|
|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Tuyệt
đối hoá một tư tưởng, tư tưởng khác sẽ tháo lui
Hoàng NgỌc HiẾn
Dành đặc quyền, tuyệt
đối hoá một tư tưởng (tức là vi phạm quan điểm vô ý) thì những tư tưởng
khác sẽ chảy ngược trở lại, sẽ tháo lui; tư tưởng được tuyệt đối hoá sẽ
trở thành độc tôn, tự nó sẽ tạo ra hệ thống cho nó, từ đó trở thành trường
phái, bè phái.
Minh
triết tam giáo trong văn hoá Việt
Thử bàn về "tứ
vô" của Khổng Tử
Phan Bội Châu đặc biệt quan
tâm đến tư tưởng "vô ngã" của Khổng Tử (xem Khổng học đăng,
thượng thiên về "Luận ngữ trích lục diễn giải"). Hải Lượng
(pháp danh của Ngô Thì Nhậm) trong viêc đánh giá Hàn Dũ (tự xưng là Hàn
Xương Lê) lấy "tứ vô" của Khổng Tử làm chuẩn: "Đồ đệ bạch
với thầy (Hải Lượng) rằng: Xương Lê đã đến bậc nhất của phù đồ chưa? Thầy
đáp: Mới đến bậc ba, bậc bốn. Xương Lê cũng theo ý và tất, chẳng bằng
"vô ý", "vô tất" mới thật tốt" (Ngô Thì Nhậm,
"Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh").
Luận ngữ, chương IX, tiết 4 có câu: "Tử tứ tuyệt: vô
ý, vô tất,vô cố, vô ngã", được Nguyễn Đức Lân dịch nghĩa là:
"Phu tử có bốn điều tuyệt nhiên không mắc phải:...". Hiểu như
thế nào đây "vô ý", "vô tất", "vô cố",
"vô ngã"?
Tôi thiên về cách hiểu, phân
tích, diễn nghĩa của François Jullien [1]. Những ý kiến được trình bày dưới đây chủ yếu được
tham khảo từ công trình của F.Jullien đươc dẫn ở chú thích 2.
Vô ý không có nghĩa là
không có ý kiến mà có nghĩa là: không có ý kiến nào được dành đặc
quyền, được tuyệt đối hoá khiến cho ta không nhìn thấy những điều hợp
lý,khả thủ của những ý kiến khác, kể cả những ý kiến đối lập.
Vô tất có nghĩa là không định trước những điều thế tất, ắt
phải như thé này, ắt phải như thế kia, không áp đặt những mệnh lệnh
tất phải thế này, tất phải thế kia.
Vô cố có nghĩa là không cố chấp một quan điểm nào, một lập
trường nào.
Vô ngã là muốn nói không có một cái ngã đặc biệt.
Có liên quan mật thiết giữa 4
cái vô.
Dành đặc quyền, tuyệt đối hoá
một tư tưởng (tức là vi phạm quan điểm vô ý) thì những tư tưởng khác sẽ
chảy ngược trở lại, sẽ tháo lui; tư tưởng được tuyệt đối hoá sẽ trở thành
độc tôn, tự nó sẽ tạo ra hệ thống cho nó, từ đó trở thành trường phái, bè
phái. Để duy trì địa vị độc tôn, để đối phó với những tư tưởng khác, nó
buộc phải định trước những sự tất yếu (không tránh khỏi phiến diện) và
đưa ra những mệnh lệnh chủ quan (vi phạm quan điểm vô tất).
Tư tưởng độc tôn dẫn đến sự cố
chấp trong quan điểm,lập trường(vi phạm quan điểm vô cố). Tư tưởng độc
tôn,cố chấp quan điểm, lập trường cùng với những thành kiến ,định kiến cố
hữu tạo ra một cái tôi (ngã) đặc biệt (moi particulier). Cái tôi đặc biệt
là cái tôi khép kín trong sự phiến diện, bị định hình một cách cứng nhắc,
không mở ra được đặng khai thông với những mặt khác của thực tại, của cuộc
sống, của nhận thức... bao giờ cũng vô cùng sinh động và phong phú.
Vô ý, với ý nghĩa là không
tuyết đối hoá một tư tưởng nào,quan tâm đúng mực mọi tư tưởng (cũng
như mọi phương diện, mọi khả năng của thực tại) là một tư tưởng cơ bản trong
minh triết của K.T. Quan tâm đúng mực mọi tư tưởng giống như mở ra mọi
cánh cửa, thấy được mọi ngả dường. Còn như tuyệt đối hoá một tư tưởng thì
giống như có một cánh cửa được mở toang ra nhưng những cánh cửa khác thì
bị khép lại, có thể nhìn xa hơn, thấy rộng hơn theo một ngả đường nhưng
trả giá cho lợi thế này có khi là sự mù trước những ngả đường khác.
Vô ý không có nghĩa là không
có ý kiến, không có tư tưởng;quan điểm vô ý ngăn ngừa sự độc quyền
hoá cuả một tư tưởng. Câu nói của K.T. "Quân tử chu nhi bất tỷ,
tiểu nhân tỷ nhi bất chu" (Luận ngữ ,II,14) được F.J. hiểu
như sau: "Người quân tử bao quát tổng thể, không thiên vị một
phía nào, kẻ tiểu nhân thì ngược lại", (bản dịch của Đ.T.C: "Bực
quân tử xử được với tất cả mọi người vì chẳng có lòng tư vị, kẻ tiểu nhân
vì tư vị cho nên chẳng xử được với mọi người"). Trong Kinh Dịch
về quẻ Càn có câu: "Kiến quần long vô thủ, cát". Dịch:
Thấy bầy rồng không có đầu, tốt (6 vạch ngang liền nét đều ngăn ngắt
trong hình tượng quẻ Càn được hình dung như một bầy rồng không đầu).Vương
Phu Chi (1619-1692) đã bình giảng câu này theo quan điểm vô ý của
K.T. Bầy rồng không đầu có nghĩa là không có con rồng nào có đầu nhô ra,
thòi ra, nổi hơn những con khác.
Những con rồng được coi trọng
ngang nhau, có nghĩa là những ý kiến, những tư tưởng, những phương diện
khác nhau của thực tại được coi trọng ngang nhau. Như vậy cách nhìn minh
triết là cách nhìn bao quát, thấy được và quan tâm mọi mặt,mọi khả năng của
thực tại, không vì thiên lệch một phía mà ngoảnh lưng với những phía
khác. Nhưng vô ý không có nghĩa là không dấn thân, không đứng
về phía nào (trong hành động).
Người minh triết quyết định dấn
thân, đứng về phía nào, chọn khả năng nào là do đòi hỏi của tình thế, chứ
không xuất phát từ những giáo điều có sẵn định trước phải gạt bỏ khả năng
này, phải chạy theo khả năng nọ, phải ủng hộ phía này, phải chống lại
phía kia... Để làm sáng tỏ tư tưởng này tác giả dẫn câu nói của K.T.:
" Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mạc dã, nghĩa chi dữ tỷ"
(Luận ngữ, IV, 10) mà Đ.T. còn dịch là: "Bực quân tử
làm việc cho đời, không có việc gì mà người cố ý làm, không có việc gì
người cố ý bỏ, hễ hạp nghĩa thì làm" (tôi tô đậm.H.N.H.);
bình giảng câu này, F.Jullien có nêu lên một nghĩa cổ của chữ nghĩa
là: đòi hỏi của tình thế và ông đã giảng hạp nghĩa là hạp với đòi hỏi
của tình thế (chúng ta có thêm một cứ liệu ngôn ngữ học để hiểu chữ nghĩa
của Khổng giáo).
Như vậy, người minh triết không phải là không có chủ
kiến, duy có một đièu đây không phải là chủ kiến có sẵn, được định trước
cho mọi khả năng, mọi tình thế, mà đây là chủ kiến được đề ra từ những
đòi hỏi của tình thế (cụ thể). Có thể hiểu rõ hơn quan điểm vô ý qua lời
bàn sau đây của một nho gia: "Khi cần giàu thì giàu và khi cần nghèo
thì nghèo, khi cần sống thì sống và khi cần chết thì chết". Như vậy,
giàu hay nghèo, sống hay chết là những khả năng được coi trọng ngang
nhau, chọn khả năng nào là tuỳ theo đòi hỏi của tình thế, người minh triết
không cố chấp hoặc gạt bỏ trước (a priori) bất cứ khả năng nào.
Trong Luận ngữ (XVIII,
8) K.T. có phân biệt ba loại thánh nhân. Họ đều bỏ công danh phú quý, đi ở
ẩn nhưng họ có những phong độ ứng xử rất khác nhau. Loại thứ nhất như Bá
Di, Thúc Tề "chẳng khuất chí mình, chẳng nhục thân mình"
[bất giáng kỳ chí, bất nhục kỳ thân], không thể chê trách vào đâu cả; loại
thứ hai như Liễu Hạ Huệ, Thiếu Liên, kém hơn, "phải khuất chí
mình, phải nhục thân mình".
Tuy vậy, lời nói của họ
"hợp luân lý" [ngôn trúng luân], việc làm của họ "hợp
lòng mong nghĩ của dân" [hành trúng lự]; loại thứ ba như Ngu Trọng,
Di Dật "ở ẩn nơi xa vắng và ăn nói rất tự do, phóng túng" [ẩn
cư, phóng ngôn]nhưng "giữ mình đúng lẽ thanh khiết và biết bỏ phế
đúng lẽ quyền biến" [thân trúng thanh, phế trúng quyền] (điều
đáng chú ý là ngay ở loai thứ hai và loại thứ ba, trong phong
độ có những chỗ có thể chê trách K.T. vẫn nhận ra ở họ sự chân
chính và những phẩm giá đáng trọng, vẫn xem họ là thánh nhân).
Sau khi nêu ba loại thánh nhân và không sắp mình vào một loại nào,
K.T. hạ một câu: "Còn ta thì khác ở chỗ chẳng có gì là được hoặc
không được" - tức là chẳng có gì là thích hợp với ta hoặc
không thích hợp với ta [Ngã tắc dị ư thị vô khả, vô bất khả] (tôi
tô đậm.H.N.H.).
Trong ba loại người nói trên
loại thứ nhất và loại thứ hai là hai thái cực đối lập với nhau, loại thứ
ba xem như nửa này, nửa kia.K.T. không thuộc về loại thứ nhất, chẳng thuộc
về loại thứ hai, càng không phải là loại thứ ba. Tử có thể là loại người
này cũng như có thể là loại người kia, đó là tuỳ theo tình thế. Tử
không phải là người cố chấp, cũng chẳng phải là người không cố chấp. Vì
chưng Tử có thể cố chấp như những người cố chấp nhất, khước từ mọi sự
nhân nhượng mà cũng có thể thoả hiệp hoàn toàn với người đời, miễn sao có
cơ giúp ích cho đời. Người minh triết là người "không định ra được
phẩm chất" (sans qualification) với ý nghĩa là không có phẩm chất
như là thuộc tính "cố hữu", "bản chất", "bất biến",
mà có phảm chất này hay phẩm chất kia là do đòi hỏi của tình thế.
Ở Khổng Tử đức thời trung
là đức hạnh của mọi đức hạnh
Về đức hạnh của Khổng Tử,
Mạnh Tử nói: "Lúc nên (khả dĩ) làm quan thì làm quan. Lúc nên (khả dĩ)
bỏ chức thì bỏ chức. Cần (khả dĩ) làm quan lâu thì làm quan lâu. Cần (khả
dĩ) ra đi gấp thì ra đi gấp. Đó là cái hạnh của đức Khổng vậy" (Khả
dĩ sĩ, tắc sĩ. Khả dĩ chỉ, tắc chỉ. Khả dĩ cửu tắc cửu. Khả dĩ tốc, tắc tốc.
Khổng Tử dã.), (Mạnh tử,. II,A, 2).
Cái khả dĩ gắn với tình thế
(cụ thể) và tình thế gắn với thời điểm (moment). Cái khả dĩ
(possible) đồng thời là cái chính đáng (légitime) vì phù hợp với
tình thế (cụ thể) và thời điểm, tức là phù hợp với thời và thế.
Tiêu chuẩn của tính chính đáng cũng như của những phẩm chất đạo đức khác
gắn một cách nội tại với tình thế và hoàn cảnh cụ thể. Cái chính đáng (vốn
gắn với tình thế cụ thể) được đề lên thành quy tắc khái quát chung cho mọi
tình thế không tránh khỏi trở thành vũ đoán. Đã đành người minh triết
không chấp nhận những tư tưởng cá biệt quá (gắn với cái ngã đặc biệt) mà
những tư tưởng khái quát quá cũng không tin vì loại tư tưởng này không
tính đến đặc điểm của mỗi thời, sự khác biệt giữa những thời khác nhau.
Minh triết có nhiều phương diện,
biểu hiện ở nhiều đức tính. Có người là bậc thánh về phương diện này, có
người là bậc thánh về phương diện nọ... Như nhận định của Mạnh Tử "ông
Bá Di là bực Thánh có dức thanh khiết (Bá Di thánh chi thanh giả
giã), ông Y Doãn là bậc thánh có đức trọng nhiệm (YDoãn thánh chi
nhiệm giả giã), ông Huệ xứ Liễu là bậc thánh có dức ôn hoà (Liễu Hạ
Huệ thánh chi hoà giả giã). Đức Khổng tử có đức thời trung
(Khổng tử thánh chi thì giả giã "(tôi tô đậm.H.N.H.)". (Mạnh
tử,V,B,1).Đức thời trung (chữ của Đoàn Trung Còn) là
cái đức tuỳ theo thời và thế mà thanh khiết như Bá Di hoặc trọng nhiệm
như Y Doãn hoặc ôn hoà như Liễu Hạ Huệ... Như vậy K.T. không phải là sự
hiện thân của một nét "nhất thành bất biến" nào của minh triết
mà tuỳ thời, tuỳ tình thế (cụ thể) K.T. thực hành phương diện
này hay phương diện nọ của minh triết. Nhấn mạnh sự tập đại thành nhiều đức
tính ở Khổng tử có thể che lấp đức thời trung ở Tử. Kết luận
rằng Khổng Tử có đủ mọi đức tính không quan trọng bằng nhận định Khổng Tử
đúng thời, đúng lúc (thời trung) thực hiện đức tính này hay đức
tính nọ. Ở Khổng Tử đức thời trung là đức hạnh của mọi đức hạnh.
Tuỳ thời thế chọn khả năng
Bản thể là một khái niệm cơ bản của triết học phương Tây.
Minh triết phương Đông không phải không biết đến bản thể nhưng mối quan
tâm chủ yếu của minh triết là quá trình. Trung dung là tâm pháp để
đièu tiết các quá trình.Mỗi quá trình trong sự tự tại của nó có sự tự
điều tiết. Trung dung là sự gia công vào sự tự điều tiết này và phải dựa
vào nó. Ý kiến của Mạnh Tử phê phán thái độ chấp trung, thái độ chấp nhất
hết sức quan trọng để hiểu tinh thần của trung dung.
Mạnh Tử nói rằng: "Dương
Tử giữ lấy chủ nghĩa vị ngã, tức là chủ nghĩa của kẻ chỉ chuyên lo cho
mình mà thôi. Dẫu nhổ một mảy lông trên mình mà lợi ích cho cả thiên hạ
ông cũng chẳng chịu làm.
Mặc Tử thi hành chủ nghĩa
kiêm ái, thương tất cả mọi người như mình. Dẫu mòn nát tấm thân từ đỉnh dầu
cho chí gót chân, mà có lợi ích cho cả thiên hạ, ông ấy cũng vui lòng hy
sinh.
Tử Mạc bảo thủ chủ nghĩa
chấp trung, cốt giữ cho vừa vặn phần mình và phần người. Chủ nghĩa chấp
trung gần với dạo lý. Nhưng nếu chấp trung mà chẳng biết quyền biến, chẳng
biết tuỳ nghi mà hành động cho hợp thời, như vậy cũng như chấp nhất, tức
là khư khư câu nệ một bề vậy thôi. Ta sở dĩ chán ghét kẻ chấp nhất, là vì
kẻ ấy cố giữ ý kiến làm hại đạo lý. Kẻ cử động theo một bề thì bỏ hỏng
cả trăm bề" [H.N.H.tô đậm] (Mạnh
tử. VII, A.26).
Như vậy chấp trung là đứng ở
giữa hai thái cực đối nghịch (vị ngã cực đoan và kiêm ái tột độ).
Hiểu như vậy, chủ nghĩa chấp trung gần với quan niệm của Aristote về đạo
đức: đức hạnh là trung độ đúng mực (juste milieu) ở giữa hai tính
trái ngược, giữa sự bất cập và sự thái quá, chẳng hạn như can đảm
là trung độ đúng mực (juste milieu) giữa sự nhút nhát (bất cập) và sự táo
tợn (thái quá). Mạnh Tử không chê trách chủ nghĩa chấp trung ("...chấp
trung gần với đạo lý").
Tuy nhiên nếu như chấp trung chỉ
thiên về giữ trung độ cho đúng mực, loại trừ bất kỳ sự thái quá nào
thì như vậy là trái với tinh thần của trung dung. Bởi vì trung dung không
có nghĩa là nửa vời, lưng chừng, không nóng không lạnh... Trung dung có
khi đòi hỏi sự nỗ lực, sự hy sinh cao nhất, chấp nhận những nỗi đau lớn
và những niềm vui tràn trề... Thông thường trung dung là mức độ trong sự
nghiêm khắc nhưng cũng có khi trung dung cho phép một sự nghiêm khắc tột
độ, nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn. Không chê trách thái độ chấp trung, MạnhTử
bài bác gay gắt thái độ chấp nhất: Sở ố chấp nhất giả, vị kỳ tặc đạo
giã (Ta sở dĩ chán ghét kẻ chấp nhất, là vì kẻ ấy cố giữ ý kiến thiên lệch
làm hại đạo lý). Chấp nhất là "chấp trung mà chẳng biết quyền biến,
chẳng biết tuỳ nghi mà hành động cho hợp thời", là "khư khư câu
nệ một bề vậy thôi".
Như vậy chấp nhất là khư khư
bám lấy một trung điểm, không dám chênh về phía này hoặc lệch về phía
kia, có nghĩa là trong xử sự chỉ tính đến một khả năng,tự trói mình vào một
khả năng.Và như vậy, nói như Mạnh Tử,là "cử động theo một bề (một khả
năng)"mà "bỏ hỏng cả trăm bề (trăm khả năng)". Theo đúng
tinh thần của Khổng - Mạnh, trung dung là đứng giữa (chứ không phải là
khư khư bám lấy một trung điểm) và tự dành cho mình quyền tính đến và lựa
chọn trong cả trăm khả năng, kể cả quyền đi tới cùng phía thái cực này hoặc
phía thái cực kia. Lựa chọn khả năng nào là tuỳ theo thời và thế.
[1] Xem F.Jullien , "Minh triết phương Đông và
Triết học phương Tây", bản dịch của Nguyên Ngọc, bài "Thay
lời giới thiệu" của Hoàng Ngọc Hiến , N.x.b. Đà Nẵng, 2003
Trích: Tuần VN 20.2
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|