên án:

- Luật sư Lê Công Định 5 năm tù giam, 3 năm quản chế v́ vi phạm khoản 1, 2, 4 điều 10

luật báo chí sau khi bị bắt khẩn cấp ngày 13 tháng 6 năm 2009 theo Điều 88 - Bộ Luật

h́nh sự, v́ đă có những hành vi cấu kết với các thế lực thù địch chống nhà nước Cộng

Hoà Xă hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

- Anh Nguyễn Tiến Trung 7 năm tù giam, 3 năm quản chế, v́ đă làm ra 64 tài liệu, trong

đó có 50 tài liệu có nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước và tàng trữ 13 tài liệu

của các tổ chức phản động có nội dung tuyên truyền, lôi kéo người tham gia vào tổ

chức đảng Dân Chủ Việt Nam của ông Hoàng Minh Chính.

- Anh Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù giam, 5 năm quản chế v́ đă làm ra 53 tài liệu và

tàng trữ 7 tài liệu có “nội dung tuyên truyền chống Nhà nước, xuyên tạc sự lănh đạo

của Đảng và sự điều hành của Chính phủ, phục vụ cho hoạt động nhằm lật đổ chính

quyền nhân dân.”

- Anh Lê Thăng Long 5 năm tù giam, 3 năm quản chế v́ đă làm ra 39 tài liệu trao đổi

với các đối tượng trong tổ chức “Nhóm nghiên cứu Chấn”, trong đó có 15 tài liệu có

nội dung vạch ra kế hoạch hoạt động, 11 tài liệu có nội dung báo cáo các công việc ông

đă làm phục vụ cho tổ chức này, 13 tài liệu và 5 tài liệu tàng trữ khác có nội dung

tuyên truyền chống phá Nhà nước.

Cũng trong tháng 1/2010, cô Phạm Thanh Nghiên, một thành viên của Khối 8406, đă bị án

4 năm tù giam và 3 năm quản chế v́ đă lên tiếng chỉ trích chính sách bóp nghẹt nhân

quyền, việc để mất chủ quyền lănh thổ, và nạn tham nhũng của chính quyền qua các bài

viết trên mạng Internet và phỏng vấn với Đài Á Châu Tự Do. Cô Phạm Thanh Nghiên

cũng là khôi nguyên Giải Nhân Quyền Hellman/Hammett của Human Rights Watch

Tháng 2/2010: Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một thành viên Ban biên tập Báo Tổ

Quốc, bị tuyên án 3 năm rưỡi tù giam. Bà bị bắt ngày 8/10/2009 sau khi công an dàn dựng

một vụ ẩu đả, đánh bà bị thương, rồi lại vu khống bà và chồng tấn công người khác.

Tháng 3/2010: Blogger AnhBaSàiG̣n / Phan Thanh Hải, một luật gia tại TP HCM bị bắt

giam 4 tháng v́ thường đưa lên mạng nhiều bài chú trọng tới những đề tài pháp lư có liên

quan đến quyền con người bị vi phạm, đặc biệt là về những sai trái của các cơ quan công

quyền Việt Nam.

Bà Tạ Phong Tần, người viết báo mạng cá nhân “Công Lư và Sự Thật” bị công an bắt cóc,

thẩm vấn và hành hung nhiều lần trong các tháng 3, 4, 5, và 9 năm 2010.

Tháng 5/2010: Blogger Uyên Vũ (tên thật là Vũ Quốc Tú) và blogger Trăng Đêm bị chặn

giữ ở cửa khẩu Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất, và cấm xuất cảnh v́ lư do an ninh quốc

gia. Từ đó, họ liên tục bị Cơ quan An ninh bắt đi làm việc để điều tra về hoạt động của Câu

Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do.

Tháng 8 /2010: Ông Phạm Minh Hoàng, một Việt kiều từ Pháp và giảng viên khoa toán tại

Đại Học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh bị bắt giam. Ông Hoàng bị tố cáo đă lợi dụng việc

dậy học để huấn luyện và tuyên truyền cho một số sinh viên nhằm lật đổ nhà nước Việt

Nam. Ông Hoàng viết bài trên blog của ḿnh với bút danh Phan Kiến Quốc, và đăng một

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 9

số bài trên mạng bauxit.vn do các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng

điều hành.

Tháng 10/2010: Blogger Điếu Cầy đă măn hạn tù v́ tội trốn thuế đáng lư được thả ngày 20

tháng 10/ 2010, nhưng lại bị đưa trở lại nhà giam v́ đă viết bài cho Câu lạc bộ Nhà Báo Tự

Do và bị khởi tố thêm tội “tuyên truyền chống nhà nước.” Cũng trong tháng 10/2010, ông

Vi Đức Hồi, là một cựu đảng viên, người đă được giải Hellman/Hammett năm 2009 của tổ

chức nhân quyền Human Rights Watch, bị khám xét nhà, bị làm việc và bắt giam. Ngày

26 tháng 1 2011 ông bị tuyên án 8 năm tù v́ đăng tải trên internet những bài viết hô hào

dân chủ đa đảng.

Cũng trong tháng 10/2010, bà Lê Nguyễn Hương Trà – blogger “Cô gái Đồ Long” bị khởi

tố và bắt tạm giam về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà

nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Tháng 11/2010: Luật gia Cù Huy Hà Vũ bị bắt giam “theo thủ tục khẩn cấp.” Lúc đầu công

an quy tội LS Vũ có quan hệ với gái mại dâm, nhưng sau đó lại khép vào điều 88 Bộ Luật

h́nh sự v́ ông đă “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” làm ra những tài

liệu có nội dung “tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lư, đ̣i lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên, đa đảng.

 

IV. Người Lao Động Trong Bàn Tay Phù Phép Của Nhà Nước

Và Giới Chủ Nhân

Mặc dù luôn tự hào là nhà nước của giai cấp công nông, chính quyền cộng sản Việt Nam

vẫn tiếp tục vi phạm trầm trọng đến những quyền căn bản của người công nhân, và thẳng

tay đàn áp những người đấu tranh cho quyền của người lao động trong năm 2010.

Một trong những quyền căn bản của Luật Quốc Tế Nhân Quyền là Quyền Làm Việc (điều

23, 24 TNQTNQ và điều 6, 7 CƯKTXHVH). Điều nầy đ̣i hỏi nhà nước có bổn phận tạo

công ăn việc làm xứng đáng và những điều kiện làm việc an toàn cho người dân.

Sau chính sách đổi mới kinh tế của thập niên 90 tại Việt Nam, số người lao động trong khu

vực kinh doanh tư nhân gia tăng đáng kể, với việc đầu tư của các xí nghiệp nước ngoài.

Tuy nhiên v́ không có những cơ chế bảo hộ lao động hữu hiệu, và nhất là v́ cán bộ nhà

nước các cấp tham lam cấu kết với giới chủ nhân để bóc lột sức lao động khiến cho đời

sống của người công nhân vô cùng khó khăn, và tạo nên nhiều bất an xă hội. Theo thống

kê của Pḥng Thương Mại Âu Châu tại Việt Nam, lương trả cho công nhân Việt Nam tại

các dự án FDI đứng gần cuối bảng tại Á Châu. Với lương trung b́nh 49 USD/tháng, chỉ

hơn Campuchia một chút, là 47.36 USD.6 Theo Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh

và Xă hội Việt Nam, th́ lư do chính yếu của các cuộc đ́nh công là đồng lương quá thấp và

điều kiện làm việc không bảo đảm. 7 Ngoài đồng lương chết đói, người công nhân c̣n bị

6 BBC Tiếng Việt Di Động. Thứ sáu, 24 tháng 12, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/12/101224_viet_new_strikes.shtml

7 Tạp chí Cộng Sản Điện Tử số 21 (213) năm 2010. Truy cập ngày 14-02-2011

http://www.tapchicongsan.org.vn/listcontentByIssue.asp?IssueNumber=123&Object=4

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 10

ép buộc làm thêm giờ mà không được trả tiền phụ trội và có thể bị sa thải bất cứ lúc nào, v́

bất cứ lư do ǵ.

Việc phát triển kinh tế không đáp ứng kịp sức cung của thị trường lao động cho nên số

lượng người thất nghiệp gia tăng và nhà nước quay qua chính sách xuất cảng lao động rẻ

tiền, đưa đến nạn buôn người mà thủ phạm chính là các cán bộ nhà nước cấu kết với các

văn pḥng dịch vụ môi giới. Nạn nhân là những người dân quê chất phác, bươn chải đi t́m

lối thoát cảnh nghèo túng, nên đă sa vào cạm bẫy của những kẻ chuyên môn lường gạt.

Cho đến nay có khoảng 500 ngàn lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 30 quốc gia,

mà nhiều nhất là Mă Lai, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản, một số quốc gia thuộc khối Liên

Xô cũ và các quốc gia ở Trung Đông. T́nh trạng công nhân làm việc tại nước ngoài theo

chính sách xuất khẩu lao động bị bóc lột, lạm dụng và cháy túi càng ngày càng trở nên phổ

biến hơn.

Quyền căn bản thứ hai liên hệ đến người công nhân là Quyền Tự Do Nghiệp Đoàn và

Quyền Đ́nh Công (điều 23 khoản 4 TNQTNQ và điều 8 CƯKTXHVH). Tại Việt Nam,

trên pháp lư cũng như trong thực tế, nhà nước giành độc quyền tổ chức nghiệp đoàn cũng

như các đoàn thể dân sự khác. Luật Công Đoàn năm 1990 quy định rơ công đoàn là một tổ

chức của giai cấp công nhân “tự nguyện thành lập dưới sự lănh đạo của ĐCSVN” (Điều 1).

Quy định nầy được áp dụng trong thực tế. Việc tổ chức và hoạt động của công đoàn tại các

công ty đều nằm dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của đảng ủy công ty, là hạt nhân chính trị có

nhiệm vụ thực hiện đường lối, chủ trương của ĐCSVN. Ở cấp trung ương, Tổng Liên

Đoàn Lao Động Việt Nam được lănh đạo bởi một ủy viên Trung ương đảng, ông Đặng

Ngọc Tùng, mà nhiệm vụ chính là không để cho công nhân kết hợp thành đoàn thể mà

không có sự kiểm soát của đảng. Tổng Liên Đoàn Lao Động VN huấn luyện cho cán bộ

phương cách ngăn ngừa và giải tán các cuộc đ́nh công của công nhân. Điển h́nh là vụ

đ́nh công của 10.000 công nhân của Công ty Giày Da Mỹ Phong tại Trà Vinh vào tháng

Giêng năm 2010. V́ công đoàn không bảo vệ quyền lợi cho công nhân, nên họ đă tự phát

tổ chức đ́nh công chống lại chủ chận tiền ăn tết. Và khi cuộc đ́nh công xảy ra, thay v́

đứng về phe công nhân, cán bộ công đoàn lại dùng loa phóng thanh kêu gọi công nhân trở

lại sở làm. Công an cũng được gởi đến giải tán cuộc đ́nh công ôn ḥa, và kết quả là 16

công nhân đă bị xỉu và 2 trong số những công nhân tổ chức đ́nh công đă bị công an bắt và

bị chủ đuổi việc. Bộ luật Lao Động năm 1994 cho phép “người lao động được quyền đ́nh

công theo quy định của pháp luật” (Khoản 4, điều 7). Nhưng mặt khác, Luật Công Đoàn lại

quy định quyền đ́nh công chỉ được phép thông qua công đoàn nhà nước (khoản 2 điều 11).

Như vậy nghĩa là cá nhân người lao động không được quyền đ́nh công. Những quy định

ṿng vo này rơ ràng đă bóp nghẹt quyền đ́nh công của công nhân. Những văn kiện bổ túc

của Bộ Luật Lao Động lại c̣n dự trù án phạt h́nh sự đối với người “xúi giục, lôi kéo hoặc

ép buộc” công nhân đ́nh công, tạo thêm những hạn chế cho các cuộc đ́nh công “bất hợp

pháp”. Tuy vậy, những cuộc đ́nh công mang tính tự phát do tập thể công nhân đứng lên

đ̣i hỏi cải thiện điều kiện làm việc và thù lao tương xứng vẫn tiếp tục gia tăng trong năm

2010. Theo Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, trong 10 tháng đầu năm 2010, trên toàn

quốc đă xảy ra 328 vụ đ́nh công, tăng 133 cuộc so với cùng thời điểm 2009.8 Dĩ nhiên, v́

không do công đoàn nhà nước tổ chức, cho nên tất cả các cuộc đ́nh công đó là bất hợp

pháp. Tệ hơn nữa, v́ để ưu đăi cho giới chủ nhân nước ngoài, nhà nước, bao gồm chính

8 Báo Lao Động Điện Tử ngày Thứ Bảy. Truy cập ngày 1.1.2011

http://laodong.com.vn/tin-tuc/chu-trong-bao-ve-quyen-loi-nguoi-lao-dong/27462

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010/ 11

quyền địa phương và công đoàn nhà máy luôn đứng về phía chủ nhân để chống đối lại

những đ̣i hỏi của công nhân.

Song song với việc độc quyền tổ chức nghiệp đoàn, ngăn cấm đ́nh công, nhà nước thẳng

tay đàn áp những cá nhân và phong trào đấu tranh cho quyền lợi người lao động và quyền

thành lập công đoàn độc lập. Kể từ năm 2006, đồng thời với các cuộc đ́nh công nhiều nơi

trên cả nước, đặc biệt là các tỉnh Miền Nam, một số cá nhân đă liên kết với nhau đ̣i hỏi

chính quyền cải thiện cuộc sống của người lao động và nhất là đ̣i hỏi quyền thành lập

công đoàn không thuộc nhà nước như đă được quy định bởi Luật Quốc Tế Nhân Quyền, và

phù hợp với các tiêu chuẩn luật lao động quốc tế. Những nhà đấu tranh tiên khởi cho

quyền của công nhân như Nguyễn Khắc Toàn, Cao Văn Nhâm, Lê Thị Công Nhân, Trần

Khải Thanh Thủy, Trần Quốc Hiển, Đoàn Văn Diên, Trần Thị Lệ Hằng, Lê Bá Triết… lần

lượt bị bắt và tống giam với những tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước” (Điều 88)

hoặc “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” (Điều 79) của Bộ H́nh Luật 1999.

Có người bị bắt giữ mà cho đến nay được kể như là mất tích; đó là trường hợp của Lê Trí

Tuệ, người đồng sáng lập Công Đoàn Độc Lập bị bắt cóc tại thủ đô Phnom Penh vào tháng

5 năm 2007, và bị đưa về Việt Nam một cách bí mật.

Việc đàn áp quyền của người lao động lên cao điểm trong năm 2010, với việc xử án nặng

nề ba nhà đấu tranh hàng đầu của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông là Nguyễn Hoàng Quốc

Hùng (9 năm tù giam), Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh (7 năm tù giam). Cũng

như đối với các nhà bất đồng chính kiến khác, họ bị xử với tội danh “phá rối an ninh trật tự

nhằm chống lại chính quyền nhân dân” theo điều 89 Bộ Luật H́nh sự. Họ bị bắt hồi tháng

Hai năm nay, và bị cáo buộc “xúi giục” công nhân của một công ty giày da tỉnh Trà Vinh

tổ chức đ́nh công. Đặc biệt đối với ông Đoàn Huy Chương, người đứng đầu Hiệp Hội

Đoàn Kết Công Nông, đây là lần thứ hai ông vào tù v́ đă đấu tranh cho quyền lao động;

năm 2007 ông đă bị xử 18 tháng tù và được thả năm 2008.

 

V. Không Có Tự Do Tôn Giáo

Khi chứng kiến những hội hè lễ lạc đông người ở các nhà thờ hoặc chùa chiền tại Việt

Nam trong những năm gần đây, một số quan sát viên đă vội cho rằng “đă có tiến bộ trong

lănh vực tự do tôn giáo”. Thực tế, chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục t́m đủ mọi cách để

kiểm soát và khống chế các tổ chức tôn giáo cũng như các tổ chức xă hội dân sự khác mặc

dù quyền tự do tôn giáo được ghi nhận ở điều 70 của hiến pháp Cộng Ḥa Xă Hội Chủ

Nghĩa Việt Nam. Sự hạn chế quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam được thể hiện qua ba

phương cách:

- Ngăn chặn bằng pháp luật

- Kiểm soát bằng tổ chức

- Đàn áp bằng bạo lực

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 12

- Ngăn Chặn Bằng Pháp Luật

Năm 2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội CSVN ban hành “Pháp lệnh về Tín ngưỡng và

Tôn giáo”. “Ordinance on Beliefs and Religions”. Nhiều người tưởng rằng đây là một bước

tiến trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam. Thực ra pháp lệnh

nầy chỉ nhằm ngăn cản quyền tự do hành đạo của các tổ chức tôn giáo, hướng các chức

năng của tôn giáo vào lợi ích của chính trị. Chẳng hạn, giáo dục tôn giáo phải tùy thuộc

vào “chủ nghĩa yêu nước” theo quan niệm của ĐCSVN. Chính quyền luôn h́nh sự hóa các

sinh hoạt tôn giáo chính đáng nhưng không phù hợp với lợi ích của đảng cầm quyền.

Những điều khoản của Bộ H́nh Luật 1999 như “phá hoại chính sách đoàn kết nhà nước”,

“tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam”, “phá rối an ninh”…

luôn được bộ máy tuyên truyền nhà nước dùng để buộc tội những người tranh đấu cho

quyền tự do tín ngưỡng. Nhiều biến động trong sinh hoạt tôn giáo trong năm 2010 nằm

trong trường hợp nầy, như vụ trục xuất Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt tại Hà Nội

cũng như những phiên ṭa xét xử một số đồng bào sắc tộc theo đạo Tin Lành ở các tỉnh

Cao Nguyên Trung phần... Ngoài ra, để hạn chế sinh hoạt và ảnh hưởng của các tổ chức

tôn giáo, chính quyền dùng Luật Đất Đai 2003, để cướp đi hoặc không chịu trả lại những

cơ sở bất động sản như trường học và cơ sở y tế xă hội của các giáo hội. Vụ chính quyền

thành phố Sóc Trăng chiếm và san bằng cơ sở của các nữ tu Ḍng Chúa Quan Pḥng (the

Sisters of Providence of Portieux monastery) vào tháng 11 là một trong nhiều vụ cướp đoạt

tài sản các giáo hội trong năm 2010.

- Kiểm Soát Bằng Tổ Chức

Để dễ dàng kiểm soát các tổ chức tôn giáo, chính quyền CSVN từ nhiều năm nay đă đặc

biệt chú trọng đến việc quản lư nhân sự trong các tổ chức tôn giáo. Đối với mỗi tôn giáo,

bao giờ cũng có một “ủy ban do nhà nước thúc đẩy thành lập” và được Mặt trận Tổ quốc

giám sát thường xuyên, nhằm “phối hợp các hoạt động sao cho phù hợp với đường lối

chính trị” của chế độ. V́ thế mà có thứ “Phật giáo quốc doanh”, “Công giáo quốc doanh”,

v.v., do nhà nước lập ra nhằm khống chế các tổ chức tôn giáo. ĐCSVN vẫn tiếp tục t́m

cách gây phân hóa và nghi kỵ trong hàng ngũ các lănh đạo tôn giáo, đặc biệt trong nội bộ

Hội Đồng Giám Mục Công Giáo, nhằm “chia rẽ và cai trị” khối tín đồ các tôn giáo. Đảng

cũng xúi giục sự chia rẽ và bất đồng giữa các tôn giáo, đặc biệt giữa phật tử và người công

giáo, như vụ đất Ṭa Khâm Sứ và chùa Bảo Thiên cũng như vụ đất linh địa La Vang là

những âm mưu chia để trị mà mọi người có thể nhận ra rơ ràng.

Công tác đào tạo tu sĩ được nhà nước đặc biệt lưu tâm. Việc tuyển chọn, đào tạo, phong

chức, bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc tôn giáo đều phải xin phép nhà nước, có

được nhà nước chấp nhận th́ mới được thi hành. Ứng viên vào các chức vụ cao cấp trong

các tôn giáo phải được nhà nước cấp trung ương xét duyệt và chấp thuận th́ tôn giáo mới

được phong chức cho họ. Ngoài ra chính quyền cộng sản c̣n đào tạo riêng những cán bộ

công an đội lốt “tu sĩ” đặc biệt là tu sĩ Phật giáo, để cài vào các chùa, các tự viện ở trong

nước, cũng như tại hải ngoại với mục đích lũng đoạn hàng ngũ tín đồ tôn giáo.

Ngoài sinh hoạt thờ phượng, dạy giáo lư, đào tạo chức sắc, những sinh hoạt tôn giáo khác

như mở trường giáo dục, mở bệnh viện, làm công tác từ thiện xă hội (như cứu trợ thiên tai)

vẫn bị hạn chế. Các tôn giáo chỉ được quyền mở các trường mẫu giáo, không được thành

lập trường tiểu học, trung học, đại học (như trước năm 1975 tại miền Nam). Hàng ngàn cơ

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 13

sở thuộc các loại sinh hoạt bị hạn chế ấy đă bị nhà cầm quyền tịch thu hàng chục năm nay,

rất ít cơ sở được hoàn trả lại.

- Đàn Áp Bằng Bạo Lực

Ngoài những biện pháp ngăn chặn, hạn chế và kiểm soát tinh vi nêu trên, Chính quyền

cộng sản Việt Nam không ngần ngại dùng bạo lực vũ trang để khống chế các tổ chức tôn

giáo khi cần thiết, hoặc để dằn mặt trước, hoặc khi các biến động vượt ra ngoài sự kiểm

soát của họ. Trong những năm gần đây chính quyền lại thường dùng các thành phần “xă

hội đen” tiếp tay sách nhiễu, đe doạ và trấn áp các thành phần đối lập, kể cả đối với những

tu sĩ và tín đồ các tôn giáo như đă xảy ra ở giáo xứ Thái Hà, giáo xứ Tam Ṭa, Chùa Bát

Nhă v.v.

Trong năm 2010, việc sử dụng bạo lực đàn áp các sinh hoạt tôn giáo vẫn c̣n tiếp tục với

nhiều vụ đàn áp liên tục suốt năm. Vụ đàn áp gây nhiều tiếng vang nhất xảy ra tại giáo xứ

Cồn Dầu vào tháng 5 khi chính quyền thành phố Đà Nẳng huy động hàng trăm công an,

cảnh sát cơ động đến thẳng tay đánh đập giáo dân trong một tang lễ với ư đồ cướp đất của

giáo xứ. Cuộc đàn áp đă gây tử vong cho một giáo dân; và 34 người khác phải trốn qua

Thái Lan xin tỵ nạn. Một vụ đàn áp khác cũng gây thương tích trầm trong cho nhiều giáo

dân xảy ra đầu năm tại giáo xứ Đồng Chiêm khi cả ngàn công an với dùi cui, roi điện, lựu

đạn cay đă tới dùng ḿn phá sập cây thánh giá được giáo dân dựng trên ngọn đồi nghĩa địa

của giáo xứ. Việc sử dụng bạo lực đàn áp cũng nhằm vào các tôn giáo khác, như Phật Giáo

Ḥa Hảo qua việc bắt bớ và hành hung hàng chục tín đồ và chức sắc tại hai tỉnh An Giang

và Đồng Tháp trong những tháng đầu năm. Trong dịp Phật Đản 2010, chính quyền huy

động hàng trăm công an ch́m nổi bao vây nhiều chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

thống Nhất (the Unified Buddhist Church of Vietnam) tại một số tỉnh Miền Trung, dọa nạt

và ngăn cản phật tử vào chùa. Sự việc đặc biệt nghiêm trọng tại Chùa Giác Minh ở Đà

Nẳng khi một số tăng ni bị hành hung, phật tử bị công an c̣ng tay quăng lên xe bắt đi. Các

giáo hội Tin Lành cũng chịu chung số phận, như biến cố chính quyền bất ngờ ra lệnh cho

hàng trăm công an đàn áp các tín đồ Tin Lành để buộc họ giải tán khi họ tập trung ca hát

mừng Lễ Giáng Sinh tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. Điều cần phải nhấn mạnh

là số phận rất đáng quan ngại của các giáo hội Tin Lành tại gia (Christian house church)

của các sắc dân thiểu số ở Cao Nguyên Trung Phần, thường trực bị theo dơi, bắt bớ, và

hành hung. Rất nhiều nhà truyền đạo và tín hữu đang ngồi tù với tội danh “phá hoại chính

sách đoàn kết nhà nước” hoặc “phá rối an ninh”.

 

VI. Dân Oan: Khi Quyền Tư Hữu Đất Đai Bị Tước Đoạt Bất Công

Cho dù chính quyền cố sức đẩy mạnh các kế hoạch kỹ nghệ hóa, Việt Nam vẫn là một

nước nông nghiệp. Cuộc thống kê dân số năm 2009 cho thấy chỉ có 29,6% dân số sinh

sống tại vùng thành thị. Đất đai ruộng vườn đối với người nông dân, ngoài giá trị kinh tế

c̣n mang một ư nghĩa tinh thần vô cùng quan trọng, nối kết họ với lịch sử, ḍng tộc và

xóm làng. Đến khi chính quyền cộng sản được áp đặt lên toàn lănh thổ th́ “Đất đai thuộc

MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM / TƯỜNG TR̀NH THƯỜNG NIÊN 2010 14

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 1 Luật Đất Đai 1993). Người dân

chỉ có thể trao đổi hoặc mua bán giấy chứng nhận sử dụng đất. Việc xóa bỏ quyền tư hữu

về đất đai từ đó đă gây ra vô số oan ức bất công đối với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là

giới nông dân ở miền quê.

Với chính sách “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”, và nhờ vào nguồn

vốn viện trợ hoặc đầu tư nước ngoài, nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây đă tiến

hành nhiều chương tŕnh xây dựng hạ từng cơ sở như hệ thống đường sá, khu kỹ nghệ, khu

sinh thái du lịch, và các công tŕnh tiện ích công cộng khác. Một trong những yếu tố chính

trong các kế hoạch kinh tế đó chính là đất. Theo báo cáo mới đây của Ṭa Đại sứ Đan

Mạch, Ngân Hàng Thế giới và Ṭa Đại sứ Thụy Điển th́ trong thập niên vừa qua, có

khoảng chừng 1 triệu hecta đất nông nghiệp bị chuyển đổi qua đất không có mục đích nông

nghiệp, và trên 5 triệu hecta đất chưa sử dụng (khoảng 62% tổng số đất chưa sử dụng vào

năm 2000) đă được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau.9

Điều nổi bật đáng ghi nhận là trong khi tiến hành việc giải phóng mặt bằng, cán bộ nhà

nước cố ư phóng đại nhu cầu thực sự của kế hoạch với chủ đích là để đoạt được càng nhiều

đất càng tốt, chiếm hữu phần thặng dư không dùng, và đem bán lại cho nhà kinh doanh nào

trả giá cao nhất (với giá cao gấp 10 lần hơn giá bồi hoàn hoặc hơn nữa) và bỏ túi số tiền sai

biệt. Việc này thường xảy tại các vùng đất ph́ nhiêu được bồi đắp qua nhiều thế hệ nông

dân và đă gây những thiệt hại quá lớn lao cho giới nông dân thấp cổ bé miệng, không biết

cậy nhờ kêu cứu vào đâu. Sự tham nhũng và bất công trong việc quản lư đất đai nầy góp

phần không ít tạo nên hố ngăn cách giàu nghèo trong xă hội càng ngày càng lớn hơn.

Người giàu càng giàu thêm, và người nghèo càng nghèo đi.

Tệ trạng nầy đă xảy ra từ lâu, tuy nhiên trong những năm gần đây càng ngày càng trở nên

tồi tệ hơn. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2010, trên toàn quốc có hơn 380 ngàn lượt đơn, với

trên 110 ngàn vụ khiếu nại. So với cùng kỳ năm 2009, số đơn khiếu kiện tăng gần 30% và

số vụ việc tăng hơn 19%.10 Và số lượng đơn khiếu nại liên quan đến việc chiếm đoạt đất bất công, theo số liệu thống kê nhà nước, chiếm đến 70% các vụ khiếu nại hoặc tố cáo.11

H́nh ảnh hàng ngàn dân oan không biết tựa vào đâu lũ lượt kéo nhau về tận Hà Nội, Sài

G̣n và các thị trấn lớn trên toàn quốc để đ̣i hỏi bồi thường đất bị cưỡng chiếm để phụcvụ “mục đích phát triển” càng ngày càng trở thành quen thuộc tại Việt Nam. Họ phải ăndầm nằm dề xung quanh các công sở như Quốc Hội tại Hà Nội, hoặc các cơ quan chínhquyền khác, để tố cáo tham nhũng và bất công xảy ra cho họ, những người dân “thân cô thế cô”, và đ̣i hỏi bồi thường thỏa đáng

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

   
   

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục