DC&PT - Thời Sự 2011

 

 

 

Nhân ngày 30 tháng Tư – Nhà văn Nguyễn Quí Đức:

“Chúng ta đă chậm mất hai thế hệ để ḥa giải” !

 

Đăng Ninh

 

Ông Nguyễn Quí Đức cho rằng muốn ḥa giải với người th́ trước hết phải ḥa giải với chính ḿnh.

Nhà văn Nguyễn Quí Đức (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Nhà văn Nguyễn Quí Đức (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Nhà văn Nguyễn Quí Đức là người đă giúp rất nhiều nhà văn Việt Nam chuyển ngữ và giới thiệu các tác phẩm của ḿnh ra thế giới bên ngoài. Mặc dù đi nhiều, viết nhiều, nhưng ông xuất bản rất ít. Ông đă sang Mỹ sinh sống từ sau năm 1975. Trước đó, cha ông, một công chức miền Nam bị bắt trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 và bị giam tù 12 năm. Năm 1989 ông trở về Việt Nam lần đầu tiên và tới năm 2006 th́ về ở hẳn để mở quán café Tadioto trên phố Triệu Việt Vương, Hà Nội.

Bay Vút: Thưa ông, dưới góc nh́n của một người lưu vong sau khi trở về Việt Nam, ông nh́n vấn đề ‘mâu thuẫn dân tộc’ như thế nào?

Nguyễn Quí Đức: “C̣n tùy là nói chuyện với ai và ở thế hệ nào. Mỗi thế hệ có sự khác nhau về tầm nh́n, sự hiểu biết về câu chuyện. Có thế hệ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống thời chiến, bị va chạm với những h́nh ảnh và âm thanh họ nghe và thấy được nên họ có suy nghĩ khác. Nếu như đang sống trong thời chiến, một người thấy phi cơ ném bom xuống làng ḿnh th́ chắc chắn tư duy người này sẽ bị ảnh hưởng.

Thế hệ lớn lên sau này không phải sống trong hoàn cảnh chiến tranh nên họ có cái nh́n b́nh tĩnh và mềm mỏng hơn. Bây giờ, rất ít người ṭ ṃ về quá khứ, về chiến tranh, v́ người ta cũng mệt khi nghe chuyện này. Hậu chiến, đời sống cơm áo, gạo tiền, là đủ mệt rồi. Nhưng những người lưu vong sau 30/4 vẫn cảm thấy vương vấn về chuyện ấy, bởi v́ nó vẫn chưa được nói ra một cách thỏa đáng.

Thoạt đầu những người sang Úc, Pháp, hay Mỹ cách đây mấy chục năm chưa có một chỗ đứng vững vàng, nên họ cần một cái định nghĩa: ‘Tôi là ai’. Lúc đó, để trả lời câu hỏi này th́ đấy chính là cái quá khứ của chiến tranh, những mất mát, những tranh đấu mà họ đă từng trải qua. Và họ cho rằng đấy là điều quan trọng nhất trong con người của họ. V́ ra nước ngoài họ là một con người khác, phải sống cuộc sống và tiếp thu một nền văn hóa khác. Họ mất hẳn quá khứ đồng thời họ cũng bị bứng khỏi cái gốc rễ cội nguồn.

Sau này, khi họ tạo dựng được cuộc sống, tiếp nhận được nhiều thông tin th́ câu chuyện nó cũng có khác đi. Và khi những người trực tiếp tham chiến già đi, đến gần cái tuổi gần đất xa trời th́ họ suy nghĩ khác. Cái quan trọng đối với họ bây giờ là về lại nơi họ đă sinh ra, lớn lên. Một số muốn trở về để chết trên mảnh đất quê hương.

Mâu thuẫn khó khăn nhất của Việt kiều là ở trong nước vẫn không công nhận cái thể chế miền Nam là một chính phủ. Chính quyền hiện nay có thể không c̣n gọi họ là “ngụy” nữa nhưng đồng thời cũng không gọi là ‘Chính phủ miền Nam’. Thực ra, những người này vẫn có những thể chế, những niềm tin và lư tưởng, chứ họ không phải là những người chạy theo Mỹ, để bị gọi là ‘phản quốc’.

Có nhiều người miền Bắc nói với tôi rằng người lính VNCH là những người phản bội Tổ quốc. Khi nghe như vậy tôi cũng không biết giải thích ǵ với họ. Do đó, cũng khó mà nói chuyện. Những người trẻ tuổi hơn th́ nói họ mệt chiến tranh lắm rồi, họ muốn ô tô, vật chất và của cải, họ muốn tương lai. Đấy là sự khác biệt rất lớn: những người nước ngoài về th́ muốn t́m quá khứ, nguồn gốc, c̣n người ở trong nước th́ muốn hướng tới tương lai giàu có, vinh quang”.

