|
13545
9
/2010-10-26-gia-lai-de-gia-lam-phat-khong-con-la-an-so
Giá lại đè giá, lạm phát không còn là ẩn số
Bình An
LTS DC&PT: Mặc dầu chính phủ Nguyễn Tấn Dũng hứa
là không để lạm phát cao hơn mức tăng trưởng kinh tế. Nhưng hiện
nay thì tình trạng đang đi ngược lại: Vào cuối năm mức lạm phát
đang cao hơn mức tăng trưởng kinh tế, nghĩa là lợi tức và sức mua
của người dân đang giảm xuống, đồng tiền mất giá. Nạn lạm phát đưa
lại hậu quả bất lợi nhất cho những người ăn lương và lợi tức thấp. Đó
là hàng triệu công nhân và viên chức. Hàng chục triệu nông dân
nghèo cũng phải chịu chung số phận đói nghèo thêm!
TIN LIÊN QUAN
·
Giá tiêu
dùng tháng 10 tăng cao nhất trong 15 năm qua
·
Thực
phẩm tăng giá, sức ép dồn lên lạm phát
·
Lời cảnh
báo từ "kẻ phá bĩnh" mang tên lạm phát
·
"Lạm phát gia tăng do tỷ giá"
(VNR500) -
Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng cao trong những ngày gần
đây. Trong khi, Việt Nam lại đang nhập khẩu
lạm phát. Ẩn số lạm phát ngày càng hiển hiện rõ, đặc biệt vào thời
điểm cuối năm.
Được đà tăng giá
Chị Hương
(Long Biên, Hà Nội) sáng 25/10 đi chợ mắt tròn mắt dẹt khi giá thịt
lợn tăng mạnh, mức tăng phổ biến từ 5.000-15.000 đồng/kg tùy loại. Chẳng
hạn, giá thịt nạc thăn là 80.000 đồng, tăng mạnh so với mức
6.500-7.000 đồng trước đó. Thịt nạc vai 65.000 đồng/kg, tăng 5.000
đồng/kg; ba chỉ 60.000-65.000 đồng/kg, tăng 5.000 đồng/kg, sườn
thăn 65.000 đồng/kg, tăng 7.000 đồng/kg.
Tại chợ cóc
Mỹ Đình (huyện Từ Liêm), giá thịt chân giò 56.000 đồng/kg; thịt ba
chỉ 60.000 đồng/kg, sườn thăn 75.000 đồng/kg tăng 5.000 đồng.
Nguyên nhân
là do từ 24/10, Thông tư 133/2010/TT-BTC quy định về việc tăng thuế
nhập khẩu thịt lợn có hiệu lực. Một ngày sau đó, giá mặt hàng thịt
lợn, các sản phẩm liên quan đến thịt lợn đã tăng, theo.
Báo ĐĐK
thông tin, một số tiểu thương cho hay, không những giá thịt lợn
tăng mà các phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ tươi, ướp lạnh
hoặc đông lạnh cũng tăng mạnh.
Nguyên nhân
được lý giải: do diễn biến thời tiết phức tạp khiến cho tổng đàn
gia súc gia cầm bị giảm mạnh sau lũ. Nguồn cung thịt bị sụt giảm
đột ngột.
Thêm vào đó,
hiệu lực tăng thuế nhập khẩu thịt lợn lên 40% đã tác động kép đến
giá. Như vậy, giá thịt lợn đã bị đẩy lên do khan hiếm nguồn cung
trong nước, thì nay, lại được kích vì nguồn hàng nhập khẩu từ bên
ngoài cũng đã hạn chế.
Bình luận
việc tăng thuế thịt lợn nhập khẩu, các chuyên gia kinh tế cho rằng,
suy cho cùng, đấy là hành động tốt để bảo hộ ngành chăn nuôi trong
nước, thế nhưng thời điểm này, lợi ít hại nhiều.
Ông Hoàng
Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN-PTNT, cũng phải thừa nhận
rằng, thời điểm này tăng thuế nhập khẩu thịt sẽ ảnh hưởng tới một
bộ phận người tiêu dùng, bởi giá những mặt hàng này sẽ tăng lên.
Chuyên gia nghiên cứu về thị trường của Bộ Công
Thương cho rằng, trong khi Chính phủ đang nỗ lực bình ổn giá cuối
năm thì thời điểm hiệu lực của Thông tư đã cản trở nỗ lực kìm giá. Tổng
đàn gia súc gia cầm đã giảm mạnh, nguồn cung thiếu, giá nhập khẩu
tăng hàng nhập khẩu khó thể bù vào phần thiếu hụt.
Dù cố bình ổn giá lương thực thực phẩm, cũng
không thể vượt qua được cái cớ "thuế tăng, giá tăng". Kéo
theo đó, là những sản phẩm thay thế như gà, bò cũng tăng mạnh.
Bên cạnh đó, giá gạo cũng tăng đáng kể, trung
bình cũng từ 5.000-10.000 đồng/kg, điển hình như gạo Bắc thơm đã
tăng từ 125.000 đồng/kg lên 135.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Lan, chủ
cửa hàng gạo ở Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội, dự đoán, giá gạo từ nay đến
cuối năm ở miền Bắc còn tăng nữa.
Nguyên nhân là do từ nay đến tháng 3-4 sang năm
mới có vụ gặt mới, trong khi vụ lúa vừa qua không được mùa, gạo lép
nhiều. Miền Trung thì ngập nặng do lũ. Gạo trong Nam chuyển ra cũng
nhiều, nhưng thói quen của người miền Bắc là dùng gạo ngoài này nên
không có tác dụng bình ổn giá nhiều.
Không thể không lo lạm phát
Để đạt được mục tiêu Chính phủ đặt ra CPI từ
nay đến cuối năm phải khống chế ở mức 1,56%, bình quân mỗi tháng
tăng không quá 0,5%. Tuy nhiên, theo quy luật giá hàng hoá, dịch vụ
luôn tăng cao vào dịp cuối năm, đặc biệt là những tháng giáp Tết,
đồng thời với việc giá nguyên liệu đầu vào tăng cao… là những lực
cản không dễ vượt qua.
Điển hình nhất, chỉ số giá tiêu dùng tháng 10
đã vượt ngưỡng 1% và tiệm cận ngưỡng Chính phủ đặt ra.
Có thể nói, ẩn số lạm phát đã lộ diện khi giá
tiêu dùng tăng cao, khi lãi suất USD tăng, dư nợ tín dùng bằng USD
tăng cao gấp nhiều lần so với tốc độ tăng dư nợ tín dụng bằng VND;
khi giá vàng liên tiếp lập đỉnh mới; khi giá tăng ở hầu hết các
nhóm hàng hóa, dịch vụ…
Điều đáng quan tâm là, theo Trung tâm Thông tin
tư liệu (Viện Nghiên cứu quản lý TƯ) thoạt nhìn có vẻ lạm phát tăng
không do yếu tố tiền tệ, bởi tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn thuộc
loại thấp so với cùng kỳ năm trước và so vói tốc độ tăng theo định
hướng năm 2010; lãi suất huy động và lãi suất cho vay vẫn ở mức
cao… mà do yếu tố chi phí đẩy (giá nguyên, nhiên, vật liệu), hoặc
tăng do yếu tố thời vụ.
Tuy nhiên, nhìn tổng quát, việc tăng giá tiêu
dùng với tốc độ cao do một số nguyên nhân đáng chú ý:
Một là, về
mặt tiền tệ, tín dụng, tốc độ tăng thấp của dư nợ tín dụng trong 9
tháng là so với số dư đã tăng rất cao của cuối năm trước, nên quy
mô tuyệt đối đến nay vẫn lớn lên rất nhiều và độ trễ của nó có lẽ
đã chậm hơn so với tính toán và dự báo của các chuyên gia. Tâm lý
và kỳ vọng lạm phát cũng còn lớn do giá vàng, giá USD tăng cao…
Hai là, nhập khẩu lạm
phát. Giá hàng hóa nhập khẩu tiếp tục tăng cao so với năm trước. Chỉ
lấy riêng các mặt hàng có đơn giá chung để tính tác động, thì kim
ngạch nhập khẩu do giá tăng đã lên tới trên 3,6 tỷ USD, chiếm 35,1%
tổng mức tăng của kim ngạch nhập khẩu so với cùng kỳ năm trước.
Nếu nhân thêm với
tốc độ tăng tỷ giá VND/USD bình quân 9 tháng năm nay so với cùng kỳ
năm trước (7,05%), thì kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng trên tính
bằng VND đã tăng tới 16,3%. Đây chính là “nhập khẩu lạm phát”, hiệu
ứng phụ của việc tăng tỷ giá.
Trong khi đó, từ
nay đến cuối năm, thị trường giá cả hàng hoá còn diễn biến phức
tạp. Ở trong nước, các yếu tố chủ yếu có thể sẽ là nguyên nhân gây
áp lực đến mặt bằng giá nói chung.
Đó là việc tăng
giá một số hàng hoá, dịch vụ sẽ tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến giá cả của những hàng hoá và dịch vụ khác; nhu cầu
tiêu dùng hàng hoá tăng vào dịp cuối năm; công trình, dự án chạy
tiến độ giải ngân để hoàn thành kế hoạch năm; tỷ giá giữa VNĐ và
USD tăng; nguy cơ thiên tai, dịch bệnh... tác động trực tiếp đến
nguồn cung lương thực và thực phẩm.
Trên thế giới,
việc giá dầu thô tăng cũng là yếu tố bất lợi rất lớn đối với nền
kinh tế nước ta, vì khối lượng nguyên liệu phi dầu mỏ trong “rổ
hàng hoá nhập khẩu” của Việt Nam luôn luôn lớn gấp hai lần các sản
phẩm xăng dầu nhập khẩu.
Điều này không chỉ
đồng nghĩa với việc giá nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới có tác dụng
“khuếch đại” “rổ hàng hoá nhập khẩu” của nước ta lớn hơn, mà quy mô
nhập khẩu sốt nóng giá cả thế giới vào thị trường trong nước cũng
lớn, cho nên tác động tiêu cực tới các kết quả kiềm chế lạm phát
cũng lớn theo.
Ngoài ra, theo
thông lệ của thị trường thế giới là giá nguyên liệu tăng trong quý
IV các năm. Cụ thể, từ đầu thập kỷ đến nay, trừ 2008, còn lại tất
cả các năm giá nguyên liệu thế giới đều tăng hầu như liên tục trong
những tháng cuối năm và mức tăng bình quân của tám năm này là 3,4%
mỗi tháng.
Như vậy, nếu theo
“thông lệ” này, chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn gấp bội
cả trong cuộc chiến kiềm chế lạm phát lẫn kiềm chế nhập siêu trong
những tháng cuối năm, bởi đặc thù độ mở ở cả đầu ra xất khẩu lẫn
đầu vào nhập khẩu quá lớn, cũng như kết cấu của các “rổ hàng hoá”
xuất, nhập khẩu của nền kinh tế nước ta như đã nói ở trên.
Trích: Diễn đàn Kinh tế VN
(VNR 500), 26.10
|