|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Đại hội 8 Hội Nhà văn Việt Nam
Blogger nhà văn Phạm Việt
Đào Thông báo:
Thông Báo:
TỪ CHIỀU HÔM NAY 14 G NGÀY 4/8/2010, ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN VIỆT
NAM CHÍNH THỨC HỌP; BLOG
PHAMVIETDAO SẼ CẬP NHẬT NHỮNG THÔNG TIN QUAN TRỌNG VÀ RẤT VUI ĐƯỢC GIỚI
THIỆU VỚI BÀ CON CƯ DÂN MẠNG NHỮNG THAM LUẬN, NHỮNG Ý KIẾN PHÁT BIỂU ĐÁNG
CHÚ Ý CỦA CÁC NHÀ VĂN ĐỌC TẠI ĐẠI HỘI.
XIN CHỜ ĐỢI CÁC THAM LUẬN CỦA CÁC NHÀ VĂN !
ĐÂY LÀ DỊP TỀ TỰU ĐÔNG ĐẢO CÁC NHÀ VĂN CỦA CẢ NƯỚC TẠI HÀ
NỘI, NẾU BLOGGER NÀO CÓ NHU CẦU NHẮN TIN THĂM HỎI, HOẶC, CÓ VẤN ĐỀ NÀO,
THÔNG TIN GÌ CẦN MUỐN TRAO ĐỔI VỚI MỘT NHÀ VĂN NÀO, CHỦ BLOG HÂN HẠNH ĐƯỢC
LÀM CẦU NỐI !
ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN
VN LẦN THỨ VIII
TỔ CHỨC TẠI HÀ NỘI TỪ
NGÀY 4 – 6/8/2010


GIAO KÈO CỦA NHÀ VĂN

Tham luận của nhà văn Thùy Dương
Tôi bắt đầu cuốn tiểu thuyết mới của mình bằng một nỗi sợ hãi.
Chưa bao giờ trong đời tôi lại thấy tất cả các mối quan hệ của con người
lại lỏng lẻo, tự tan rã và thậm chí cứ tan rữa ra như hiện nay. Quan hệ
gia đình, ông bà, cha mẹ, con cái, anh em ruột thịt, quan hệ đồng nghiệp,
cấp trên cấp dưới, quan hệ bạn bè, người yêu…tất thảy đều có thể bị quyền
lực và tiền bạc hay những dục vọng cá nhân tầm thường chi phối đến tận
cùng. Con người nhiều lúc trở nên vô cảm và tàn bạo như dã thú…Nỗi sợ hãi
này hoàn toàn có thật.
Điều gì và vì sao lại đến nông nỗi ấy? Đó là một câu hỏi cứ
trở đi trở lại mỗi ngày. Mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự sùng bái
những giá trị vật chất, sự xuống cấp, tha hóa của nhân cách, sự a dua bầy
đàn chăng? Tôi cứ tự lục vấn mình và những nhân vật của mình trong sự ngờ
vực và lo lắng thế!
Bước ra từ một cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, dường như
chúng ta rơi vào cái bẫy của chính mình mà không biết. Sự ngổn ngang rạn
vỡ bày ra trên nhiều phương diện. Nỗi bất an thường trực trong cuộc sống
và tính người đang đứng trước sự thách thức cũng như những cám dỗ chết
người.
Ai đó
nói rằng – còn biết bao điều tốt đẹp trong cuộc sống sao không đề cập? Điều
đó có lý nhưng sự nhạy cảm với cái ác cũng chính là để bảo vệ cái thiện
và cái đẹp đấy thôi. Tôi đã từng say mê và đến với văn chương bởi những câu
thơ tuyệt đẹp của Pablo
Neruda:
"Tôi đã ký một
giao ước ân tình cùng cái đẹp
Tôi đã ký một giao
kèo xương máu với nhân dân"
Giao kèo ấy với nhà văn là thiêng liêng và bền chặt biết mấy.
Văn học ý thức được vai trò của nó - đánh thức lương tâm xã hội đương đại,
cật vấn nó bằng cái cách tác động lên phần thẳm sâu của nỗi đau thân phận
con người, của sự mất mát và tuyệt vọng khi cái thiện cái đẹp bị thương tổn,
bị bỏ rơi. Bởi "văn chương chính là tấm gương phản ánh thời đại"
(......), là phẩm chất tinh thần của thời đại. Một phẩm chất đáng trọng,
có trí tuệ và đạo đức, hướng dẫn thời đại sửa chữa những sai lầm của mình
bằng chính sự trải nghiệm và phản biện của nó.
Gần đây trong giới chuyên gia kinh tế vẫn nửa đùa nửa thật
nói đến bài toán cổ "Một trăm con trâu và một trăm bó cỏ" - rằng
"con đứng ăn năm, con nằm ăn ba còn lũ nghé hoa năm con một
bó..." và cho rằng lời giải vẫn đúng cho cả hôm nay. Bởi một nhóm rất
ít thôi thì chiếm tới 20% của cải cả xã hội, nhóm thứ nhì đông hơn
một chút thì chiếm mất 54%, còn lại đại đa số dân chúng chỉ chia nhau 26%
số ít ỏi còn lại!
Không có gì là ngạc nhiên khi nhà văn quan tâm tới cái khoảng
cách cay đắng kia, nghiêng về cái khối đông đúc chịu nhiều thiệt thòi và
nhiều phần đau khổ ấy. Đó là sứ mệnh của họ.
Nhưng khi trình bày những chiêm nghiệm những lý giải của
mình, đôi khi – tôi vẫn giật mình – có gì không đúng chăng? Ta đã nói quá
lên chăng và (thật đáng thương sao) tôi đã từng tự biên tập mình trước
khi những biên tập viên cắt nốt vài cái gai thưa thớt còn sót lại!
Tôi trước khi bắt tay vào một tác phẩm mới thường mong ước
gạt bỏ được cái thói quen cố hữu kia và chợt nhận ra rằng dứt bỏ được cái
thói tự biên tập mình thật không dễ chút nào. Vì thế nên tôi vẫn nhắc lại
những điều mọi người đã nói bởi nó quá thiết thân với nhà văn, quá cần
kíp cho những sáng tác của họ. Trước khi nói đến việc tôn vinh - văn
chương thực sự cũng rất cần điều ấy – thì phải biết tôn trọng văn chương
như chính nó cần được tôn trọng. Sự đòi hỏi bắt đầu từ môi trường cho văn
học, bắt đầu từ chính tư duy của xã hội (hay của nhà nước). Không thể gò
văn chương trong cái gọi là hiện thực đơn thuần. Bởi hiện thực trong văn
học không thể như một trình tự chấp nhận được. Nhà văn không thể bê
nguyên cái hiện thực đó vào tác phẩm của mình mà chỉ dựa trên cái nền đó
mà suy tưởng và sáng tạo. Dù cho "hiện thực" đó trong sáng tác
của anh ta khốn khổ hơn, cay đắng hơn và thậm chí tuyệt vọng hơn. Thì đó
cũng chỉ là sự thẩm thấu và trình bày cuộc sống theo cái cách của mình.
Đó chính là điều khác biệt của mỗi người mà ta phải tôn trọng. Một thế giới
hoàn hảo phải là thế giới dung hòa của những sự khác biệt chứ không phải
là thế giới khoác đồng phục cho tất cả. Mà sáng tác đôi khi đó chính là sự
linh ứng của nhà văn và vì thế văn chương còn có ý nghĩa cảnh báo và dự
báo. Một xã hội còn quá nhiều thiên kiến, chưa chịu rộng mở, trái tim
chưa đủ bao dung thì thật khó tạo được một môi trường tốt cho những tác
phẩm tâm huyết ra đời. Điều này nhà văn Hoàng Quốc Hải đã nói rất rõ ràng
và đầy tâm huyết trong tham luận "Nỗi niềm văn học đỉnh cao" từ
đại hội trước.
Tôi đề nghị: Hội Nhà văn tổ chức những cuộc hội thảo hay đối
thoại thật cởi mở, thấu đáo về "môi trường cho văn chương"
giống như trong các lĩnh vực khác (kinh tế chẳng hạn) đang làm với mục
đích vươn tới một môi trường pháp lý minh bạch và sòng phẳng.
Cuộc sống là sự vận động không ngừng, sự hiểu biết và thừa
nhận những sai lầm của mình chính là biểu hiện cao nhất của tự do. John
Stuart Mill, một triết gia nổi tiếng cách chúng ta một thế kỷ rưỡi trong
cuốn "Bàn về tự do" đã cho rằng: "...Điều không có lính
gác canh giữ mà luôn luôn mời gọi cả thế giới chứng minh rằng nó thiếu cơ
sở, chính là được đảm bảo nhất để ta tin tưởng vào..." Rộng mở
trái tim và trí óc để cho những sáng tác được trình bày bằng tâm huyết và
tự do của nhà văn chính là một đảm bảo tin tưởng của xã hội ưu việt - dân
chủ - công bằng và văn minh. Văn chương trên con đường kiếm tìm không ngừng
nghỉ cái chân, thiện, mỹ trong nỗ lực làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp
hơn, phù hợp với lý tưởng cao đẹp mà loài người theo đuổi thì cũng chính
là phương cách giúp cho sức khỏe tinh thần của dân tộc mạnh mẽ hơn và
cũng nhạy cảm hơn.
Tôi đề nghị: phải thay đổi và cải tiến phương pháp dạy văn
học trong nhà trường mà lâu nay cách dạy văn đã trở nên khô cứng và sáo
mòn khiến thế hệ trẻ không còn yêu thích và đồng cảm với văn chương. Và nếu
không thật sự coi trọng định hướng thẩm mỹ trong văn chương với lớp trẻ
thì rất khó cải thiện được tình hình. Với dân số hơn 80 triệu dân mà sách
in ra chỉ dừng ở con số ngàn bản thì sự vận hành liên tục của quan hệ tác
động hai chiều giữa văn học và đời sống chưa có bao nhiêu. "Trong
tam giác: tác giả, tác phẩm và người thưởng thức thì người thưởng thức
không phải là phần sáng tạo thụ động hay chỉ là mắt xích đơn giản của hoạt
động tiếp nhận mà chính là năng lượng tạo thành lịch sử" (theo
H.R.Jauss). Thì "năng lượng tạo thành lịch sử ấy" của
chúng ta quá mỏng manh. Tôn vinh văn hóa đọc có thể trở thành một chương
trình hành động không chỉ của nhà văn.
Tôi đề nghị: Sự trải nghiệm và phản biện của văn chương với
ý nghĩa như một phẩm chất tinh thần của thời đại cũng vẫn cần một sự PR
chuyên nghiệp bởi đã xa rồi cái thời "hữu xạ tự nhiên hương".
Xã hội hiện đại, xã hội tiêu dùng đã xác lập một phương pháp tiếp cận mới
mà ta không thể bỏ qua nó. Tác phẩm hay mà không đến được với người đọc một
cách rộng rãi thì cũng chẳng có ý nghĩa gì nhiều. Quảng bá một cách bài bản,
hệ thống văn chương đích thực cần những người tâm huyết và có tri thức
cũng như kinh nghiệm ở một xã hội kinh tế tri thức như hiện nay. Sự bảo đảm
một môi trường tốt cộng với tài năng và nỗ lực của nhà văn cộng với sự quảng
bá có hiệu quả thì khi ấy thực sự "giao kèo" của văn với nhân
dân mới có thể coi là hoàn thành được.

Các nhà văn hội thảo tại vỉa hè Đại hội...
- HỌP CÁC NHÀ
VĂN ĐẢNG VIÊN, NÒNG CỐT CỦA ĐỘI NGŨ CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT
- THƯ CỦA ÔNG
ĐỖ THỊNH, 68 TUỔI GỬI CÁC NHÀ VĂN
- THƯ CỦA BẠN
PHẠM CƯỜNG-CHLB ĐỨC GỬI ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN LẦN VIII
- THƯ NGỎ GỬI
ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM KHÓA VIII CỦA NHÀ BÁO ĐẶNG MINH LIÊN
Chiều nay, đúng 14 giờ ngày 4/8/2010, Đại hội hội nhà văn
Việt Nam nhiệm kỳ VIII chính thức được mở đầu bằng cuộc họp các nhà văn
là đảng viên tại hội trường Học viện hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Theo danh sách Hội Nhà văn Việt Nam có 923 hội viên trong đó
có 624 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là đảng viên, chiếm tới 2/3. Tại buổi
họp mở đầu này, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh đã mời ông Phùng
Hữu Phú, Ủy viên trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương
lên phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Với thái độ mềm mỏng và nhún nhường, ngay trong những câu
mở đầu, cử tọa nghe ông Phùng Hữu Phú nhắc tới 3 lần việc ông được đến dự
Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII như là một điều may mắn. Ông
cho biết: đây là Đại hội thứ 9 của các hội, các hội trước đều thành công
tốt đẹp, đạt được sự đồng thuận cao. Chắc ông muốn rào đón ý tứ rằng: các
hội trước tổ chức đều không để lại tai tiềng gì, các hội viên đều ngoan
hiền; do vậy hy vọng các bác nhà văn được coi là hội đàn anh trong các hội
hãy trông gương đám đàn em mà tổ chức đại hội cho nó thành công, cho nó đồng
thuận, đừng có gây ra điều gì mà mất vui, mất hay…
Đại hội được tổ chức ở nơi nghiêm cẩn như Hội trường Học
viện hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, là nơi “thâm nghiên kín cổng cao
tường”; đồng thời cũng lại là nơi “quan trên trông xuống người ta
trông vào”, do vậy nên các bác nhà văn khi đã vào đây chắc lời ăn tiếng
nói cũng quy chuẩn, quy lát hơn…
Ông
không quên nhắc đi nhắc lại: ông được gặp gỡ, trao đổi với cử tọa là đội
ngũ nhà văn vừa là cao tuổi, từng trải, sáng suốt vừa lã lão làng do vậy
các cơ quan chức năng trông đợi vào sự làm gương, cốt cán. Ông Phùng Hữu
Phú đã dùng những lời lẽ có cánh để vuốt ve các nhà văn:” Một nền văn
học phát triển đầu tàu sẽ làm nòng cốt cho điện ảnh, sân khấu, âm nhạc…và
nhiều loại hình nghệ thuật khác về những gợi mở thẩm mỹ…” Ông không
quên nhắc khéo: “Đại hội của Hội Nhà văn Việt Nam được tổ chức trong
bối cảnh đất nước đang ở trong giai đoạn, thời kỳ chứng kiện những sự
kiện lớn lao, trọng đại.v.v.”

Nhà văn đang tuyên giáo lại nhà tuyên giáo
Tóm lại, qua những phát biểu của ông Phùng Hữu Phú cho thấy
sự trưởng thành vượt bậc của các nhà tuyên giáo thời dân chủ-thị trường…Thay
bằng những diễn văn sáo rộng, những chỉ đạo, chỉ thị quán triệt mang tính
chỉ thị, hoặc những huấn thị theo kiểu bề trên bằng những lời lẽ có cánh,
dễ nghe, ít nhiều mang chiêu màu khích tướng…

Sau những lời phủ dụ của ông Phùng Hữu Phú là tiếp theo những
lời ngọt nhạt của Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh với những câu lời có vẻ
như muốn dỗ dành các hội viên, ông nhắc nhiều đến dân chủ, đến công khai,
đến đoàn kết, đến văn hóa hội trường…
Còn ít thời gian, các nhà văn Định Hải, Triệu Xuân, Dương
Thuấn, Cao Phương, Tô Nhuận Vĩ, Nguyễn Trần Thiết, Đào Thái Tôn, Trần Kỹ
Trung bắt đầu xuất chiêu…Chủ yếu xung quang những vấn đề thủ tục tổ
chức đại hội, phương thức bầu cử sao cho nhanh gọn đừng kéo dài như mọi lần
mà tủi khổ cả người bầu lẫn người được bầu…

Chống gậy lên diễn đàn để góp ý kiến với Đại hội
Không khí mở đầu đã thấy các nhà văn của chúng ta rất
thích và rất hăng hái được lên diễn đàn, mặc dù đôi khi người nói nói lấy
được và cũng chẳng biết mình nói để làm gì và được cái gì, chẳng ăn nhập
gì với nhau.

Kiên trì nằm phục để được lên diễn đàn phát biểu ý kiến như
xếp hàng mua gạo thời bao cấp...
Chưa đi vào nội dung chính của hội nghị chính nhưng mở đầu
đã thấy chắc Đại hội sẽ có nhiều chuyện vui vì những bởi sự kỳ cục về
tính cách của các nhà văn…

THƯ CỦA ÔNG ĐỖ THỊNH, 68 TUỔI GỬI CÁC
NHÀ VĂN
Kính gửi Nhà văn Phạm Viết Đào,
Được đọc trang Blog của Quý Ông: "Có vấn đề nào,
thông tin gì cần muốn trao đổi ...", xin mạo muội viết mấy ý mọn:
1.Trong bài "Gặp NV Đào Thắng, ...", nhà văn ĐT
nói: "Cách đây 2 năm ... nguyên TBT Đỗ Mười nhắc chúng tôi là Hội NV
nên tổ chức viết về cuộc chiến tranh biên giới VT ..." v.v. Song
"hình như" việc này chưa được thực hiện.
Năm 2009, mốc 30 năm, TQ ào ạt tung ra biết
bao "chưởng"; VN "dường như" cố ý giữ "im lặng
là vàng"? Báo Du lịch số Xuân chỉ với một "Tản mạn đảo
xa" đã phải đình bản, .... Thật vậy chăng? Vì sao?
2. Đọc bài của Quý Ông: "Chính trị không phải
là độc quyền ...". ; bài của Ông Trần Mạnh Hảo: "Chỉ
có sự thật mới giải phóng con người ..."; bài của Ông Ngô Minh:
"Đi với nhân dân thì thơ không thể khác"; bài của Ông
Phạm Hồng Giang: "Khi nhà văn đồng hành cùng dân tộc",
v.v...; lớp "phó thường dân" thấp cổ bé họng chúng tôi khấp
khởi mừng. Mong được thấy các Quý Ông
"Nói đi đôi với Làm".
3. Đọc Ông Bùi Minh Quốc: "Cần dứt
khoát đổi mới tổ chức Hội", (trannhuong.com);
"Tham luận tại Đại hội HNVVN Khóa 8", được thấy:
"Tôi đề nghị vấn đề đổi mới tổ chức Hội phải là nội
dung hàng đầu trong nghị trình Đại hội 8 ..."; "Vậy
là việc lựa chọn mô hình xây dựng hội xin tiền nhà nước như bấy lâu
hay chuyển sang hội tự nuôi đã trở thành vấn đề danh dự của Hội
và của từng nhà văn". Báo Thanh Niên, 04-08-2010 cho biết: "Từ
năm 2005-2010, HNV đã được Nhà nước cấp 86,6 tỉ đồng ...", (đã / hay
chưa bao gồm những bất động sản hoành tráng như liệt kê của Ông BMQ
?).
Cầu mong Quý Ông BMQ và các đồng nghiệp cùng coi
trọng "vấn đề danh dự" này bảo vệ được chính kiến của
minh. Đón đợi những thông tin cập nhật từ Đại hội.
Chót đã "quá tam". Xin tạm dừng.
Chúc Quý Ông sức khỏe và mọi điều tốt đẹp!
Đỗ Thịnh
68 tuổi, Hà Nội, 0167.8462.640
THƯ NGỎ GỬI ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
KHÓA VIII:
Các nhà văn, hãy viết về những nỗi đau ?!
Nhà báo Đặng Minh Liên
Vấn đề này, tôi trăn
trở đã lâu, nay nhân có Đại hội nhà văn VN tác động nên viết ra nhằm chia
sẻ. Tôi viết với tâm thế vô tư của người quí trọng văn học và nghệ
thuật; vì mình không phải hội viên nhà văn và cũng chưa bao giờ có ý định
vào hội.
Những niềm đau, rộng hơn là những đau buồn lớn nhỏ trong mỗi
cá nhân và cộng đồng, đất nước, khu vực và thế giới là điều luôn hiện hữu.
Tự cổ chí kim niềm đau khổ chưa bao giờ buông tha loài người. Cái sung sướng
hạnh phúc cũng luôn có, khi thường trực khi xen kẽ song đấy lại không phải
là đối tượng phản ánh cơ bản của văn học và nghệ thuật.Đúng như nhà
nghiên cứu điện ảnh Mỹ R. Walter nói: sẽ không có ai đi xem bộ phim gọi
là: Làng của những người hạnh phúc hoàn hảo! Đương nhiên định đề này là
tương đối, bởi trong tính biện chứng của hiện thực và của sáng tác – thì
những khoảnh khắc hạnh phúc là chất liệu tốt cho bức tranh chung tựa như
phút sung sướng xì xoạp của anh Chí bên Thị Nở với bát cháo hành bốc
khói…

Niềm đau nỗi buồn đã và sẽ là một trong đôi ba chủ
điểm ở top đầu trong mối quan tâm của các nhà sáng tác – các nghệ sỹ đích
thực. Trong tác phẩm của các bậc kinh điển tiền bối: Nguyễn Du, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Trần Côn, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Tú
Xương, Nguyễn Khuyến…hiện lên chủ điểm chính về nỗi đau, nỗi buồn cho số
phận con người ,cho nhân tình thế thái. Thậm chí đó là những tiếng kêu xé
lòng, như những câu thơ: Thương thay cũng một kiếp người…thịt da ai cũng là người…Nướng
dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…Thế thái
nhân tình gớm chết thay, lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy…Xưa nay chiến địa
dường bao, nội không mông quạnh xiết bao dãi dầu…Bay thẳng cánh muôn
trùng tiêu hán, phá vòng vây bạn với kim ô…Năm thì mười họa hay chăng chớ,
một tháng đôi lần có như không…Một đoàn thằng hỏng đứng mà trông, nó đỗ
khoa này có sướng không…Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt lão không vầy
cũng đỏ hoe…
Đấy là của thơ, văn xuôi kinh điển cũng rất nhiều ví dụ,
song vì độ dài khó mà trích dẫn ra đây bao niềm đau của con người của thời
đại như các văn hào Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Hay gần
đây như Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Tô Hoài, Hoàng
Minh Tường… từng mô tả
Nhìn ra thế giới, cũng vậy. Bao tác phẩm để đời đều là những
sáng tác về niềm đau, nỗi khổ cộng với tư tưởng triết lý nhân sinh cao cả.
Từ Dante đến Gothe hay Servantes và Sechxpia,…Từ Hugo, Banzac
đến Flobe…, từ Đotxtoiepki đến Shekhop, Lep Tonxtoi… và muộn hơn là
Solokhop rồi Sonzenitsijn…
Tất nhiên sứ mệnh của văn chương nói riêng, nghệ thuật nói
chung là chứa đựng rộng hơn những gì nói trên; chẳng hạn nó nói về hiện
thực phong phú, về cái đẹp, về triết lý cuộc sống, về thiện ác… Song
không hiểu sao qua khảo nghiệm dù là sơ bộ – vẫn thấy cái lắng lại ở hạng
đầu là những niềm đau như một kiếp nạn của con người và thời đại
Phải chăng đó là do cuộc sống loài người còn quá xa đích hạnh
phúc sung sướng; mà một thời say lý tường chúng ta ngỡ đã tới gần, thậm
chí tin thế giới đại đồng tới nơi. Mà đúng vậy, dù ở các nước văn minh
hàng đầu thì con người nói riêng vẫn còn phải đối mặt với bao vấn đề nan
giải, từ làm ăn sinh sống tới yêu đương hôn nhân, từ sức khỏe đến an ninh
đời thường…từ việc làm, công danh sự nghiệp tới trăn trở nội tâm nhằm
tu dưỡng và phòng tránh thua thiệt…Sự hạnh phúc chỉ là tương đối, quá
trình vật lộn hướng ngoại và cả hướng nội là thường trực. Ngay cả ở Mỹ,
Pháp, Ca Na Đa, Đức, Úc, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy… cũng thấy tối thiểu
người dân đều lắp máy hoặc camera cảnh giới cho nhà, xe, cửa
hàng…Như vậy âu lo đau khổ buồn vui luôn song hành ở những ai có lương
năng, ở những nơi tưởng như đỉnh cao hạnh phúc
Ngoài ra sinh lão bệnh tử, chiến tranh, thiên tai hiểm họa…sự
đè nặng của những cấu trúc lạc hậu cũng là những yếu tố thường trực
áp chế và gây nên đau khổ cho con người nói chung và các nhà văn nhà nghệ
sỹ vốn có nhạy cảm cao nói riêng. Mặt khác , hầu hết văn nghệ sỹ nước
ta trưởng thành từ quá nhiều đau khổ như mọi người cộng thêm
cái lao tâm khổ tứ., cái gò bó tư tưởng một thời…Vì vậy ,tất yếu, cảm
xúc về niềm đau cũng là điều thường trực cho các nhà sáng tác.
Song vì nhiều lý do, có cả lý do cố quên đi mà vui sống mà
hưởng thụ …nên biết bao niềm đau khổ đã không được các trang văn, thơ,
phim, nhạc, họa…nói tới. Có thể thấy , mấy chục năm qua,cảm hứng chính của
sáng tác văn học nói chung chỉ là phản ánh hiện thực theo 2 khuynh hướng:
ca ngợi cổ vũ hoặc phê phán đả phá. Mà 2 khuynh hướng đó cũng mới dừng ở
mức là nói sao cho phai phải vầy vậy ( như GS Hoàng Ngọc Hiến bảo
là: hiện thực phải đạo! Các nhà văn:Nguyễn Minh Châu nói là minh họa,
Nguyễn Khải viết là đánh mất cái tôi, Nguyễn Khoa Điềm nêu là xả rác kha
khá…) hoặc cuồng phóng quá mức chứ thiếu độ đằm sâu tinh tế. Cho nên khi
ca ngợi thì cũng quá hào sảng, khi phê đả thì cũng quá cường điệu biếm họa,
yêu nên tốt ghét nên xấu… Điều đó khiến cảm thụ nghe xem lạc xa vời bản
chất thực tại…
Viết về niềm đau tự bản thân việc này không gắn với tính đả
phá hay tố cáo. Nó chỉ là sự thể hiện nhằm gây cảm thông chia sẻ, và nếu
có chất lượng cao thì dẫn tới thanh lọc tâm hồn, gạn đục khơi trong cho bạn
đọc. Niềm đau nỗi khổ, nỗi buồn tự nó không mang tính giai cấp, thể chế,
phe nó, phe ta…. Vì vậy cái chết, cái bị thương của người lính nào trong
chiến tranh thì cũng đau đớn như nhau cho bản thân anh ta cũng như cho
người thân. Khác chăng chỉ là hoàn cảnh và mức độ. Vì vậy đã là sự khổ
thì người giầu/ hay nghèo đều khóc; và chiến tranh là nỗi khổ không của
riêng ai ( K. Simonop) Nó cũng tương đồng ở mọi quốc gia và khu vực trong
tính người – nhân bản phổ quát. Có khác chăng chỉ là bản sắc như người
dân tộc này khu vực này thì biểu hiện hành vi bề ngoài khác với người dân
tộc hay khu vực khác. Viết đến đây, tôi càng thấy cái lớn lao của văn hào
Nam Cao khi ông nêu rất tinh tế cái đau khổ của Chí Phèo thì cũng tương
đương của Bá kiến. Một đằng khổ vì cùng đường quẫn bách và thất học lưu
manh hóa, đằng kia lại khổ vì phải đối phó thủ đoạn với tứ bề nhằm giữ được
địa vị và giầu sang. Rồi cả hai cái đau khổ đó đều dẫn tới cái bi như
nhau: cái chết lãng nhách! Vì cả hai đều nằm trong cái bi khổ lớn của thời
đại nô lệ mất nước cho nên quẫy đạp thế nào cũng không thoát ra; cả hai đều
là tội nhân và nạn nhân!
Văn học và nghệ thuật nói chung không lấy niềm đau khổ của
con người làm chủ điểm chính thể hiện là đã tự rời bỏ một nét bản chất
cao quí của mình. Nếu nó chỉ vè vè hào sảng ngợi ca hay đi vào những tỉ mẩn
thẩm mỹ hình thức…nó sẽ sa vào sự tầm thường tẻ nhạt của anh cung nô hay
nhà trưởng giả.
Con người Việt Nam do đặc thù lịch sử đất nước tác động
nên đã thuộc số những người chịu nhiều đau khổ nhất trên trái đất.
Đau khổ bởi chiến tranh đã đành, còn hàng chục năm hậu chiến và tới tận
bây giờ …Chiến tranh làm khoảng năm đến sáu triệu người Việt cả hai
phía chết và bị thương, ba trăm nghìn người mất tích không
tìm thấy mộ phần ( gia đình tôi góp 2), sau chiến tranh khoảng nửa triệu
người vượt biên vùi thây trên biển cả…Đau khổ bởi vật chất thiếu thốn
thời chiến và bao cấp; đau khổ bởi những lùng nhùng cơ chế
ý hệ đường tới tương lai; bởi nội xâm ngoại tặc…Văn học và nghệ thuật
Việt Nam nhất định phải phản ánh khía cạnh này nhằm chia sẻ, lưu giữ ký ức,
cảm xúc… rộng hơn nhằm thế giới hiểu Việt Nam. Mong sao có một trường
phái sáng tác như thế bộc phát cởi mở! Xét về lịch sử thì quá muộn để nói
ra, song để có sáng tác chất lượng thì không bao giờ muộn! Và muộn còn
hơn không bao giờ!
Nếu văn học vết thương mang tính phản biện nhìn lại và thậm
chí tố cáo, thì văn học về niềm đau chủ yếu là mô tả những đau buồn ở mọi
cấp độ và hoàn cảnh với mục đích chia sẻ cảm thông kết nối và gột rửa
tâm hồn – sau nỗi đau, con người bạn đọc bạn xem nghe – như thấy cần phải
sống khác, làm khác không tồi tẻ ươn đớn …như trước. Và có cả ý
nghĩa thực tế cụ thể khi mà trường hợp nhật ký của các liệt sỹ gần
đây được công bố hay làm phim thì thân nhân của họ đã được dịu nhẹ ạn ủi
rất nhiều; cũng vậy, khi các nhà văn Mỹ như W. Karlyn sang Việt nam gặp lại
nhân chứng trong tác phẩm của họ…Tục ngữ Việt nam có câu: niềm vui
nhân đôi, nỗi đau sẻ nửa…
Những nhà văn nghệ sỹ có tâm huyết tài năng với niềm đau của
con người và thời đại đã và sẽ làm nên những sáng tác có giá trị lớn!
Đây là vấn đề vừa là suy nghĩ riêng vừa là học thuật; hôm
nay ý tứ chợt thôi thúc tôi viết ra. Cũng nhân đại hội nhà văn nước ta mà
gửi gắm tới văn giới và bạn đọc mạng. Nếu có điều gì bất cập mong
được chỉ giáo và bổ sung. Chân thành cảm ơn!

Được lời như cởi tấc lòng; Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập
ghềnh...
Đặng Minh Liên
Trích: Blogger Phạm Việt Đào
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|