|
GS Lê Xuân Khoa phân tích thế lựa chọn của Hà Nội:
Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt
Cuối Tháng Bảy vừa qua, một nhóm
trí thức trong và ngoài nước tổ chức một cuộc Hội Thảo Hè chủ đề “Biển
Ðông và An Ninh Con Người,” tại Ðại Học Temple, Philadelphia. Nội dung
cuộc hội thảo ra sao, đúc kết như thế nào, vai trò của trí thức trong
và ngoài nước, đặc biệt, các lựa chọn trước lịch sử của chế độ Hà Nội
là gì? Người Việt phỏng vấn Giáo Sư Lê Xuân Khoa, một trong những tham
dự viên cuộc hội thảo này. Giáo Sư Lê Xuân Khoa nguyên là chủ tịch
Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á; nguyên giáo sư thỉnh giảng trường Cao Học
Nghiên Cứu Quốc Tế Ðại Học Johns Hopkins - Washington D.C.; trước 1975
là giáo sư triết Ðại Học Văn Khoa và phó viện trưởng Viện Ðại Học Sài
Gòn.
|

|
|
Giáo Sư Lê Xuân Khoa. (Hình: Triết Trần/Người Việt)
|
ÐQAThái (NV): Một cách tóm tắt, giáo sư
có thể cho biết đôi nét về nội dung cuộc hội thảo “Biển Ðông và An Ninh
Con Người?”
GS Lê Xuân Khoa:
Hội Thảo Hè do một nhóm các chuyên gia và trí thức hải ngoại tổ chức
hàng năm. Năm nay, họ chọn chủ đề “Biển Ðông và An Ninh Con Người.” Ðề
tài này được chọn là để tiếp nối một loạt những hội nghị đã có trước
đó. Chẳng hạn, ở Ðại Học Yale hồi năm ngoái cũng đã có một hội thảo chủ
đề như vậy, với sự tham dự của các học giả ngoại quốc, Việt Nam trong
và ngoài nước. Sau đó, vào Tháng Ba năm nay, lại có cuộc hội thảo cũng tại
Ðại Học Temple, cũng về chủ đề này và vẫn có sự tham dự của các học giả
ngoại quốc và Việt Nam. Riêng Hội Thảo Hè vừa rồi ở Philadelphia, chỉ
có người Việt Nam với nhau mà thôi.
NV: Hội thảo đúc kết được điều gì?
GS Lê Xuân Khoa:
Cuộc hội thảo là đóng góp của những người làm nghiên cứu, học giả chứ
không phải là những người hoạt động xã hội hay chính trị, và những đóng
góp của họ hết sức quan trọng, vô cùng tích cực, vì cho đến nay, tư liệu
được đưa ra rất cần thiết về mặt lịch sử cũng như về mặt pháp lý để Việt
Nam đối phó với Trung Quốc và cũng để có thể đưa ra trước công luận quốc
tế nhằm thuyết phục quốc tế rằng Trung Quốc có những đòi hỏi rất ngang
ngược và sai lầm về chủ quyền tại khu vực biển Ðông. Quan trọng hơn cả,
tư liệu được đưa ra chứng tỏ rằng luận cứ của Việt Nam là đúng.
Cho đến bây giờ chúng ta
thấy, phía chính quyền Việt Nam chỉ có những lời tuyên bố về chủ quyền
của Việt Nam chứ không đưa ra được những chứng cứ lịch sử rõ ràng để chứng
tỏ với quốc tế và với Trung Quốc về chủ quyền của Việt Nam.
Trong khi đó, Trung Quốc
đưa ra rất nhiều tài liệu lịch sử để nói Hoàng Sa, Trường Sa, biển
Ðông, mà họ cho là của họ. Với anh em trí thức trong nước, một mặt bị
chính quyền làm khó dễ, ngăn cản không được nghiên cứu tự do, một mặt
không có điều kiện đi nghiên cứu ở các nước. Trong khi đó, ngoài này
thì các học giả và các nhà nghiên cứu có rất nhiều phương tiện và họ
nghiên cứu đến nơi đến chốn.
Do đó tôi thấy đóng góp
cụ thể và tích cực nhất của hội thảo vừa rồi là những tài liệu tích cực,
giá trị và cần thiết cho Việt Nam dùng trong các cuộc thương thảo đa
phương với Trung Quốc và với các nước ASEAN trong việc giải quyết vấn đề
biển Ðông.
|

|
|
Trung Tá Lê Bá Hùng, người Mỹ gốc Việt, hạm trưởng
chiến hạm USS Lassen, đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Việt Nam
sau 35 rời xa trong chuyến thăm Ðà Nẵng hôm 7 tháng 11, 2009. (Hình:
Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
|
NV: Những trí thức và chuyên gia tham dự
cuộc hội thảo, mục tiêu họ muốn nhắm đến là gì?
GS Lê Xuân Khoa:
Tôi nghĩ rằng tất cả những người dự hội thảo đều quan tâm sâu xa về hiểm
họa Trung Quốc. Cho nên mục tiêu của anh em là, nếu mình không có một
tiếng nói hay cuộc vận động nào để ngăn chặn Trung Quốc, chúng ta sẽ mất
cơ hội bảo vệ chủ quyền đất nước của mình.
NV: Ðối tượng nhắm tới để truyền tải
thông điệp này là ai?
GS Lê Xuân Khoa:
Có nhiều đối tượng. Ðối tượng thứ nhất nói chung là dư luận quốc tế và
thứ hai là với tất cả các quốc gia trong khu vực biển Ðông muốn đối thoại
đa phương để giải quyết xung đột, trong đó chủ yếu là Việt Nam.
NV: Việt Nam, ý ông muốn nói nhà cầm quyền
Việt Nam?
GS Lê Xuân Khoa:
Vâng, vì nhà cầm quyền Việt Nam mới có đủ tư cách dự các hội nghị quốc
tế về vấn đề biển Ðông. Cộng đồng hải ngoại chúng ta không thể vào dự hội
nghị được. Chúng ta không thể đưa ra được những giải pháp của chúng ta,
mà chỉ có thể ở bên ngoài đưa ý kiến thôi. Ðịnh chế pháp lý có thẩm quyền
và có trách nhiệm để thảo luận và ký kết với quốc tế là chính quyền Việt
Nam hiện thời.
NV: Công việc của trí thức và chuyên
viên hải ngoại, liệu có thể gây ngộ nhận, nhất là đối với người Việt
Nam ở nước ngoài?
GS Lê Xuân Khoa:
Tôi xin nói ngay rằng, bề mặt có vẻ là như vậy, nhưng có một khía cạnh
khác nữa là chính khi Việt Nam chọn con đường đó và nhận sự đóng góp của
chúng ta và hợp tác với quốc tế để đối thoại với Trung Quốc thì như vậy
Việt Nam đã chọn con đường thay đổi, cả về mặt chính trị nữa, vì không
thể vừa hội nhập lại vừa tiếp tục dùng mô hình Trung Quốc cai trị Việt
Nam.
Tôi thấy đây là cơ hội để
chúng ta cùng với quốc tế thay đổi thể chế và cách cai trị của chính
quyền hiện hữu ở Việt Nam. Việt Nam phải hội nhập cộng đồng quốc tế thật
sự, tức là hội nhập vào xã hội phi-cộng sản, một xã hội dân chủ biết
tôn trọng nhân quyền và dân chủ.
NV: Liệu đây là một tiến trình sẽ phải xảy
ra, hay chỉ đơn giản là một ước mơ?
GS Lê Xuân Khoa:
Tôi không nghĩ đây chỉ là một ước mơ, mà là một
tiến trình dĩ nhiên sẽ phải xảy ra. Tôi muốn nói thêm, Hà Nội, tức
chính quyền hiện hữu, nếu họ chọn con đường độc lập với Trung Quốc và hội
nhập với quốc tế thì không thể tiếp tục hành xử như xưa nay nữa. Có những
điều kiện giúp cho Việt Nam thay đổi, chẳng hạn muốn có sự đóng góp của
trí thức trong nước thì phải cho người ta được tự do tham khảo chứ không
ngăn cấm như Hà Nội từng đóng cửa Viện Nghiên Cứu IDS. Nếu chính phủ Việt
Nam tiếp tục cấm không cho trí thức trong nước nghiên cứu và vẫn cứ bắt
bớ những người lên tiếng bênh vực chủ quyền Việt Nam, thì như thế Việt Nam
đã có một sự lựa chọn, lựa chọn đi ngược lại quyền lợi dân tộc, cộng đồng
hải ngoại và với cả quốc tế nữa.
Nếu nhà nước Việt Nam
tuyên bố mở cửa - nhưng tôi tin rằng họ sẽ không tuyên bố công khai như
thế đâu - họ sẽ phải mặc nhiên đón nhận những đóng góp đó. Trong trường hợp này, chúng ta cũng cần nói rõ là phải
có điều kiện song song, tức là phải để cho trí thức được tự do nghiên cứu,
để cho tiếng nói yêu nước của người trong nước được phát biểu. Nếu như
thế, tất cả những người đã phát biểu bằng lòng yêu nước mà cho đến bây
giờ vẫn bị bắt bớ, giam cầm, sẽ phải được thả ra. Như thế mới chứng
tỏ được thiện chí của Việt Nam.
Một giả thuyết
nữa, là chính phủ Việt Nam vẫn không chịu làm chuyện đó, tức không thả
những người đã bị bắt, và cũng không hoàn toàn cởi mở cho sự đóng góp của
trí thức. Trong trường hợp này, câu hỏi là liệu chúng ta có nên đóng
góp cho chính phủ Việt Nam không?
Thật ra, khi chúng ta công bố những tài liệu đó cho quốc tế thì tức là
Việt Nam đương nhiên cũng được dùng tài liệu đó rồi. Có thể họ dùng, hoặc
không dùng, đó là quyền của họ. Vậy thì, dù họ có nhận hay không nhận,
chúng ta vẫn làm những việc ấy vì bổn phận của chúng ta đối với đất nước
của chúng ta. Nếu tiếng nói của chúng ta không được nhà nước Việt
Nam lắng nghe thì chúng ta phải cố gắng vận động thành công với Hoa Kỳ,
với các nước ASEAN, với cộng đồng quốc tế; và chúng ta sẽ chứng tỏ với
nhân dân trong nước rằng chính quyền Việt Nam không còn phục vụ cho quyền
lợi quốc gia nữa, và lúc đó chúng ta có được đầy đủ lý do cùng với trí
thức tiến bộ trong nước, nhân dân trong nước nhìn thấy rõ cái không thiện
chí của chính phủ Việt Nam.
Tôi nghĩ rằng, chính quyền Việt Nam đã đến
lúc phải thức tỉnh và phải nhìn nhận được điều đó, nếu không thì họ phải
nhận tội lỗi trước lịch sử.
NV: Cám ơn giáo sư đã trả lời phỏng vấn
của Người Việt.
|