Bay Vút: Ḥa b́nh lập lại, có thể thấy số phận những người lính VNCH rất cơ cực và phải nói là bi đát. Nhưng cho tới tận thời điểm này, t́nh h́nh cũng vẫn vậy, nhất là về mặt tinh thần. Mỗi năm vào các dịp kỷ niệm chiến thắng này kia, có lẽ họ sẽ rất buồn khi xem tivi hay đọc những bài báo viết về dịp 30/4?

Nguyễn Quí Đức: “Tôi nh́n nhận chuyện này ở một phạm vi rộng hơn và ở dưới góc độ văn hóa. Nếu tôi là người chiến thắng và nếu tôi là người tự trọng, tôi tự biết tôi là ai th́ tôi chẳng cần phải chê bai người khác, hạ bệ người khác để tôi được hay ho hơn. Cái tâm lư miệt thị một người khác chính là cái tâm lư muốn tự đề cao ḿnh lên, trong khi bản chất của sự việc th́ chẳng cần phải thế”.

Bay Vút: Có cảm giác phía bên này vẫn coi phía bên kia là những đứa con “hư” của dân tộc, nhưng các cụ ta có câu “con hư th́ vẫn là con của mẹ”. Có lẽ chúng ta cần có cái nh́n nhân ái và bao dung hơn nữa, ông có thấy vậy không?

Nguyễn Quí Đức: “Tất nhiên là có. Chúng ta cần có thời gian để sự việc tự nó lắng xuống và qua đi, để có sự độ lượng. Bất cứ chính quyền nào cũng vậy, để bảo vệ chỗ đứng của ḿnh, th́ phải tự đề cao ḿnh lên và đặt ra cái chỗ đứng thấp kém cho một người khác. Nhưng nếu họ vững tâm hơn, và nếu họ có cái lư chính đáng th́ họ sẽ không cần cái đấy nữa.

C̣n với người dân hằng ngày th́ cái nỗi đau của ông bộ đội miền Bắc cũng giống nỗi đau của người mẹ miền Nam mất con. Chúng ta đă quên rằng đấy là nỗi đau chung. Về vấn đề này nói theo tinh thần nhà Phật hay Thiên Chúa giáo th́ bao giờ cũng cần cái sự độ lượng, mà độ lượng th́ bây giờ đúng là cái xa xỉ. Tôi nghĩ phải mất thêm một thời gian nữa th́ chuyện này mới có thể êm xuôi”.

Bay Vút: Bài học từ Đông Đức và Tây Đức năm 1989 khi bức tường Berlin sụp đổ, người dân hai miền đă ôm chầm lấy nhau và họ coi nhau là người Đức chứ không c̣n Đông hay Tây. Nhưng một số chính trị gia Tây Đức lại không coi như vậy mà vẫn có những quan ngại và định kiến về phía bên kia. Do vậy, tiến tŕnh ḥa giải dân tộc đă bị chậm mất một, hai thế hệ. Việt Nam dường như cũng đă mắc phải sai lầm đó, và chúng ta đă chậm mấy thế hệ và liệu c̣n phải chậm mấy thế hệ nữa thưa ông?

Nguyễn Quí Đức: “Đấy là điều đáng tiếc. Theo tôi thấy th́ Việt Nam đă chậm mất hai thế hệ và có lẽ t́nh trạng này sẽ c̣n kéo dài thêm. Có một số dấu hiệu đang thay đổi, và tôi nghĩ đến một lúc nào đó vấn đề ḥa giải sẽ tự mất đi. Bây giờ thế hệ trẻ trong nước ít người quan tâm đến chiến tranh hay mâu thuẫn, c̣n thế hệ người Việt trẻ ở nước ngoài th́ v́ được sống trong một môi trường giáo dục, văn hóa khác nên họ cũng không quan tâm đến nó. Những người lính già rồi cũng sẽ chết đi. Khi già th́ họ sẽ có cái nh́n trầm tĩnh hơn. Những bức xúc đau khổ về những người cần ḥa giải sẽ được nh́n nhận b́nh tĩnh hơn.

Tôi chỉ mong Nhà nước tự tin hơn, can đảm hơn để chấp nhận mọi thứ. Bây giờ Việt kiều về đây giúp tài chính, kỹ thuật. Nhưng cùng lúc đó ông ấy lại mang về những niềm tin, ư tưởng về dân chủ của cái xă hội khác. Đất nước có đủ niềm tin cho người ta có tiếng nói hay không? Do đó rất dễ hiểu là những người Việt kiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa là những người không được Nhà nước tin tưởng nhiều lắm.

Như tôi đây, khi trở về nước tôi đâu có xin visa làm báo chí được. Do đó vấn đề ở đây là: ḿnh yêu đất nước nhưng đất nước có yêu ḿnh không. Nhưng tôi không v́ thế mà chống đối. Tôi về tạo dựng công ăn việc làm với quán café này, mang một cái thái độ ứng xử với mọi người khác nhau. Nhưng sau một thời gian sống ở đây th́ tôi cảm thấy con người không c̣n cái tinh thần cộng đồng như trước nữa. Mọi người mệt nhọc quá. Họ chỉ muốn vật chất, giành giật nhau, chạy xe lỡ va quệt là đánh nhau.

Nhưng tôi lại thấy có những mâu thuẫn khác phát sinh. Ví dụ những người trẻ bây giờ được đi ra ngoài du học, tiếp nhận những ư tưởng mới và khi trở lại họ có được áp dụng và chấp nhận hay không? Đó lại là một chuyện khác. Đấy không c̣n là khác biệt v́ chiến tranh, mà đấy là vấn đề liên quan tới tư tưởng của thể chế.

Lấy bài học từ chiến tranh, tôi cho rằng với những người như thế th́ khi họ về nước họ có làm được ǵ hay không, có áp dụng được ǵ hay không. Hay là v́ sống trong một môi trường đầy cạm bẫy như ở Việt Nam th́ họ có trở nên ‘hư hỏng’ hay không. Tôi gặp những người ở độ tuổi 30 sau khi đi học ở nước ngoài về bị bất đắc chí, họ chán nản. Ở tuổi 30 họ chẳng c̣n cái lư tưởng nào để sống và làm việc. Một số ít th́ lập nghiệp chính bằng sự quen biết, tiền bạc”.

Bay Vút: Quá khứ là một điều không dễ ǵ quên, đặc biệt với bối cảnh chiến tranh ở Việt Nam giữa hai miền Nam – Bắc. Nhưng khi ḥa b́nh lập lại, điều quan trọng là cách những người c̣n sống hành xử với nhau thế nào với nhau, đối xử ra sao với những người đă khuất. Theo ông, thế nào là cách hành xử có văn minh và ḥa hợp với nhau nhất?

Nguyễn Quí Đức: “Tôi nghĩ cách hành xử văn minh nhất chính là im lặng. Tôi đặt ngược câu hỏi lại là nếu người miền Nam thắng cuộc th́ người miền Nam viết sử như thế nào về người miền Bắc? Có tắm máu, có độ lượng, có thù hằn ai không? Tôi nghĩ là sẽ có, tệ hại hơn hay không th́ chưa biết.

Ngày trước tôi đi làm phóng sự về một lính Mỹ giết một người lính Việt Cộng [quê] ở Thái B́nh. Về sau người này t́m lại được hài cốt và mang trả lại cho gia đ́nh người đă khuất. Trên đường đi làm phóng sự, khi tôi ngồi trên xe th́ có ông lính người Bắc nói thao thao bất tuyệt về người lính miền Nam và cho rằng lính miền Nam rất man rợ, độc ác. Tôi ngồi nghe và lặng im chẳng nói ǵ v́ chẳng biết nói ǵ lúc này cả. Về sau có người về kể lại với cái ông lính người Bắc ấy câu chuyện về gia đ́nh tôi. Sau khi nghe ra, ông ấy gửi lời nhắn mời tôi về nói chuyện với thái độ rất nhă nhặn và hài ḥa.

Mỗi năm không biết bao nhiêu chương tŕnh trên các đài truyền h́nh nói về các trận chiến này, trận chiến kia. Các chương tŕnh vẫn đều nói cùng một giọng điệu, vẫn một kiểu nói rằng con người miền Nam là con người xấu xa, tàn ác… Tại sao người trong nước là người thắng cuộc, thường dễ tha thứ cho người ta hơn, lại không làm được điều ấy?

Như bố tôi đi tù 12 năm, giờ tôi hận thù th́ cũng chẳng đ̣i được 12 năm ấy. Cái ǵ qua rồi th́ đă qua rồi. Đ̣i hỏi ḥa giải nằm ở chính ḿnh trước, đường hai chiều bắt đầu từ một chiều”.

Đ.N.

Nguồn: http://bayvut.com.au/nhịp-sống/nhà-văn-nguyễn-quí-đức-“chúng-ta-đă-chậm-mất-hai-thế-hệ-để-ḥa-giải”

Trích: Bauxite VN 30.4

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

   
   

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục