DC&PT - Thời Sự 2010

 

 

 

 

Công dân thị xã cũng chạy ăn từng bữa

 

 

 

LGT DC&PT: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước CHXHCNVN, nhiều lần đã tuyên bố là, quyết không để người dân nào bị đói cả. Nhưng thực tế thì lại hoàn toàn khác. Nhiều nơi, nhiều người vẫn bị đói từ tháng này sang tháng khác. Không phải chỉ người dân ở miền sâu miền xa mới lâm vào cảnh đói nghèo, mà cả nhiều nông dân ở không xa Hà nội bao xa cũng phải chạy ăn từng bữa.

 

Trong khi đó thì năm qua VN đã xuất khẩu tới 5-6 triệu tấn gạo, là nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo. Nhưng nhà báo của tờ Nông nghiệp VN, cơ quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã phải nói tới nghịch cảnh:

 

„Việt Nam là một cường quốc xuất khẩu gạo, nói đến cụm từ đói cơm, nhiều người cho đó là nghịch lý nhưng cái nghịch lý ấy vẫn tồn tại một cách hiển nhiên và dai dẳng“

 

Ngay cả ở thị xã Chí linh (quê của Nguyễn Trãi) thuộc tỉnh Hải dương, sát cạnh Hà nội, hàng ngàn người dân đang phải chịu cảnh đói, chạy ăn từng bữa. Nhà báo của Bộ Nông nghiệp tường thuật là chỉ có cán bộ đương chức và về hưu mới có tiền mua thịt:

 

„những người có tiền mua thịt thường xuyên chỉ có 6-7 ông cán bộ về hưu, đương chức, và một vài hộ khá có người đi nước ngoài, còn lại 80% là đói tiền, không có tiền tiêu“

 

Tuần tới Hội nghị Trung ương 12 sẽ họp để chuẩn bị cho các ông lớn chia ghế chia phần trong Đại hội 11 vào đầu năm tới. Chắc các quan cách mạng đỏ, các tay triệu phú Dollar ngày nay, chẳng còn ai quan tâm tới cái cảnh khố rách áo ôm của thế hệ cha ông họ. Cho nên họ cũng vô cảm với những người nông dân đang vật vã với nạn đói. Nhưng trong Hội nghị Trung ương 12 và Đại hội 11 các quan lớn vẫn hô to khẩu hiệu, ĐCSVN bảo vệ quyền lợi của người lao động và nông dân!

 

Dưới đây là hai bài tường thuật về cảnh đói của nông dân ở một số nơi ở miền Bắc.

 

 

 

 

 

 

 

Cứ ngỡ chỉ có đồng bào dân tộc miền núi là đói thấu ruột, nào ngờ, ở TX Chí Linh (Hải Dương) - một tỉnh công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp phát triển mạnh ở ĐBSH, nhiều hộ dân vẫn đong ăn từng bữa…

Cứ ngỡ chỉ có đồng bào dân tộc miền núi là đói thấu ruột, nào ngờ, ở TX Chí Linh (Hải Dương) - một tỉnh công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp phát triển mạnh ở ĐBSH, nhiều hộ dân vẫn đong ăn từng bữa… 

 

>> Đói thấu mùa giáp hạt
>> Lời khẩn cầu từ Pắc Cạm
>> Leo 20 km đường núi lấy một can nước

 

Trăm thứ đổ đầu hạt thóc

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết "nâng" huyện Chí Linh (Hải Dương) thành TX Chí Linh. Và dự định vào tháng tới, TX này sẽ long trọng tổ chức lễ công bố. Quả là một sự phát triển! Những ngày này về TX Chí Linh, tiếp xúc với một số cán bộ cấp TX, phường thì họ vui lắm, nhưng với xã, thôn ở những xã khó khăn thì họ lại tỏ ra lo lắng. Hỏi sao, một cán bộ xã Hưng Đạo bảo: “Nghèo khó thế này, đói thế này, lên TX thì mọi dịch vụ sẽ tăng lên, trong khi, dân thì chỉ có mỗi hạt thóc, chỉ trông vào hạt thóc, hạt thóc thì sao nuôi nổi dân thị thành chứ”?

Nghe câu chuyện ấy, tôi tìm đến Phòng NN-PTNT TX Chí Linh, Trưởng phòng Nguyễn Văn Điểu liền liệt kê cho tôi một loạt xã sản xuất nông nghiệp khó khăn, có nhiều hộ nghèo và ở thời điểm này, miếng cơm manh áo với họ rất "căng" như: Hoàng Hoa Thám, Hưng Đạo, Văn Đức, Lê Lợi, Kênh Giang, Bắc An… 

Mớ cá, tép bà Phương tát mương bắt về là bữa "cơm thịt" đầu tiên trong tuần

Tiếp tôi tại trụ sở UBND xã nằm trên một quả đồi cao, Chủ tịch UBND xã Hưng Đạo Phạm Khắc Toàn chỉ tay về bốn hướng: “Chú thấy những cánh đồng lúa của Hưng đạo có đẹp không? 425 ha lúa cho cho có 5.317 nhân khẩu, trung bình mỗi hộ có trên 2 sào ruộng. Tổng sản lượng đạt gần 2.400 tấn thóc, nhà nào ít cũng có 1 tấn thóc/năm. Nếu tính lượng lương thực đó chia cho mỗi khẩu thì dân không thiếu ăn. Nhưng ở xã này, không làm cái gì ra tiền cả, tất tần tật phải trông vào hạt thóc, thu thóc về là bán để trả nợ, chi tiêu, đầu tư tái sản xuất, dù người dân đã vay tối đa 20 tỉ đồng của ngân hàng rồi… nên thiếu ăn. Còn thiếu như thế nào, đói như thế nào, tí tôi cử cán bộ đi cùng chú vào dân thì sẽ thấu”.

Dù là xã miền núi nhưng có quả núi, quả đồi nào là dân ở hết, chật như trong thành phố nên chẳng còn đất dành cho chăn nuôi, cho trồng cây ăn quả, hay lâm nghiệp. Trong khi đó dưới đồng, dù rộng tới 425ha, nhưng vào mùa mưa là nước ngập 3-4m, tàu lớn vào được, biến các thôn, các quả đồi thành những hòn đảo nổi.

“Cũng có nhiều hộ quyết tâm đổi đời lắm, vay mượn đầu tư chăn nuôi trên những con đê, nhưng mà bấp bênh vô cùng, được thì ít, mất với hoà thì nhiều, và mỗi lần như thế nó triệt tiêu tinh thần làm giàu của những hộ dân khác. Cũng phải thôi chú ạ, chúng tôi ngẫm mãi rồi, dân khá khá lên một chút, vay mượn đầu tư, dính một quả lỗ như thế là "gục" hẳn, chả biết bao giờ mới chả hết nợ được. Ngay cả với hạt thóc, đơn giản thế thôi mà làm ra nó, hầu hết các hộ dân ở đây phải đi vay mượn. Từ thuốc BVTV, phân bón, đến công cầy, công đập…

Một số chủ hàng sáo, cửa hàng phân bón, thuốc BVTV, hàng tạp hoá ở xã Hưng Đạo khẳng định với phóng viên, có đến 80% số người mua là mua chịu, trong đó 60% chịu đến mùa gặt mới trả, trả xong lại chịu. Người dân họ chấp nhận mua chịu với giá cao, nên những người bán mới sống được.

Không vay trả tiền ngay thì lại kí nợ với giá cao hơn giá người ta mua bằng tiền mặt. Lúc gặt về, thóc vừa khô xong thì họ đã đến thu rồi, nên giá lúa rẻ, dân thiệt thòi, lại hết thóc, lại đong ăn chịu, lại đầu tư tái sản xuất chịu. Vì sao hạt thóc phải thế, vì nó gánh cả cuộc sống của người dân mà. Cái vòng luẩn quẩn ấy mà nông dân Hưng Đạo còn chưa thoát được thì sao nói tăng thu nhập được, phải không chú?", Chủ nhiệm HTX nông nghiệp Vũ Trí Soạn giãi bầy.

 

80% số hộ cả tuần mới có "bữa tươi"

Thôn Phượng Sơn có 181 hộ, nhưng trưởng thôn Vũ Duy Lương khẳng định, vào thời điểm này, những người có tiền mua thịt thường xuyên chỉ có 6-7 ông cán bộ về hưu, đương chức, và một vài hộ khá có người đi nước ngoài, còn lại 80% là đói tiền, không có tiền tiêu, nếu nhà báo không tin đi theo tôi khắp cái làng này vay 500 ngàn không bao giờ vay nổi. Đói ở đây không như trước là đứt bữa, nhưng để có miếng ăn, dân buộc phải nợ, nợ từ tiền đong gạo, tiền mua rau, tiền mua thịt… Các khoản nợ ấy cứ tích dần, tính dần, lãi mẹ đẻ lãi con, nên dẫn đến 90% các hộ dân phải cắm bìa đỏ để vay ngân hàng, chưa kể nợ ở những chỗ các đoàn thể tín chấp cho vay, vay ngoài… 

Thùng đựng thóc của vợ chồng ông Phương rỗng tuếch

Trưởng thôn Vũ Duy Lương dẫn tôi đi quanh làng, cho tôi tự chọn nhà dân để hỏi. Đến ngôi nhà có tiếng danh hài Xuân Hinh và những tiếng cười khằng khặc, ông Vũ Trí Hội, chủ nhân ngôi nhà mái ngói, tường một, với 8 nhân khẩu chung sống, giải thích: Dân mình nghèo nhưng phải yêu đời mà sống các chú ạ.

Mặc dù có 2 đứa con vào trong Nam làm thuê, nhưng Tết vừa rồi, chúng biếu gia đình được có mấy trăm ngàn. Ông Hội bảo, chúng nó đi làm, nuôi miệng nó không xong, nó cho mình ít nào được ít ấy, cũng là tốt rồi. Còn những người ở nhà, cấy 1,5 mẫu ruộng, thu 3 tấn thóc/năm đấy nhưng mà cứ đến chập này, từ tháng 2 đến tháng 5 là đong ăn từng bữa. Tôi hỏi: Bác có đồng nào trong nhà không cho tôi xem? Ông Hội móc từ trong túi quần ra 2.000đồng nhàu nhĩ cho tôi xem: "Mấy ngày nay tôi vẫn chỉ có đồng tiền này, nhưng còn khá đây, vì tôi còn có tiền trợ cấp chất độc màu da cam, chứ nhiều hộ dân ở đây chẳng có nổi 2.000 đồng đâu chú ạ". Thế hàng ngày bác tiêu bằng gì? “Gạo thì mình đong chịu, hết gạo lại ra bà hàng sáo lấy, kí nợ vào đấy đến mùa gặt họ vào lấy thóc trừ tiền gạo. Thịt cũng mua chịu, kí nợ vào đấy đến mùa thì hàng thịt vào lấy thóc… trừ nợ. Lỡ có ốm, ma chay, cưới hỏi thì vay, không vay được thì… nợ, đến mùa trừ thóc… cứ thế thôi chú ạ", ông Hội lại cười cái khà.

“Nếu nhà nước không đầu tư xây dựng đê để người dân ở đây cấy được 2 vụ lúa cộng một vụ màu/năm ở vùng này thì dân còn đói. Không thể thoát ra được với chỉ một hạt thóc đâu. Chỉ cần các chủ nợ không cho chịu nữa thôi là dân đã lăn ra rồi” -  ông Vũ Duy Lương, trưởng thôn Phượng Sơn.

Đến ngôi nhà vách đất, lợp ngói, nền đất của ông Chu Xuân Phương, trong nhà không có bàn ghế, chỉ có 2 cái gường chân sắt, trong buồng chỉ có những dụng cụ làm ruộng và một sợi dây thừng vắt ngang buồng để treo quần áo, không ti vi, không đài, không bóng đèn tuýp, không chăn ga gối đệp, thế mà ông Phương vẫn khẳng định giờ này nhà tôi còn đầy gạo.

Bà vợ ông Phương đang nhặt mấy con tép ngoài sân vừa đi bắt ngoài đồng về nói vọng vào: “Chú tìm cho tôi 1 tạ thóc trong một nhà ở cái làng này, tôi trả cho chú 10kg tép”. Tôi đi tìm thùng gạo, nhưng chỉ thấy một cái vại đã vỡ được hàn bới xi măng nằm ở góc nhà, trong vại chỉ có một ít… vỏ thóc. Lúc này, ông Phương mới nói thật, gạo đong ăn từng bữa, bữa tối nay vừa đong được nhờ đổi một ít tép nhà tôi bắt ở ngoài đồng để trong cái giá ở trên gường được phủ một cái áo làm đồng. Trưởng thôn Lương rỉ tai tôi: Nông dân mình đây vẫn còn tính sĩ diện, nghèo lắm, đói lắm mà vẫn nói là không.

Đến lúc này ông Phương mới mở lòng: Chả phải chỉ mình nhà tôi không có nhiều gạo trong nhà lúc này, cả xóm, cả xã, cả vùng này cũng thế. Gạo thì dân còn đong chịu được, hàng sáo họ cho chịu, mùa đến họ lấy thóc, còn thịt cá thì chịu nhiều quá họ không cho, nên ở đây hầu hết là tuần mới có một bữa cơm thịt lèo bèo mỡ. Trưởng thôn Lương cắt ngang: “Phải đến 80% số hộ ở đây tuần mới ăn được bữa cơm thịt. Tôi ở sát dân tôi chả lạ gì. Danh sách nợ của hàng thịt cứ dài dằng dặc” (Còn nữa)

 

 

Trích: Nông nghiệp VN 18.3

 

_________________________________________

 

 

 

Đói thấu mùa giáp hạt

 

 

 

 

Nhiều đúc kết của người xưa có thể không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “tháng ba ngày tám” với không ít nông dân vẫn còn là nỗi ám ảnh, nhắc nhở về cái đói thấu ruột mùa giáp hạt. Ngày nay, nói đến cụm từ đói cơm, nhiều người cho đó là nghịch lý nhưng cái nghịch lý ấy vẫn tồn tại một cách hiển nhiên và dai dẳng

LTS: Nhiều đúc kết của người xưa có thể không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “tháng ba ngày tám” với không ít nông dân vẫn còn là nỗi ám ảnh, nhắc nhở về cái đói thấu ruột mùa giáp hạt. Việt Nam là một cường quốc xuất khẩu gạo, nói đến cụm từ đói cơm, nhiều người cho đó là nghịch lý nhưng cái nghịch lý ấy vẫn tồn tại một cách hiển nhiên và dai dẳng. Những câu chuyện mà người dân nghèo kể cho phóng viên trong loạt phóng sự này cũng chính là những mong mỏi về một sự thay đổi để họ bớt cơ cực hơn.

 

Nhà cỏ ở Há Tỏ Sò

Đá trước mặt, đá sau lưng, đá dưới gót chân, đá kề sát ngực… Ở huyện Mèo Vạc (Hà Giang), đâu đâu cũng có hiện diện của hàng hà sa số đá teo mèo. Chúng nhiều đến mức, đi cả ngày đường leo núi, gân nhão, bắp thịt căng cứng mà ngửa mặt lên trên trời vẫn thấy một màu xám đen của đá đến bất tận.

Trên chuyến xe khách lên Mèo Vạc, để giết thời gian cho qua những khúc cua, những con dốc ngang tầm mây phủ, tôi làm quen hết với mọi người. Hỏi chuyện về cơm ăn áo mặc, nhiều người ồ lên: “Mèo Vạc nghèo nhất Hà Giang, Hà Giang lại nghèo nhất Việt Nam, vậy là ở đây nghèo nhất nước đó”. 

Mẹ con người Mông đi rừng về

Tá túc tạm một đêm ở thị trấn, ngay từ sáng sớm, tôi đã lên xã Lũng Pù rồi từ Ủy ban xã theo đường mòn xuống bản Há Tỏ Sò. Ở đây, đá nhiều đến mức con bò, con lợn không dám thả rông vì sợ nó sẩy chân ngã xuống vực. Giữa hoàn cảnh khắc nghiệt đó, người dân đập đá tảng để bốc từng vốc đất, để vào trong đó một hai hạt ngô giống. Dân bản đập đá xếp thành hàng rào quanh nhà chống con dê, con lợn, con bò đi mất, chống kẻ trộm chui vào. Đến tận cùng cuộc đời, người dân ở đây khi chết cũng được vùi trong những ngôi mộ xếp bằng những hòn đá. Những ngôi mộ không có bia, trơ ra cùng thời gian vẫn một màu mốc meo, xám xịt của đá…

Chờ mãi, Sình Mí Dính mới đi lấy nước về. Dính năm nay mới 25 tuổi, đã có 2 con. Sáng Dính đi lấy nước, vợ đi lấy tấm bờ-lô về làm nhà cho con lợn nên hai đứa con bị nhốt ở nhà. Cửa mở toang, con chị độ 5 - 6 tuổi, trần truồng, thân đầy tro bụi, bẩn thỉu như người nguyên thủy ào ra bỗng thấy người lạ khóc oà lên, trốn cả vào trong góc nhà. Gia đình Dính có 3 - 4 tháng thiếu ăn, phải đi đập đá, xát đá thuê cho đám mở đường, mỗi ngày được 50.000 đồng, nhưng cũng thiếu việc suốt. Nhà lại sắp hết mèn mén để mà ăn. Dính cũng có cái xe máy Tàu nát bét nhưng không phải do dành dụm có tiền mua mà bởi đổi một con bò cho nhà anh trai lúc làm ma đứa con. Đứa bé bị đau bụng đi ngoài, cúng giàng (cúng trời) mãi chẳng khỏi đến khi đưa đi bệnh viện, dọc đường cứ lả đi, rồi chết.

Chiếc áo khoác mới nhất và... duy nhất được đem ra mặc khi có khách

Trưởng bản Sình Mí Là bảo bản có 48 hộ thì có 36 hộ nghèo, 12 hộ đói, nhưng Tết rồi chỉ được hỗ trợ một ít thôi. Những hộ đói, nghèo không có thịt lợn, không mổ gà, không có rượu uống nên ngày Tết chẳng khác gì ngày thường, có khi buồn hơn, chẳng dám ra khỏi nhà vì không có rượu, thịt mời anh em, dân bản.

Thời tiết ở Mèo Vạc có hai mùa, mùa khô từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau. Năm nay trời chẳng có tí mưa nào, chỉ có gió nên khô đến mức hạt ngô bỏ xuống đất chẳng nảy mầm nổi, vài ngày là bị con kiến, con dế tha lôi đi mất. Hạn đến kiệt cùng cây cỏ còn khô quắt, cây rau cũng lụi tàn nên ngoài đói ngô, đồng bào ở đây còn đói cả rau. “Nhà giàu canh chua có mắm, muối, mỡ, mì chính nghĩa là nấu mặn, còn nhà bình thường chỉ có canh chua nhạt, chẳng có cái gì bởi nếu cho muối không vào mà không có mỡ, có mì chính thì mặn chát, không ăn nổi với mèn mén”. Trưởng bản Sình Mí Là bảo tôi cách phân biệt giàu nghèo nhưng mấy ngày tôi ở Há Tỏ Sò, ăn mấy bận mèn mén mà không thấy nhà nào bát canh chua có mỡ, mì chính cả. Toàn canh nhạt hoặc chan với nước lã.

Mèn mén chan nước lã

Nhà Sình Mí Và thực sự là một ngôi nhà cỏ đúng nghĩa, xung quanh nhà được che đậy bằng thân cây ngô nhưng hở thông thống; con chó, con gà vẫn chạy ra, chạy vào như chỗ không người. Cột kèo trong nhà cái lớn bằng bắp tay, bé bằng cổ tay ngay cột cái cũng chưa bằng cái bắp chân người lớn. Mái nhà đã mục đến độ đêm nằm đếm được cả trăm ông sao sáng, trời mưa trong nhà ướt chẳng kém gì bên ngoài nên được Và căng một tấm bạt cũ đậy tạm. Và năm nay 38 tuổi, đã có 4 con, đứa lớn nhất 14 tuổi, đứa bé mới chỉ lẫm chẫm đi nhưng chỉ có duy nhất một cái giường mục cho vợ chồng Và ngủ. Bốn đứa con ngủ trên cái giàn bếp đầy bồ hóng và chăn, quần áo rách vứt tứ tung. Gió mới đủ lay ngọn cỏ voi ở ngoài hàng rào đá thì cả căn nhà đã rung chuyển, kẽo kẹt như đưa võng. Không biết ngôi nhà đó có trụ nổi qua mùa gió ở Lũng Pù, nơi những ngọn gió mải miết thổi ào ào, rùng rùng trườn qua những vách đá mèo tái xám vùng biên ải.

Một trong những ngôi nhà cỏ ở Há Tỏ Sò

Nhà Và có đến 6 tháng đói, trên giàn bếp chẳng còn nổi một bắp ngô để nấu mèn mén. Nhà nước quan tâm cho Và 70 tấm bờ-lô để lợp nhà nhưng 30 tấm đã bán được 700.000 đ để biến thành… mèn mén trong bụng người, còn 40 tấm hiện đang cho vay, có lẽ cũng sẽ biến thành mèn mén hoặc rượu ngô. Khi tôi đến, nhà Và nát quá, chật đến nỗi chỉ kê vừa chiếc giường. Định tựa lưng vào cái cột nhà liền bị trưởng bản kéo lại, mặt thảng thốt: “Cẩn thận, nó mà đổ thì không khéo cán bộ phải đền đấy”.

Lúc tôi đến, Và đang mải miết xếp hàng rào đá thuê trên một đám nương gần nhà. Cả 5 người trong bản làm 5 ngày mà chưa xong được đám nương đó, ước còn phải hai ngày nữa mới xuể. Mỗi người làm được khoán 4 xinh ngô (cỡ 60 kg) cho một tuần làm việc cật lực, đập đá phồng rộp tay, có khi bị đá văng ra cứa chảy cả máu chân, không có mèn mén nuôi mà buổi trưa chỉ được có mấy hớp rượu rồi lại làm đến tối mịt.

Nhà Vừ Mí Pó, Sình Mí Cha cũng nghèo xơ, nghèo xác như nhà Và. Ngay cả Vừ Mí Già, một thanh niên mới 22 tuổi nhưng cũng chỉ ở trong ngôi nhà làm bằng… thân cỏ voi. Già không có bò, có 1 con gà, 1 con lợn bé và 6 tháng đói ăn, đói rau. Đúng bữa cả nhà đang ăn mèn mén. Người Mông không có bát, không có đũa mà mỗi người một cái môi lớn, xúc mèn mén trong cái chậu ra ăn, rồi lại chiêu vài môi canh cho trôi miếng mèn mén trong cổ họng. Vợ Già đang nuôi đứa con còn ẵm ngửa, đỏ hỏn cũng một tay bế đứa bé, một tay môi xúc mèn mén ăn. Không có tiền mua rau cải làm canh chua, mẹ già lom khom đến bên can nước lã rồi chế vào cái loa bằng nhựa, cả nhà múc ăn xì xoạt. Người dân ở đây không dùng tăm, có lẽ cũng bởi lý do ăn bột mèn mén suốt, cả năm có lẽ chỉ được thịt “mắc răng” lúc ngày Tết, ngày lễ mà thôi. (Còn nữa)

 

Trích: Nông nghiệp Việt nam 15.3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục