DC&PT - Thời Sự 2011

 

 

Nguyễn Tấn Dũng bối rối và bất lực trong việc giải quyết

t́nh h́nh căng thẳng kinh tế- tài chánh và xă hội

 

 

Từ đầu năm đến nay t́nh h́nh kinh tế-tài chánh và xă hội càng căng thẳng: lạm pháp lên tới trên 12%, lăi suất ngân hàng vượt tới trên 20%, tiền đồng mất giá, số ngoại tệ dự trữ đă giảm tới mức nguy hiểm, trong khi ấy số nợ nước ngoài ngày càng cao, nhất là với Trung quốc. Giá cả các loại lương thực tăng cao. Từ 1. 3 giá điện tăng lên trên 15%, nhiều cây xăng đóng cửa để chờ giá mới. T́nh h́nh này khiến cho cuộc sống của nhân dân lao động đă cực khổ lại càng đói rách hơn. Ngay cả các giới trung lưu cũng lên tiếng than trách đời sống ngày càng khó khăn.

 

Trong khi ấy Nguyễn Tấn Dũng hết tổ chức hội nghị này tới hội nghị khác, từ cuộc họp với các tập đoàn và tổng công ti tới cuộc họp với các chuyên viên…,nhưng vẫn rất lúng túng không t́m được lối ra. Lúng túng v́ vẫn để các tập đoàn kinh tế nhà nước tự do lũng đoạn ngân sách và tài nguyên quốc gia. Lúng túng v́ mời các chuyên viên tới họp chỉ mang tính cách chiếu lệ nhằm đánh lừa dư luận. T́nh thế càng nguy kịch hơn nữa. Dưới đây là một số bản tin liên hệ.

 

 

_________________________

 

VN tăng lăi suất lần hai trong một tuần

 

 

Beschreibung: Beschreibung: Tiền đồng

 

Lăi suất của Ngân hàng Trung ương đă tăng từ 9% lên 12% trong chưa tới một tuần

Ngân hàng Trung ương Việt Nam đă vừa tăng lăi suất đối với các ngân hàng thương mại lần thứ hai trong mấy ngày qua để kiềm chế lạm phát.

Lăi suất cho các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng đă tăng từ 11 lên 12%, hăng tin Bloomberg trích lời một phó thống đốc ngân hàng đưa tin.

Mới tuần trước Ngân hàng Trung ương đă tăng lăi suất cho vay đối với các ngân hàng thương mại từ chín lên 11%.

Các động thái đối với lăi suất này diễn ra trong khi đồng tiền Việt Nam tiếp tục mất giá so với đô la Mỹ và giá điện và xăng đang chuẩn bị tăng đáng kể.

Bloomberg cũng trích các nguồn tin nói Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong ngày mai, thứ Tư, sẽ kư chỉ thị yêu cầu ngân hàng trung ương và các bộ thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát.

Kiểm soát giá

Lạm phát ở Việt Nam có thể sẽ tăng lên tới mức cao nhất trong ṿng hai năm qua trong những tháng tới đây.

Kinh tế gia trưởng của Ngân hàng thế giới, Deepak Mishra nói với Bloomberg:

Nếu sức ép lạm phát không sớm bị kiềm chế nó sẽ ảnh hưởng tới lương và tới giá hàng sản xuất và như thế ảnh hưởng tới tính cạnh tranh nói chung của các mặt hàng xuất khẩu.

Kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới Deepak Mishra

"Nếu sức ép lạm phát không sớm bị kiềm chế nó sẽ ảnh hưởng tới lương và tới giá hàng sản xuất và như thế ảnh hưởng tới tính cạnh tranh nói chung của các mặt hàng xuất khẩu."

Mối lo lạm phát cũng ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán Việt Nam khiến chỉ số chứng khoán có mức giảm nhiều nhất trong hai ngày trong ṿng 15 tháng gần đây.

Một quan chức cao cấp của Bộ Tài chính nói mục tiêu kiềm chế lạm phát ở dưới 7% trong năm nay sẽ khó đạt được trong khi thứ trưởng Bộ Công Thương nói giá điện sẽ tăng trung b́nh hơn 15% bắt đầu từ 1/3.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế đang thúc giục Việt Nam tập trung kiểm soát mức tăng giá cả các mặt hàng.

Trích: BBC 23.2

 

Tin đồn “NHNN sẽ phát hành đồng tiền

mệnh giá 1 triệu đồng” là vô căn cứ

 

 

 

(Chinhphu.vn) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) khẳng định không có chủ trương sắp tới sẽ phát hành đồng tiền mệnh giá 1 triệu đồng.

Hiện nay, trong nền kinh tế và thông tin trên một số diễn đàn mạng đang xuất hiện tin đồn về việc sắp tới Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hành đồng tiền mệnh giá 1 triệu đồng.

Ngân hàng Nhà nước khẳng định không có chủ trương này. Đây là tin đồn không căn cứ với mục đích xấu gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lư thị trường và người dân, gây bất ổn thị trường tài chính-tiền tệ nói riêng và an toàn kinh tế xă hội nói chung.

Ngân hàng Nhà nước đề nghị các đơn vị và cá nhân kịp thời phát hiện và báo cáo các cơ quan chức năng để kịp thời xử lư về những tạo dựng tin đồn sai sự thật làm ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế xă hội đất nước.

Văn Chính

Trích: Chính phủ 21.2

 

Lăi suất “ngất ngưởng”: cẩn thận hiệu ứng ngược

 

Cảnh Thái

 

 (VEF.VN) – Duy tŕ lăi suất cho vay ở mức 18%-20%, các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng đối phó với lạm phát. Nhưng thực tế lại có thể gây ra tâm lư e ngại đầu tư sản xuất bởi mức lăi suất quá cao, khó đầu tư có lăi. Tác giả Cảnh Thái cho rằng cần nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết sách có tầm ảnh hưởng lớn như vậy.

Lợi bất cập hại

Lăi suất cơ bản được giữ ở mức độ cao ở Việt Nam trong những năm qua nhằm đối phó với lạm phát và hỗ trợ chính sách lăi suất thực dương.

Tuy nhiên, lăi suất cơ bản có thể là nguyên nhân dẫn đến lăi suất huy động cao, lăi suất cho vay rất cao, doanh nghiệp và nền kinh tế cảm thấy sức ép lớn, quá sức chịu đựng của hoạt động sản xuất kinh doanh, gây đ́nh trệ, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Cần có các nghiên cứu sâu cả định tính lẫn định lượng nhằm hỗ trợ các nhà điều hành kinh tế vĩ mô có các quyết sách đúng đắn và chính xác trong việc ban hành các chính sách kinh tế phù hợp cho các giai đoạn phát triển của đất nước.

Doanh nghiệp khi vay ngân hàng lăi suất cao sẽ đưa chi phí vay vào giá vốn và giá bán tăng lên cao dẫn đến h́nh thành một mặt bằng giá bán hàng mới. Ai cũng thấy phản ứng của thị trường càng lúc càng nhanh trước các chính sách kinh tế vĩ mô vừa mới ban hành. Lăi suất vừa ban hành tăng lập tức giá cả hàng hóa tăng theo nhanh chóng. Giá ổ bánh ḿ, gói xôi, tô phở, giá bơm xe, giá giử xe .v.v. đều tăng gây khó khăn cho mọi người dân.

Có thể nói, ở góc độ nào đó, một doanh nghiệp đi vay với lăi suất thấp, nhờ ưu thế mối quan hệ hay tài năng xoay xở, để kinh doanh và làm ăn sẽ có cơ may bán hàng giá thấp hơn, giá cạnh tranh hơn là doanh nghiệp khác phải vay với lăi suất cao trong cùng một thị trường và sản phẩm dịch vụ.

Cẩn thận hiệu ứng ngược

Ai cũng nghĩ lăi suất tăng cao là để kềm chế lạm phát! Nhưng ...

Khi giá cả hàng hóa gia tăng khắp nơi v́ lăi suất đầu vào cao, các doanh nghiệp chưa tăng được giá bán chịu sức ép chung sẽ không giữ được giá b́nh ổn, cũng phải tăng giá theo để trang trải các chi phí trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến đầu vào của doanh nghiệp. Thậm chí, đối với các doanh nghiệp không bị áp lực tăng chi phí đầu vào cũng có tâm lư muốn đón đầu tăng giá bán, thu lợi nhuận cao hơn. Điều này có thể dẫn tới việc toàn thị trường đều tăng giá bán.

Thực tế cho thấy, giá cả hàng hóa sau Tết tăng mạnh v́ dường như đă bị kềm nén trước Tết giờ phải bung ra!


Có thể phân biệt các mặt hàng trong rổ hàng hóa, cái nào là thiết yếu, nhu yếu phẩm, các mặt hàng phục vụ sản xuất kinh doanh, các mặt hàng phụ trợ, các mặt hàng không thiết yếu .v.v và nói rằng điều nói trên chưa hẳn đúng. Nhưng chúng ta đều thấy việc tăng lăi suất cơ bản hay tăng lăi suất cho vay doanh nghiệp th́ dù muốn hay không, sớm hay muộn, doanh nghiệp vẫn phải cố tồn tại, vẫn phải tiếp tục làm hay duy tŕ bộ máy nếu không muốn đóng cửa, dẹp tiệm, th́ phải tiếp tục làm ra sản phẩm với giá bán mới.

Thực tế cho thấy sau mỗi đợt ngân hàng nhà nước tăng lăi suất cơ bản, lăi suất ngân hàng tăng theo, doanh nghiệp cố gắng giữ giá bán một thời gian để giữ uy tín và quan hệ khách hàng, sau đó không chịu nổi lâu, đều phải gửi thông báo tăng giá bán tới các bạn hàng! Chưa kể t́nh trạng được gọi là "té nước theo mưa" hay lợi dụng thời cơ ai cũng lên giá nên ḿnh tăng theo!
Đồng tiền từ thu nhập chính đáng của người dân bỗng nhiên không mua được lượng hàng hóa như trước, trở nên mất giá.
Các thành phần kinh tế không cùng ḍng chảy

Các khu vực kinh tế quốc doanh, dân doanh, nước ngoài tạo cảm giác một nền kinh tế có nhiều thành phần nhưng có các cách thức vận hành khác nhau, không "cùng chảy", thiếu tương quan b́nh đẳng, không được tạo điều kiện như nhau về "đầu vào" và "đầu ra" của nguồn vốn đầu tư và cách thức tiêu thụ sản phẩm dịch vụ.

Có hay không một nền kinh tế có các "luồng chảy" hay "mạch chảy" khác nhau, rất khác biệt về nguyên lư vận hành? Nếu nhà nước v́ một động cơ nào đó phải bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước, đưa tay cứu vớt các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, phá sản hay chi thêm tiền ngân sách cho tái đầu tư, tăng lương thưởng, dẫn đến bội chi ngân sách không hiệu quả và tăng dần hàng năm, .v.v. th́ lạm phát xăy ra sau đó là tất yếu.
Chúng ta cổ vũ cho một nền kinh tế nhiều thành phần b́nh đẳng, văn minh hay cổ vũ cho việc có nền kinh tế có nhiều "luồng chảy", nhiều "mạch chảy", hay nhiều "lớp cao thấp" khác nhau? Điều này tùy thuộc vào các chính sách kinh tế vĩ mô tương ứng.

Tinh thần doanh nghiệp có suy giảm?

Tâm lư không muốn sản xuất kinh doanh, không muốn đầu tư vào sản phẩm dịch vụ, kỹ thuật và công nghệ mà chỉ sử dụng đồng tiền quay ṿng, cho vay lấy lăi? Lăi suất hiện tại quá cao khi doanh nghiệp phải vay vốn với 18 - 20%/năm khiến ai cũng bối rối. Ai cũng nghĩ rằng có tiền hiện tại tốt nhất gửi ngân hàng, làm ăn chi cho mệt, không đủ trả lăi!

Một người bạn học ở Đức nói đất nước có nền khoa học kỹ thuật tŕnh độ bậc nhất và xuất khẩu sản phẩm công nghệ hàng đầu thế giới này rất chú trọng việc đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D). Các nhân tài khoa học kỹ thuật được trọng dụng và đăi ngộ thích đáng. Điều này khiến nước Đức có được một nền tảng khoa học kỹ thuật và công nghệ vững chắc có thể chống chọi rất tốt với các cơn "băo tài chính" hay "tiền tệ" nào.

Ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, các trường đại học ngành kỹ thuật công nghệ không c̣n thu hút được những người giỏi nhất nữa. Ưu thế đang thuộc về các ngành kinh tế tài chính, ngân hàng. Đây là vấn đề lớn thuộc về chiến lược huấn luyện, giáo dục đào tạo của đất nước.

Chính sách giáo dục đào tạo đúng sai không được xác quyết ở đây. Tuy vậy, dễ nhận ra thu nhập của các nhân viên với cùng số năm kinh nghiệm làm việc, học ngành kỹ thuật thường vất vả hơn và thời gian dài hơn, th́ có vẻ ngành tài chính ngân hàng đang có thu nhập tốt hơn nhiều so với ngành khoa học kỹ thuật hay sư phạm. Về lâu dài sẽ ra sao?

Ở góc độ kinh doanh, trong các năm vừa qua, từ 2008 trở lại đây, ta thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khủng hoảng kinh tế thiệt hại nhiều trong khi các ngân hàng luôn có lăi lớn! Điều này, thực sự không động viên các nguồn lực quốc gia vào công cuộc sản xuất kinh doanh làm ra của cải vật chất mà chỉ khuyến khích người có vốn mang tiền đi cho vay kiếm lời hay mua bán ḷng ṿng tạo ra các giá trị "ảo" như "bong bong bất động sản", "bong bong cổ phiếu" hay các cơ hội đầu tư mối quan hệ quyền lực nhóm để kiếm lời.

Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thất nghiệp?

Đây là vấn đề gây nhiều tranh căi và có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái khác nhau.
Cũng tương tự như việc nhận định liệu lạm phát có tính chu kỳ dài hay ngắn tại mỗi quốc gia, các chính sách kinh tế hiện tại nên tập trung giải quyết vấn đề ngắn hạn trước mắt hay cần đặt mục tiêu dài hạn hơn.

Giảm lăi suất có thể kích thích kinh tế, giảm thất nghiệp hay tăng lăi suất, giảm đầu tư để kiềm chế lạm phát? Lạm phát và thất nghiệp cái nào nguy hiểm hơn? Giảm phát và đ́nh trệ có nguy hiểm hơn lạm phát?

Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp có song hành hay nghịch hành?

Nước Mỹ đang lo lắng cho nền kinh tế bị thiểu phát và giảm phát nên hạ lăi suất, đưa ra các gói kích thích kinh tế, khuyến khích sản xuất kinh doanh nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp nhưng điều này có luôn đúng? Nhiều kinh tế gia nổi tiếng thế giới đă ủng hộ cũng như phản bác các chính sách này.
Trung Quốc thực thi chính sách duy tŕ đồng tiền yếu để đẩy mạnh xuất khẩu, giữ đồng Nhân dân tệ thấp, lợi dụng chi phí lao động thấp để hạ giá bán nhằm chiếm lĩnh thị phần hàng hóa toàn cầu nhưng liệu điều này có giữ được lâu?

Tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10% nhưng khó nói chất lượng cuộc sống của người dân Mỹ đă cải thiện sau khi đưa ra các chính sách hạ lăi suất và kích thích kinh tế (nới lỏng định lượng). Ngược lại, Trung Quốc cũng đang đối mặt với vấn đề chất lượng cuộc sống và môi trường ô nhiễm dù đă duy tŕ chính sách đồng tiền yếu trước giờ.

Tạm kết
Các chủ trương chính sách vĩ mô nhằm can thiệp ngắn hạn vào nền kinh tế bằng cách điều chỉnh lăi suất hay tỷ giá để giảm thất nghiệp trước mắt, hay xa hơn là tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, ... về lâu dài tác động ra sao đến các chính sách có tầm nh́n dài hạn hơn, như ổn định kinh tế vĩ mô và/hoặc chống lạm phát hay giảm phát là điều cần cân nhắc.

Có nên can thiệp từng li, từng chút trước các căn bệnh ngắn hạn của nền kinh tế bằng các mệnh lệnh hành chính hay cứ để thị trường tự điều tiết th́ sẽ có tác động tốt hơn trong dài hạn và nhà nước đóng vai người xây dựng và hoàn thiện luật kinh doanh trên cơ sở các pháp luật kinh doanh quốc tế đă được xây dựng lâu đời, hợp lư và được nh́n nhận rộng răi, hơn là chạy theo các biến động thị trường từng ngày, từng tháng.

Các nghiên cứu định tính (qualitative  study) và định lượng (quantitative  study) công phu về các vấn đề nóng và cốt tử của nền kinh tế cần được tiến hành trước khi đưa ra các tư vấn hợp lư cho các quyết sách kinh tế v́ tầm ảnh hưởng của mỗi chính sách là bao trùm trên phạm vi cả nước và khu vực, ảnh hưởng đến đời sống của mỗi người dân. Có như vậy mới có thể nhấn mạnh vai tṛ của các nghiên cứu kinh tế, tránh được t́nh trạng các chính sách ban hành đúng hay sai không rơ ràng, không có ai chịu trách nhiệm hay rút kinh nghiệm để làm tốt hơn về sau.

Khi các chính sách được đưa ra dựa trên nền tảng các nghiên cứu có tính khoa học và học thuật cao sẽ tạo được sự đồng thuận cao trong xă hội và có tính dự báo được đối với mỗi người dân và doanh nghiệp.

 

Trích: VEF VN 20.2

 

Giá điện tăng 15,28% từ 1/3

 

Trả lời báo chí chiều 19/2, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, Thủ tướng đă đồng ư tăng giá bán điện b́nh quân năm 2011 lên 15,28% so với năm 2010. Theo đó, giá điện năm 2011 sẽ tăng từ 1.058 đồng mỗi kWh lên 1.220 đồng mỗi kWh.

Như vậy mức tăng giá điện 15,28% thấp hơn rất nhiều so với đề xuất của Bộ Công thương. Trước đó, Bộ Công Thương - đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng đề án chính thức để lấy ư kiến các bộ ngành, cơ quan này cũng đề xuất 3 phương án tính giá điện năm 2011, với mức tăng 26,3 %, 18,03% và 30,3 %. Trong 3 phương án đưa ra, Liên bộ Tài chính - Công Thương thiên về phương án tăng 18%.

Hiện Bộ Công Thương đang đưa ra các phương án tính toán cụ thể biểu giá cho từng đối tượng khu vực cụ thể.

Giữa tuần qua, ông Phạm Mạnh Thắng, Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực cũng đă giải thích nguyên nhân của việc tăng giá điện lần này. Theo Cục trưởng Thắng, giá điện ở Việt Nam ở mức thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Nếu tiếp tục duy tŕ giá điện thấp sẽ không thu hút nhà đầu tư và trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ rơi vào t́nh cảnh thiếu điện. Do đó, giá điện tăng có thể khuyến khích nhà đầu tư và người dân sẽ tiết kiệm điện hơn. Phương án tăng giá điện năm 2011 đă tính đến yếu tố lạm phát và các đối tượng sử dụng như hộ sinh hoạt cũng như điện sản xuất.

Beschreibung: Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh. Ảnh: Nhật Minh

 

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh. Ảnh: Nhật Minh

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức tăng 15,28% là cao nhất từ trước đến nay nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các phương án của Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực và Hiệp hội năng lượng Việt Nam đưa ra. Theo ông Doanh, mức tăng này khá cao nhưng cũng thể hiện sự dung ḥa giữa các bên và đă tính đến khả năng chịu đựng của thị trường.

Điện tăng giá sẽ gây khó khăn cho một số ngành sản xuất và sẽ làm nhiều mặt hàng khác tăng giá theo như sắt thép, xi măng… Thêm vào đó, sắp tới, giá xăng cũng tăng sẽ khiến giá cả trên thị trường biến động. Do đó, theo ông Doanh, để cải thiện t́nh h́nh cung ứng điện th́ người sản xuất và tiêu dùng cần phải sử dụng điện một cách tiết kiệm.

Vị chuyên gia kinh tế cũng bày tỏ sự lo ngại về t́nh trạng cắt điện diễn ra sắp tới. Ông Doanh cho rằng việc tăng giá điện cùng rơi vào thời điểm cắt điện th́ EVN sẽ khó giải thích với người dân. “Người dân chịu giá cao hơn nhưng lại nhận được chất lượng dịch vụ thấp th́ họ sẽ đặt câu hỏi đâu là sự hợp lư của việc nâng giá điện”, ông Doanh nói.

Hoàng Lan

 

 Trích: VN Express 22.2

 

"Giá cả tăng, thu nhập 17 triệu cũng không c̣n đồng nào!"

 

SGTT.VN - Người trung lưu cũng khóc! Không chỉ người nghèo mà những người trung lưu đô thị cũng đang t́m cách thắt chặt chi tiêu do giá cả tăng

Ăn ḿ tôm, cơm nguội... tự chế biến cho rẻ

Beschreibung: Beschreibung: http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=132587

 

Giá cả tăng, người tiêu dùng phải tính toán nhiều trong việc chi tiêu (ảnh minh họa). Ảnh: Hồng Thái

Chị Lê Thị Loan, ngụ tại phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội giật ḿnh khi trung tâm Anh ngữ Just Kid, nơi con trai chị đang học 1 buổi mỗi tuần, vừa có thông báo nâng tiền học phí. Trước tết âm lịch, học phí là 150.000 đồng/buổi nhưng ngay sau tết, trung tâm đă thông báo tăng lên 200.000 đồng/buổi với lư do giá cả tăng, việc tăng học phí là cần thiết để đảm bảo chất lượng giảng dạy và đời sống cho giáo viên.

Đối với chị Loan, việc nâng tiền học phí của con cũng chỉ là thêm một chuyện giật ḿnh, bởi từ trước tết nguyên đán tới giờ chị đă nhiều lần giật ḿnh như vậy khi bước ra chợ mua rau, mua thịt cũng gặp chuyện tăng giá. Đến một lít dầu ăn cách đây hơn một tháng chỉ có 39.000 đồng mà tới nay chị Loan đă phải mua tới 45.000 đồng. Lấy lư do giá cả một số mặt hàng tăng, tới giờ các loại dịch vụ đều tăng giá.

“Rồi khi xăng dầu, điện lên giá th́ các thứ khác lại rầm rầm lên theo, xoay xở chi tiêu cũng đến mệt”, chị Loan than thở.

Thu nhập hàng tháng của hai vợ chồng chị Loan khoảng 17 triệu đồng. So với bạn bè th́ gia đ́nh chị có thu nhập khá, lại không mất tiền đi thuê nhà do nhà được bố mẹ cho. “Trước đây chi tiêu cho gia đ́nh 4 người, tiền sinh hoạt phí, tiền học tập của các con là ổn, mỗi tháng c̣n để ra được một vài triệu pḥng khi đau ốm. Nhưng đến giờ th́ không c̣n để ra được đồng nào. Con ốm hay ḿnh ốm là phải đi vay”, chị Loan nói.

Nếu mức độ tăng giá của lương thực thực phẩm là 19% và phi lương thực thực phẩm khoảng 6% th́ chi tiêu của các hộ gia đ́nh sẽ giảm khoảng từ 5- 10%.

Nghiên cứu của viện Khoa học lao động và xă hội về tác động của lạm phát tới nghèo đói và việc làm.

Anh Đào Văn Khắc tại phường Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội th́ thay đổi hẳn thói quen sinh hoạt. Trước đây khi phở giá 20.000- 25.000 đồng/bát th́ thỉnh thoảng buổi sáng anh có ăn phở bên ngoài; nhưng kể từ trước tết tới giờ anh toàn ăn sáng ở nhà. Ḿ tôm, cơm nguội... tự chế biến cho rẻ. “Giá cả tăng quá mà tiền đưa cho vợ vẫn thế. Thương vợ v́ chi tiêu hạn hẹp hơn”, anh Khắc chia sẻ.

Gia đ́nh anh Khắc cả hai vợ chồng là công chức, tổng thu nhập khoản nọ khoản kia khoảng 10 triệu đồng/tháng. Chi tiêu cho hai con, trong đó con lớn đang học đại học và con bé học lớp 10 đă chiếm gần một nửa tổng thu nhập của cả gia đ́nh. Có thông tin giá xăng sẽ tăng, cậu con trai anh đă t́nh nguyện đi học bằng xe buưt cho đỡ tốn tiền xăng. Bữa sáng cậu cũng chịu khó ăn thật no ở nhà để bữa trưa ở trường chỉ ăn 20.000 đồng/suất cơm cũng đỡ thấy đói. Tối về nhà lại ăn no. Với sức ăn của cậu và việc tăng giá tại các hàng cơm bụi th́ đáng ra cậu phải ăn suất 35.000 đồng mới đủ.

Bị "đánh" đau nhất là người nghèo

Beschreibung: Beschreibung: http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=132588

 

Người nội trợ ngày càng khó khăn hơn trong việc chọn lựa thực phẩm cho gia đ́nh khi giá cả leo thang (ảnh minh họa) Ảnh: Hồng Thái

Những gia đ́nh được xem là trung lưu ở Hà Nội như gia đ́nh chị Loan, anh Khắc hiện phải gồng ḿnh đón các đợt tăng giá. Hầu hết chi phí sinh hoạt gia tăng cộng dồn lại khiến họ phải đau đầu khi thấy thu nhập giảm đi trông thấy. Cách mà các gia đ́nh thường áp dụng là thắt chặt chi tiêu.

Bà Nguyễn Lan Hương, Viện trưởng viện Khoa học lao động và xă hội cho biết, cơ quan này đă thực hiện một nghiên cứu về tác động của lạm phát tới nghèo đói và việc làm cho thấy: nếu mức độ tăng giá của lương thực thực phẩm là 19% và phi lương thực thực phẩm khoảng 6% th́ chi tiêu của các hộ gia đ́nh sẽ giảm khoảng từ 5- 10%. “Hộ gia đ́nh nào càng thu nhập thấp th́ mức độ thắt chặt chi tiêu càng nhiều”, bà Lan Hương nói.

Theo bà Lan Hương, hầu hết những người trung lưu tại khu vực đô thị là những người “thuần mua”. Bởi vậy khi giá cả tăng, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, nhóm các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, giao thông công cộng... th́ những người “bị đánh đau nhất” là người nghèo, sau đó đến tầng lớp trung lưu đô thị. Phân tích trong cơ cấu chi tiêu của những hộ gia đ́nh này, có tới 70- 80% được dành cho các nhu cầu thiết yếu đó.

“Tiền lương của người lao động bao giờ cũng chậm điều chỉnh hơn so với mức độ tăng giá nên trong thực tế có thể lương danh nghĩa tăng nhưng đời sống của người lao động lại chậm được cải thiện v́ chi tiêu tăng”, bà Lan Hương nói.

Tây Giang

Trích: SGTT 19.2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

   
   

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục