|
Tại sao đảng
cộng sản vẫn bảo thủ?
Ngô Nhân Dụng
Cuốn Một Trăm Chuyện Ngụ Ngôn kể chuyện có một anh
chăn cừu thật thà chất phác. Một hôm có một người từ thành thị tới làm
quen, rồi dần dà kết bạn với anh.
Sau
khi được anh tin tưởng rồi, người bạn thành phố mới nói: “Chúng ta đã
làm bạn tri kỷ với nhau, không còn gì chia rẽ ta được nữa. Tôi sẽ giới
thiệu cho anh một cô gái làng bên để cưới làm vợ! Anh hãy đưa tôi sính
lễ tôi sẽ cưới vợ cho anh.” Người nông dân đưa cho tên bạn nhiều con
cừu làm sính lễ cưới vợ. Anh thấy mình may mắn, có người sẵn lòng đi lo
chuyện cưới vợ giúp mình!
Một
thời gian sau, người bạn thành phố quay trở lại báo tin: Anh đã có vợ
rồi! Chị ấy may mắn đã mang thai! Anh nông dân mừng rỡ, lại đưa thêm
mấy món đồ quý cho người bạn thành phố để giúp anh nuôi vợ. Một thời
gian sau nữa, kẻ gian thành phố trở lại, báo tin: Vợ anh đã đẻ con trai
rồi! Anh chăn cừu sung sướng quá, lại đưa thêm của cải cho người bạn
đem đi giúp nuôi vợ và con anh. Tháng sau, người bạn thành phố mặt mũi
buồn rầu quay trở lại báo tin: “Cháu nhỏ nó chết rồi, sinh được mấy
ngày đã chết.” Anh chăn cừu nghe tin đau đớn, khóc lóc thảm thiết!
Câu
chuyện Mục Dương Nhân trên, chuyện số 30 trong Bách Dụ Kinh, cốt ý răn
người đời không nên sống bằng ảo ảnh. Vì trên đời nhiều người cũng sống
trong ảo tưởng như anh chăn cừu này. Không thiếu người cứ tưởng mình
đang có vợ có con sống ở làng bên, dù chưa bao giờ gặp mặt.
Mỗi
lần đọc dự thảo cương lĩnh mới của đảng Cộng Sản, không thể nào không
nhớ đến anh chăn cừu trên. Bản thông cáo sau phiên họp trung ương đảng
Cộng Sản chuẩn bị cho Ðại Hội Mười Một (năm 2011) vẫn khẳng định: “Ði
lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” Cũng không khác gì
người bạn thành phố bảo anh chăn cừu: Anh đã có vợ rồi, vợ anh ở làng
bên đó!
Ðảng Cộng Sản đã đem Chủ Nghĩa Xã Hội giới thiệu như
cô vợ đẹp, gán cho anh chăn cừu kia. Người dân trong nước ta và các
đảng viên cộng sản đã phải đóng vai anh chăn cừu này, tin là vợ và con
này có thật mặc dù chưa bao giờ được thấy mặt. Mọi người đã chịu
cho đảng Cộng Sản lừa, trước là tự nguyện nghe theo, sau thì bất đắc
dĩ, trong bụng không tin nhưng không dám cãi. Vì đã lọt vào tròng rồi,
không thể nào tự cởi trói cho mình được. Cộng Sản nói, “Ði lên chủ
nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,” thì chúng ta thách thức
đảng Cộng Sản hãy tổ chức trưng cầu dân ý, xem có bao nhiêu phần trăm
người dân muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội?
Nhưng trước khi làm cuộc trưng cầu ý kiến đó, người
dân cũng muốn mở một cuộc phỏng vấn tất cả các đồng chí trong Bộ Chính
Trị đảng Cộng Sản, xin hỏi các ông các bà rằng cái gọi là chủ nghĩa xã
hội đó nó là cái gì? Muốn làm cái chủ nghĩa xã hội đó thì làm ra sao?
Cứ để mỗi ông, mỗi bà trong Bộ Chính Trị ngồi một phòng riêng ngẫm
nghĩ, có sách vở đầy đủ để nghiên cứu, rồi viết ra cho bà con coi họ
hiểu cái chủ nghĩa xã hội nó như thế nào!
Nó
là một ảo tưởng. Ðó là những ước mơ, mỗi người mơ một cách. Chỉ ở các
nước sống dân chủ tự do mới có những đảng Xã Hội đưa ra các chương
trình quản trị quốc gia mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng rất cụ
thể và có giới hạn, để cho các cử tri lựa chọn, bỏ phiếu. Nếu thắng cử,
họ sẽ đem ra thực hiện các chương trình đó trong thời gian được dân tín
nhiệm. Còn ở các nước cộng sản, khẩu hiệu “tiến tới chủ nghĩa xã hội”
chỉ có nghĩa là tất cả mọi người phải cúi đầu chịu cho đảng cộng sản
cai trị; và các đảng viên thì phải cúi đầu để cho các lãnh tụ quyết
định thay cho mình. Riêng đối với đảng Cộng
Sản Việt Nam, kể từ khi khối Liên Sxô và Ðông Âu sụp đổ thì khẩu hiệu
“Tiến tới chủ nghĩa xã hội” có hai nghĩa. Ðối với bên trong thì nghĩa
là bảo vệ quyền lợi cho các đảng viên đang làm kinh tế quốc doanh,
trong khi vẫn cho các đảng viên khác đi làm kinh tế thị trường để tự tư
bản hóa. Ðối với bên ngoài, sau khi mất chỗ dựa vào “tổ quốc Liên Xô”
của ông Lê Duẩn, thì từ thời Nguyễn Văn Linh Cộng Sản Việt Nam phải
tiến tới gần, càng ngày càng gần Trung Quốc, gần đến mức bây giờ ngạt
thở cũng không cởi bỏ ra được!
Cuộc họp của trung ương để chuẩn bị Ðại hội Ðảng vừa
rồi lại nêu lên một khẩu hiệu vô cùng bảo thủ, phản tiến bộ, “chống đổi
mới” đến cùng, đó là khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.”
Khẩu hiệu này chứng tỏ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản vẫn không dám buông
khu vực quốc doanh ra. Ðối với họ, đó là nội dung có ý nghĩa nhất của
những chữ “tiến tới chủ nghĩa xã hội!”
Tại
sao đảng Cộng Sản vẫn bảo thủ như vậy? Vì nếu không bảo vệ kinh tế quốc
doanh, họ sợ bị đa số chống đối. Vì trong số
những ủy viên trung ương và cán bộ sẽ đi dự đại hội 11 sắp tới phần lớn
hiện vẫn thủ lợi được nhờ hệ thống tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà
nước, họ không thể rời tay được. Những đơn vị kinh tế nhà nước
này không thể nào sống nổi nếu được trao cho cán bộ bằng cách tư nhân
hóa; vì sau đó phải cạnh tranh trên thị trường ngang hàng với tư nhân,
trong nước gọi là “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng.” Khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cốt
để làm yên lòng những thành phần trên, hiện chiếm đa số trong đảng Cộng
Sản. Chúng ta đều biết đây là thành phần ăn bám, ăn hại kinh tế quốc
dân như thế nào.
Ngoài
ra còn thành phần các đảng viên đi làm ăn riêng, góp vốn của mình mà
kinh doanh, rồi thành công, thì họ cũng vẫn quen dựa vào uy quyền của
đảng để thắng lợi. Ngay cả các tư nhân ngoài đảng, muốn làm ăn cũng
phải đi mua chuộc thứ uy quyền này, mua lẻ bằng cách hối lộ, hoặc mua
sỉ là gia nhập đảng. Ða số các doanh nhân tư
đó cũng muốn bảo vệ chế độ cộng sản. Nếu bỏ mất chỗ dựa là uy quyền của
đảng thì họ không thể cạnh tranh ngang hàng với các doanh nhân tư,
thuần túy, ngoài đảng, trong đó có những người nước ngoài. Ðối với các
người đang kinh doanh riêng, nhờ là đảng viên hay mua được đảng mới trở
nên giàu có, chắc chắn họ đều muốn kéo dài tình trạng “sân chơi lệch”
này! Ðã “đầu tư” nhiều vốn kiếng để tạo được chỗ dựa lấy uy quyền, tội
tình gì mà gì họ phải chấp nhận “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng” với
người ngoài, để phí mất số tiền đã đầu tư? Ngay ở một nước dân chủ tự
do, tôn trọng luật pháp cũng vậy. Nếu có những doanh nhân ở Mỹ đang
được lợi nhờ một đạo luật ưu đãi mình (thí dụ, dành một số vụ thầu cho
người gốc thiểu số) thì các doanh nhân đó cũng chỉ muốn bảo vệ đạo luật
đó mãi mãi, dù nó không còn lý do tồn tại nữa. Tình trạng này không
khác gì người gốc Mã Lai đang được hưởng những đặc quyền kinh tế, ưu
đãi hơn các người gốc Hoa và gốc Ấn, chính phủ Mã Lai Á không thể nào
xóa bỏ những đạo luật đặc quyền đó, mặc dù chúng làm cho kinh tế toàn
dân phát triển chậm hơn. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang dựa vào những
thành phần bảo thủ đó để tồn tại.
Ðó
là những lý do khiến đảng Cộng Sản sẽ tiếp tục giữ lập trường bảo thủ,
“đến chết cũng không chừa.” Gần đây, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà tranh
đấu dân chủ Trung Hoa đến thăm nhật báo Người Việt. Trong cuộc nói
chuyện ở tòa báo, ông Ngụy nhắc lại mấy lần rằng: Không thể nào trông
đợi có chuyện đảng Cộng Sản Trung Quốc tự từ bỏ độc quyền chính trị mà
họ đang nắm trong tay. Thời Ngụy Kinh Sinh còn trẻ, ông nghĩ việc đó có
thể xẩy ra, cứ tranh đấu giúp đảng Cộng Sản tự cải tiến và cải cách, họ
có thể sẽ biến thành một đảng chính trị bình thường, chấp nhận tranh đua
bình đẳng với các đảng chính trị khác.
Nhưng sau 30 năm tranh đấu, ở trong nước rồi ở nước
ngoài, bây giờ Ngụy Kinh Sinh cho đó là một ảo tưởng. Chúng ta cũng có
thể tin Cộng Sản Việt Nam cũng giống như vậy. Ðám lãnh tụ nắm quyền dựa
vào đám đảng viên đang giàu nhất và quyền hành mạnh nhất. Tất cả đám
người đó sống bám vào cơ chế hiện tại, hoặc kiếm ăn dễ dàng nhờ cơ chế
hiện tại. Họ không dại gì mà tự phá bỏ các đặc quyền, đặc lợi đang
hưởng. Ông Ngụy Kinh Sinh tin rằng chế
độ cộng sản ở nước ông sẽ chỉ sụp đổ khi nào người dân Trung Hoa, với
sự thúc đẩy của giới trí thức và thanh niên, đứng lên đòi cộng sản phải
thay đổi triệt để hơn. Một cuộc cách mạng như vậy không nhất thiết gây
đổ máu. Nhưng không ai còn hy vọng chế độ cộng sản sẽ tự cải tiến để
chấp nhận các luật giao đấu tự do dân chủ, trong chính trị cũng như
trong kinh tế.
Người
dân Trung Quốc và Việt Nam đều đã được các lãnh tụ cộng sản “cưới vợ giúp”
từ hơn 70 năm nay, không khác gì anh chăn cừu trong Bách Dụ Kinh. Cô vợ hiện không biết mặt mũi ra sao đó, gọi là Chủ
nghĩa Xã hội! Trung ương Ðảng Cộng Sản
Việt Nam mới họp, dự thảo cương lĩnh cho Ðại hội XI của đảng vào sang
năm, cho biết “Khát vọng của nhân dân ta vẫn là Tiến lên chủ nghĩa xã
hội.” Như vậy Ðảng muốn chú chăn cừu vẫn phải tiếp tục tỏ ra mừng rỡ,
vì được báo tin vợ con chú vẫn chưa chết!
Nhưng thử nhìn vào thực tế thì thấy, còn đảng Cộng
Sản là còn bảo vệ kinh tế quốc doanh, là còn bóc lột toàn dân để nuôi
mãi một đám người ăn bám. Chủ trương bảo thủ của đảng Cộng Sản chỉ có
nghĩa là chủ trương tiếp tục bóc lột dân để nuôi dưỡng đảng.
Khoảng
gần 100 tập đoàn công ty doanh nghiệp nhà nước này mỗi năm sử dụng hơn
50% tổng số vốn đầu tư, vì được các ngân hàng thương mại của nhà nước
ưu đãi; nhưng họ chỉ sản xuất ra khoảng 30% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Cứ
kéo dài các đơn vị quốc doanh này tức là bắt cả nước đóng góp tiền nuôi
các đảng viên cộng sản, không biết đến bao giờ mới hết nợ!
Khi nào ý thức được điều này, chú chăn cừu sẽ thức
tỉnh và đặt câu hỏi: Bà vợ xã hội chủ nghĩa đâu? Mặt mũi nó thế nào?
Khi đó, chú chăn cừu sẽ đứng dậy. Triệu con người không thể sống bằng
ảo tưởng mãi mãi!
Trích: Người Việt
6.4
_____________________________________
Tiếp tục thần phục
Trung Cộng
Ngô Nhân Dụng
Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa
đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã
hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục
này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế
quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh
trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa
là Cộng Sản Việt Nam
phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau
khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời
Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc
quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của
đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng
lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau
khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường
Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền
lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối
cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ
đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong
ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa
xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm
chiến lược.
Tổng
Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến
chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh
được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông
Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức”
với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa
cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn
Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng
Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy
ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội
thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo
cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì
trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch
Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm
đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa
thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng
ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo
chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số
phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam
khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội
bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam
“nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để
bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh
những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại
Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết
phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù
bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang
10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết
quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó,
Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia
do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã
chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước
đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã
hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm
1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu
xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc
là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5
tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh
đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản
Việt Nam
đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có
nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có
cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung
Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ
tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ
thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn
cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã
hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là
tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên
trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh
đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí
cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba
ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ
Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu
ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội
chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người
không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn
Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản
Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với
Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn
cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng
minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua
những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất
trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động
cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con
đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn
biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là
bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị
loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không
“nhất trí!”
Nguyễn
Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì
biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu.
Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã
qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60
phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin”
cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời
phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại
khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ
chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi
Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có
tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng
vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục
Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng
Sản Việt Nam
thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào
Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu
số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù
không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và
hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều
tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn
toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ,
và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam.
Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về
Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung
Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh
và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà
Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ
Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo
cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa
Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là
những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành
Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố
cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được
Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh
đạo cao cấp nhất của Việt Nam.”
Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề
nghị... 'Việt Nam và
Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao
cấp của Việt Nam
đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng
Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ
này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy,
thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam
vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội!
Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái
lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam,
Cuba,
Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có
phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ
nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương
đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ
những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy
tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến
khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng
dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì
khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính
sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với
các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên
cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không
cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là
sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời
không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời
Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn
bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế
là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc
dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho
Việt Nam
vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ
tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ
khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi
tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân
Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào
cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt
Nam mới thực sự độc lập!
Trích: Người Việt
9.4
|