|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Về Tổ quốc và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Tiêu
Dao Bảo Cự
Anh Nguyễn Xuân Phước thân
mến,
Tôi đã đọc bài viết của anh
“Bàn về khái niệm “Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa” của người cộng sản Việt Nam” trên mạng. Anh cũng đã có nhã
ý gởi riêng tặng tôi và “những người đã hi sinh tuổi xuân của mình cho tổ
quốc”. Điều đó đã gợi cho tôi những suy tư nên tôi viết bài này, với mục
đích góp thêm vài suy nghĩ về nhận định của anh.
Phải nói ngay rằng tôi tán
thành phần lớn những phân tích của anh, trên phương diện lý thuyết, căn
cứ vào những câu chữ đã trích dẫn. Tôi không có ý phản biện, nhưng ở đây
tôi nêu lên những điều thực tế để bổ sung và góp phần soi sáng vấn đề anh
đã đưa ra.
Định nghĩa chung về tổ quốc
nhiều người đã nêu và có lẽ không có mấy dị biệt từ đông sang tây. Gắn
liền và bao hàm trong khái niệm về
tổ quốc có quốc gia, dân tộc, đất
nước, quê hương, lịch sử. Quốc gia có ý nghĩa pháp lý về tổ chức nhà
nước, dân tộc nặng về con người đồng chủng, đất nước nhấn mạnh đến mặt
địa lý, quê hương thiên về tình cảm đối với nơi sinh ra và lớn lên, lịch
sử gắn liền với quá khứ… Đôi khi người dân hay trong văn học nghệ thuật,
người ta dùng lẫn lộn hay thay thế nhau những khái niệm này nhưng rất ít
ai dùng tổ quốc để chỉ chế độ chính trị, trừ sự áp đặt cố tình của những
người cầm quyền độc đoán.
Năm 1966, tôi viết bài thơ
xuôi “Đoản ca trại giam và trường học” có những đoạn sau đây:
… Chung quanh các em, chung quanh chúng tôi , chung quanh chúng
ta là biên giới rừng núi bãi cát thép gai sắt máu khói lửa, không như
đường dấu cộng các em vẽ trên bản đồ. Quê hương không còn là bình nguyên
xanh tươi, thành phố phồn hoa, cao nguyên hiền lành, sông ngòi quanh co
trù phú. Quê hương đã mọc đầy loài dây leo mắt gai lởm chởm, quê hương là
trận địa tàn sát đồng bào, quê hương là bar- restaurant xanh vàng đỏ tím.
… Các em là người
Việt, chúng tôi là người Việt. Các em ngây thơ vui đùa, chúng tôi tù đày
cằn cỗi. Rất ít kẻ tự nguyện làm phân bón một cách khôn ngoan sáng suốt.
Tôi rời chấn song và viết những điều này bên cạnh mấy thùng nước tiểu bốc
mùi khai nồng nặc.
… Tôi vừa nhìn các em qua hình dây thép gai ô
vuông méo mó dựng trên bức tường rêu mốc loang lỗ. Buổi sáng các em đi
học về lẻ loi một vài người, mỗi bước chân các em di chuyển qua một ô
vuông thép gai chiều ngang trong khi những ô vuông chiều dọc vẫn tiếp tục
đan lên các em thành đường hằn gai
nhọn qua đầu qua thân qua ngực. Tôi nhìn các em như người thợ vẽ nhìn bức
chân dung có gạch ô vuông để vẽ lại, nhưng ô vuông của tôi thì xô lệch
gai nhọn rét rỉ, nhưng chân dung của các em thì hiền hòa, thì tuổi trẻ,
thì bình an hiếm hoi của quê hương.
… Tôi nhìn các em qua phạm trù của tôi, thứ phạm trù thuộc loại ô
vuông thép gai và lỗ tròn ổ khóa. Trước mắt tôi không còn khoảng không
trong suốt để nhìn thẳng nhìn rộng nhìn xa nhìn dài. Chỗ đứng của tôi
không có cơ hội để nhìn gần nhìn sát nhìn sâu vào môi vào mắt vào châu
thân.
Quê hương đã dành cho tôi, cho nhiều người khác chỗ đứng mới. Tôi
muốn xứng đáng, quả thật xứng đáng với chỗ này tù đày rách rưới. Các em
biết không?
… Quê hương chỉ còn có tuổi trẻ. Tuổi trẻ đang vỡ bờ nơi các em và
hiện tại tương lai đang đưa các em vào nơi lâm nguy vô phương cứu chữa.
Căn bệnh đã tràn lan khắp nơi với hàng trăm thứ vi trùng bên ngoài bên
trong chia nhau đục khoét. Chúng tôi đã nỗ lực để tự cứu và thề sẽ đi đến
cùng đường dù bằng tù đày xương máu.
Đó là lúc tôi 21 tuổi, học
năm thứ ba đại học và đang nằm sau song sắt nhà giam để suy tư về quê hương, đất nước, tổ quốc
một cách cụ thể và đầy cảm xúc. Tôi đã viết bài thơ trên giấy bao xi măng
dùng để lót nằm trên sàn nhà ẩm ướt băng giá của một mùa đông xứ Huế lạnh
buốt xương da.
Cùng thế hệ với tôi vào
thời điểm lịch sử đó, hàng vạn thanh niên sinh viên học sinh xuống đường
để đấu tranh cho độc lập, hòa bình, tự do của tổ quốc. Họ hát những bài
ca đớn đau, hùng tráng hay hi vọng về quê hương đất nước. Có thể trích dẫn
một số bài hát sau đây trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”
của những nhạc sĩ sinh viên hay được sinh viên yêu mến.
Hát cho dân tôi
nghe. Tôn Thất Lập.
Hát cho sông
không sâu, cho tiếng kêu đò thật gần. Hát cho đêm qua lâu, cô gái đưa
người vào bờ. Hát sâu trong xa xưa, tiếng hát Trưng Vương hồng thơm. Hát
vang danh Lam sơn, người cũng như mây lên non. Hát cho trăm năm son, sử
vàng cũng biết môi thơm.
Hát cho quê
hương. Trần Long Ẩn.
Đất nước ta sẽ
hùng cường, nhân dân ta sẽ ấm no, khi áp bức, khi xích xiềng, khi ác thù
bị gục ngã. Quê hương mình mãi sáng chói, muôn lửa hồng mãi rực tươi. Việt
Nam
ơi! Việt Nam
ơi! Đây tiếng hát con tim đời đời.
Thừa Phủ ơi lòng
ta hồng biển lửa. Thơ Võ Quê, nhạc Nguyễn Phú Yên.
Ơi người tù
thiếu nữ trưa nay đang âm thầm quét lá khô vỉa hè vắng lặng. Hồn em đau,
hồn em đau từng nhát chổi lạnh lùng. Ta biết lòng em rực hồng biền lửa,
chờ gió ngày bão lớn thổi bùng lên.
Tổ quốc ơi ta đã
nghe. La Hữu Vang.
Ôi tổ quốc bao
tiếng ca giờ lên đường. Đem máu hồng tô thắm đẹp cuộc đời. Lời xưa vang
đâu đây chí hiêu hùng muôn phương tung bay. Đường ta đi hôm nay bao xác
thù gục ngã tan thây. Tổ quốc ơi, bao thiết tha lời sông núi, thề nguyện
cả cuộc đời trọn dâng cho quê hương này. Muôn hoa tươi thắm ngát hương
trên bao nụ cười. Gian khổ nề chi ta ra đi.
Tự nguyện.
Trương Quốc Khánh.
Nếu là chim tôi
sẽ làm loài bồ câu trắng. Nếu là hoa tôi sẽ làm một đóa hướng dương. Nếu
là mây tôi sẽ làm một vầng mây ấm. Nếu là người tôi sẽ chết cho quê
hương.
Hát từ đồng
hoang. Miên Đức Thắng.
Rồi ngày mai đất
ta vươn thơm mùi lúa mới. Rồi ngày mai đất ta hoa thơm hồng môi cười. Rồi
ngày mai quê hương xanh lên mầu sông núi. Vì ngày nay dân ta quyết sống
vì đất này.
Người về thành
phố. Phạm Thế Mỹ.
Từ biển xanh lên
trên non cao, máu các anh nhuộm đỏ đồng sâu, thắm trong tim tươi ngọn lúa
mới. Nụ cười trên môi em thân yêu, trên hố hầm bom đạn tàn hoang, trên
đất khô đã thành ruộng vàng.
Ruộng đồng ơi,
thị thành ơi, trời Việt Nam
hôm nay rực sáng. Nhà của ta, ruộng của ta, cánh tay
ta xây lại đời ta.
Bạn bè ơi, kẻ thù ơi,
đường Việt Nam thênh thang ngàn lối. Người đã đi, người đã tới, bước chân
anh nối lại Việt Nam.
Gia tài của mẹ. Trịnh
công sơn.
Một ngàn năm nô lệ giặc
Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia
tài của mẹ một bọn lai căng, gia tài của mẹ một lũ bội tình.
Dạy cho con
tiếng nói thật thà. Mẹ mong con chớ quên mầu da, con chớ quên mầu da nước
Việt xưa. Mẹ trông con mau bước về nhà. Mẹ mong con lũ con đường xa, ôi
lũ con cùng cha, quên hận thù.
Tôi trích dẫn khá nhiều để thấy rằng
những tâm tình đó không đơn lẻ, không phải chỉ ở tác giả những bài ca mà
là ở hàng triệu con tim cùng hát với họ, âm vang mãi cho đến tận sau này.
Ở đây cũng xin nhấn mạnh rằng
không đặt vấn đề quan điểm chính trị đối với cuộc chiến tranh Việt Nam,
cho đến nay, vẫn còn tranh cãi giữa những người trong cuộc, mà muốn nói
đến tâm tình của một thế hệ về quê hương, đất nước, lịch sử, tổ quốc của
mình. Những người đó có thể có người ủng hộ miền Bắc, có người là
đảng viên cộng sản nhưng tổ quốc của họ không bao giờ là tổ quốc xã hội
chủ nghĩa. Tổ quốc chỉ là anh em đồng bào, người em, người chị, người mẹ,
người tù, mái nhà, con sông, rừng sâu, non cao, biển biếc, tiền nhân chống
giặc Tàu giặc Tây xâm lược… Tổ quốc chung của mọi người Việt Nam từ
xưa đến nay không có gì khác. Đó là tâm tình của những người tôi hiểu rất
rõ vì cùng hoàn cảnh và cùng thế hệ ở Miền Nam.
Ở Miền Bắc tôi không hiểu nhiều, dù tôi
có thể biết khi đọc qua sách báo. Tuy nhiên tôi có người bạn ở miền bắc
vào, gần gũi chia sẻ nhiều điều từ hơn 20 năm qua tại thành phố Đà Lạt,
nơi tôi đang sống. Đó là nhà thơ Bùi Minh Quốc. Tôi đã viết một chương về
anh trong cuốn sách “Mảnh trời xanh trên thung lũng”
(Nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, 2007). Chương đó có tựa “Mẹ
đâu ngờ”, viết về tập thơ của anh, có những đoạn sau đây:
"Như mọi
người Việt Nam yêu đất nước yêu tự do, tôi đã hiến dâng tuổi trẻ cho cuộc
chiến đẫm máu của nhân dân mình để giành Độc lập cho Dân tộc và Tự do cho
mỗi con người.
Độc lập đã có, nhưng Tự do thì chưa.
Những dòng thơ này là chút của riêng còm cõi mà người viết tự
trang bị cho mình vào tuổi ngoài năm mươi, và hi vọng được góp vào hành
trang của nhân dân mình trên hành trình khổ ải giành Tự do"
Đó là những lời mở đầu cho tập thơ "Mẹ đâu ngờ" của Bùi
Minh Quốc. Lời mở ngắn gọn và cô đọng này đã tóm lược suốt cả quá khứ và
tâm trạng hiện tại của nhà thơ, với khát vọng và nỗi đau thấm trong từng
chữ.
… Như mọi người
trẻ tuổi yêu nước, hành trình của Bùi Minh Quốc thời thanh xuân là một
hành trình khổ ải và bừng bừng ngọn lửa dấn thân cho lý tưởng. Từ Hà Nội,
anh tình nguyện đi Nam
để vào mặt trận khi con đầu lòng chưa đầy sáu tháng. Vợ anh cũng tiếp tục
theo chân anh khi con vừa đầy năm, cùng chiến đấu trên một chiến trường. Vợ
anh, một nhà văn chiến sĩ tài hoa, đã ngã xuống trong một trận càn dưới
lằn đạn xé ngực.
" Ngắm con trong ảnh
lệ trào
mẹ đi đi mãi cha sao đền bồi
mẹ trao con lại cho đời
trao con khát vọng làm người
tự do"
(Cho bé
Ly con yêu)
Gian khổ, hi
sinh của anh quá nhỏ bé trong cuộc trường chinh máu lửa của dân tộc.
" Chốt địch kia anh. Ta vượt lẹ ! Em
cười...
Tôi nhắm hướng giọng cười,
bước theo mải miết
Mỗi bước đi, lòng mắc nợ bao
người
Những món nợ suốt đời không
trả hết
Dẫu một chữ cũng phải dốc trọn
máu tim mình để viết
Cho thơ tôi bắt kịp giọng em
cười”.
(Nợ)
Chính vì canh cánh món nợ
đó mà ngòi bút máu tim của anh hôm nay bừng bừng phẫn nộ:
"
Không có ai
không có ai
Có thể nhìn trời
Bình tâm mỗi sáng
Khi những thằng đểu còn trong
Đảng
...
Đồng chí - tiếng ấm nồng
máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế
này ?
Đồng chí - dao đã nằm ém nhẹm dưới
lòng tay
Mưu mô đã xong và mọi ngả đường đã
giăng cạm bẫy
Khí trời, khí trời mỗi ngày ta
thở
Bị ô nhiễm bởi bao lời dối trá
Phổi ta nám rồi - ta dẫu có
làm sao...
Những lũ trẻ, trời ơi, lũ trẻ
Chúng lớn lên sẽ hít thở thế
nào
Nếu dối trá vẫn chồng lên dối
trá.
... Suốt một đời bạc tóc dưới mưa bom
mẹ lầm lũi đào hầm nuôi cách mạng
Con xin nói
Với tất cả tấm lòng và
lương tri
cộng sản
mẹ chẳng phải đảng viên
nhưng mẹ có tấm thẻ đỏ trái tim ròng ròng máu ứa
chính mẹ chứ không ai - mẹ phải nắm quyền
hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim
đen."
(Những ngày
thường đã cháy lên)
Đó là những dòng
anh viết không lâu trước khi bị khai trừ
đảng. Anh vẫn còn nhân danh "lương tri cộng sản". Đối với
anh "lương tri cộng sản" chính là chống bất công áp bức, đòi độc
lập tự do và công bằng xã hội, theo lời kêu gọi "vùng lên hỡi các nô
lệ ở thế gian" trong bài Quốc tế ca. Đối với anh, thẻ đỏ phải là tim
đỏ, không chấp nhận thẻ đỏ tim đen. Tiếc thay những kẻ thẻ đỏ, tim đen lại
có quyền lực thu hồi tấm thẻ đỏ của anh.
... Bùi Minh Quốc là một
trong những người cầm bút đã có can đảm lội ngược dòng. Tôi đặc biệt yêu thích sự trung thực của anh, trước
hết là trung thực với chính mình:
"Bao nhiêu năm ta ngỡ
mình tự do
Những giáo điều đã thành những
tín điều khi nào vậy?
Chất độc ngấm ngọt ngào không
ai nhận thấy
Đất sét nhào nên thần tượng để
tôn thờ.
Không có gì quý hơn độc lập tự
do
Chân lý ngỡ thấm rồi ngờ đâu
chưa hiểu hết
Sau bao phen đối đầu cùng
cái chết
Vẫn chưa tan nỗi sợ trước uy quyền
... Không có gì quý hơn
Độc lập
Tự do
Ta hôm nay lại ôm đầu đánh vần
từng chữ
Việc chi mà xấu hổ
Khi mỗi giọt máu mình khát độc
lập tự do"
(Không có gì
quý hơn độc lập tự do)
Sám hối về những
sai lầm của mình là việc vô cùng khó khăn. Có người né tránh, có người xấu
hổ. Nhất là đối với những người đang nắm quyền lực lại càng khó khăn hơn
vì người ta nghĩ rằng thừa nhận sai lầm sẽ khởi đầu cho mất mát, sụp đổ. Bùi
Minh Quốc thì không. Anh không có quyền lực gì để mất. Anh chỉ sợ mất
chính mình. Nếu không muốn mất mình, nhất định phải sám hối.
... Ngày trước anh trung thực và bây giờ anh cũng trung thực.
Anh đã sai lầm và anh đã sám hối. Lỗi không phải ở anh, ở thế hệ của anh
mà chính là lỗi của những người đã lợi dụng lịch sử. Chính sự sám hối sẽ
cứu rỗi dân tộc và con người chứ không phải là những lời lẽ ba hoa về chính
nghĩa và chiến thắng.
Trên đây là tâm tình về quê hương, đất
nước, tổ quốc của những người mà tôi hiểu khá rõ. Mở rộng ra, nhân dân
Việt Nam và đặc biệt,
người lính của cả hai miền Nam – Bắc trong cuộc chiến
nghĩ gì? Những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Miền Nam tự
hào chiến đấu bảo vệ tổ quốc, quê hương, đồng bào khỏi sự xâm lăng của
cộng sản. Người chiến sĩ của Miền Bắc, từ khi “Đoàn Vệ Quốc Quân một lần
ra đi, dù có sá chi mong ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi
ra đi thà chết chớ lui”, với tư cách chiến sĩ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi
sinh”, vì miền Nam
ruột thịt, chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chẳng có ai chiến đấu vì “tổ quốc xã hội
chủ nghĩa” cả.
Vậy thì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của
người cộng sản Việt Nam
là gì, của ai? Những người cộng sản Việt Nam không phải sinh ra đã là
cộng sản. Trừ một số ít lãnh tụ và đảng viên nòng cốt được đi học lý
thuyết Mác – Lê ở Nga, Tàu, đại bộ phận là nông dân, công nhân, dân nghèo
và một số ít trí thức đi theo đảng vì bị cướp đất, cướp nhà, chịu bất
công áp bức và muốn bảo vệ tổ quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang. Dĩ
nhiên họ gắn bó ràng buộc với nhau trong tổ chức đảng và trong bộ máy nhà
nước khi đã giành được chính quyền. Về sau họ cũng được học tập về chủ
nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin nhưng thuở ban đầu, như trong một
chuyện vui của chính những người cộng sản, nhiều người trong các cuộc kết
nạp hay trong các cuộc họp, nhìn lên ảnh của Marx và Lenin, không biết ai
là ai, chỉ biết “Thưa ông râu dài và ông râu ngắn”.
Đảng viên cộng sản cũng không phải thuần
nhất, giữa đảng viên lãnh đạo, có chức vụ cao với đảng viên thường. Ngay
đối với những đảng viên cao cấp, dù trước đây họ tin tưởng vào “tổ quốc
xã hội chủ nghĩa” của những người vô sản trên toàn thế giới, liệu họ còn
tin được nữa không khi bắt đầu có sự xung đột giữa hai nước đàn anh Liên
Xô – Trung Quốc. Và họ buộc phải thay đổi suy nghĩ trước cuộc chiến xâm
lược của Trung Quốc năm 1979 trên toàn tuyến biên giới phía bắc. Khi đó
cả cương lĩnh của đảng và hiến pháp của nhà nước đều ghi rõ Trung quốc là
kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm. Làm sao có thể có cùng “tổ
quốc xã hội chủ nghĩa” với Trung quốc. Về sau này khi tình hình thay đổi,
những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại bắt tay hữu hảo với người “anh
em đồng chí bốn tốt” có “mười sáu chữ vàng” theo một chính sách ngoại
giao hèn nhát mà có người mỉa mai là “ngoại giao Hàn Tín lòn trôn”.
Có những người cộng sản gộc đã phản tỉnh
về chủ nghĩa như Trần Độ, Nguyễn Hộ… Có những đảng viên cộng sản lão
thành, công thần của chế độ như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng
Sĩ Nguyên, Dương Danh Dy, Nguyễn Trung… đã công khai lên tiếng báo động
về ý đồ xâm lược của bọn bá quyền phương bắc. Nhiều văn nghệ sĩ, trí thức
đảng viên như Phạm Đình Trọng, Tô Hải, Tống Văn Công, Cù Huy Hà Vũ…, các
thành viên của Viện IDS, nhóm Bô xít đã tố cáo chính sách sai lầm của
những người lãnh đạo hiện nay, đặc biệt liên quan đến ý đồ xâm lược và sự
chi phối của đế quốc Đại Hán mới, qua các vụ mất biển, đảo, biên giới, cho
thuê đất rừng, khai thác bô xít và mới nhất là việc tổ chức đại lễ 1000
năm Thăng Long – Hà Nội. Những người này nhất
định không có chung “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” với các “Ba Tàu” cộng sản.
Và nếu có cuộc chiến tranh quân sự xâm lược nổ ra do cộng sản Tàu phát
động, tôi tin rằng tuyệt đại bộ phận những người cộng sản Việt Nam sẽ cùng với toàn dân tộc, cầm súng
chiến đấu chống lại để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Nếu các cuộc biểu tình
chống Trung quốc xâm lược, đòi lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa của sinh viên,
văn nghệ sĩ, trí thức ở Sài Gòn và Hà Nội không bị đàn áp dập tắt, tôi
tin rằng sẽ có hàng vạn, hàng triệu người Việt tham gia.
Vậy thì “tổ quốc
xã hội chủ nghĩa” chẳng là cái gì và của ai cả, chỉ là khẩu hiệu tuyên
truyền của những người lãnh đạo cộng sản, cũng như bất cứ thứ gì gắn với
“xã hội chủ nghĩa”, như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
chỉ có một nghĩa duy nhất là dưới sự lãnh đạo độc quyền của đảng cộng
sản. Ngoài ra không có gì khác. Để bảo đảm quyền và lợi ngày càng quá lớn
của một thiểu số đã lợi dụng nhân dân khi giành được chính quyền.
Anh Phước thân mến.
Thực tế không có “tổ quốc xã hội chủ
nghĩa”. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh và có lẽ đại bộ phận dân tộc Việt Nam cũng đồng ý rằng chỉ có Tổ quốc Việt Nam của mọi người Việt Nam. Và
vì thế tôi đã có thể cùng anh và các bạn ngồi uống rượu nói chuyện về đất
nước dưới mái nhà ven hồ thơ mộng của anh ở Dallas vào một tối mùa hè năm 2009.
Đà Lạt tháng 10/2010
Tiêu Dao Bảo Cự
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|