|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Đại học - vẫn bên lề hiện thực xã
hội
PGS. Đào Công TiẾn
·
Để
“dân giàu nước mạnh” và tiến kịp thời đại, chúng ta đã khẳng định giáo dục
và đào tạo (GD-ĐT) cùng với khoa học và công nghệ phải là quốc sách hàng
đầu. Mục tiêu dấn thân của đại học (ĐH) không thể là cái gì khác, mà phải
(1) vì dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và nhân tài; và (2) vì phát triển
khoa học và công nghệ (KHCN) để giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt
ra từ thực tiễn cuộc sống của đất nước. Cả hai mục tiêu dấn thân đó của
ĐH không thể thiếu vai trò của nghiên cứu và triển khai khoa học.
Trường ĐH phải
song hành bằng cả hai chân - giảng dạy, học tập và nghiên cứu, triển khai
khoa học. Và đã là một nhà giáo ĐH, thì không có trọng trách nào hơn là
phải kiên trì rèn luyện vì cái tâm lớn và tầm trí tuệ cao để làm tốt cả
hai nhiệm vụ song hành đó.
Nghiên cứu khoa học chưa
ngang tầm
Hiện thực xã hội luôn có quá
nhiều vấn đề cần có lời giải và phải được giải một cách có hiệu quả. ĐH vốn
có nguồn lực khá lớn mạnh, cả về yếu tố con người lẫn phương tiện vật chất
kỹ thuật để nghiên cứu và triển khai khoa học. ĐH với chức năng, nhiệm vụ
đích thực của nó, trong đó có nghiên cứu và triển khai khoa học, không thể
không có trách nhiệm với những vấn đề đặt ra từ hiện thực xã hội. Đó là
vai trò của nghiên cứu và triển khai khoa học ở ĐH, từ góc nhìn trách nhiệm
xã hội của ĐH không phải chỉ có cung cấp cho xã hội sản phẩm của đào tạo
mà còn phải có sản phẩm của nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ.
Ngay việc học và dạy ở ĐH cũng
phải gắn nghiên cứu và triển khai khoa học thì GD ĐH mới đạt được chuẩn
và chất cần có để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Học và dạy mà không gắn với
nghiên cứu triển khai khoa học thì chỉ có thể học và dạy theo những bài
giảng cũ kỹ, lạc lõng với cuộc sống. Có nhiều tổng kết cho rằng, đối với
không ít lĩnh vực học thuật, trong năm, mười năm nếu không được bổ sung,
cập nhật từ những kết quả nghiên cứu khoa học thì bài giảng không còn
nguyên giá trị, trở thành lạc hậu - lạc lõng trước yêu cầu của cuộc sống.
Cứ bằng lòng với những bài giảng như vậy, rồi đem ra dạy và học, thậm chí
đọc chép và cứ lặp đi lặp lại mãi thì còn gì là sự năng động của GD ĐH.
Đã có không ít cảnh báo về "hiểm họa" thầy trở thành "máy
giảng", trò trở thành "máy chép, đọc và thuộc" nếu không
thay đổi cách học và dạy tách rời với nghiên cứu và triển khai khoa học ở
ĐH.
Hòa cùng tiến trình hội nhập
đầy đủ vào đời sống kinh tế - xã hội của thế giới, trong đó có hội nhập của
lĩnh vực GD-ĐT và KHCN, ĐH Việt Nam tất yếu phải đi bằng hai chân, mà phải
là hai chân mạnh khỏe - giảng dạy, học tập và nghiên cứu, triển khai KHCN
đạt chuẩn và chất ngang tầm quốc tế. Không như vậy sẽ không hội nhập được,
hoặc hội nhập trong sự thua thiệt và tụt hậu.
|
PGS Đào Công Tiến đang phát biểu tại
hội thảo khoa học "giáo dục Việt Nam - Nguồn nguyên khí quốc
gia" ngày 13/11/2010 tại TP. Hồ Chí Minh
|
Trong bối cảnh chung của sự yếu kém về nghiên cứu
khoa học ở Việt Nam, nghiên cứu và triển khai khoa học ở ĐH hãy còn quá
nhiều hạn chế. Đây là điểm bất cập rất đáng quan ngại trước trách nhiệm đối
với xã hội của ĐH và yêu cầu phát triển bền vững của chính mình.
Nhiều trường ĐH ở phía Nam mà
tôi biết cũng không phải là trường hợp ngoại lệ để không có sự quan ngại
đó. Nghiên cứu khoa học chưa phát triển lớn mạnh ngang tầm với chức năng
nhiệm vụ của nó. Mục tiêu dấn thân của nghiên cứu khoa học trên thực tế
chưa thật rõ ràng. Chất lượng của sản phẩm nghiên cứu và triển khai khoa
học chưa cao.
Cơ chế, câu chuyện chưa có
điểm dừng
Số lượng công trình nghiên cứu
và triển khai khoa học hằng năm không nhiều và đa phần còn nhỏ lẻ. Có đến
trên hai phần ba cán bộ giảng dạy không trực tiếp tham gia thực hiện các
đề tài khoa học. Phần của nghiên cứu và triển khai khoa học trong tổng
nguồn thu chi ngân sách của trường không vượt quá 5%.
Nguyên nhân và vấn đề cần
tháo gỡ nếu được xem xét ở tầm vĩ mô, có thể có mấy điều đáng nói như sau:
Vai trò của nghiên cứu và triển
khai khoa học ở ĐH bị xem nhẹ có nguyên nhân từ cung cách tổ chức quản lý
tách rời hai hệ thống GD-ĐT và nghiên cứu triển khai KHCN trong hệ thống
hành chính nhà nước của ta. Trong cung cách tổ chức quản lý đó, hệ thống
các cơ sở GD-ĐT ĐH và hệ thống các cơ sở nghiên cứu và triển khai KHCN bị
tách đôi thành hai bộ phận gần như biệt lập, đặt dưới sự chủ quản của hai
bộ - Bộ GD-ĐT và Bộ KH-CN. Trọng trách cùng những điều kiện từ cơ chế
chính sách đối với nghiên cứu và triển khai khoa học chủ yếu giao cho các
cơ sở nghiên cứu trực thuộc Bộ KH-CN. Còn trọng trách, cũng như điều kiện
từ cơ chế chính sách đối với GD-ĐT chủ yếu giao cho các cơ sở đào tạo trực
thuộc Bộ GD-ĐT. Điều đã xảy ra là vai trò, vị trí của nghiên cứu và triển
khai khoa học ở ĐH bị xem nhẹ, do trong phạm vi ĐH, nghiên cứu khoa học
không được xem trọng bằng đào tạo, vì đào tạo là cái chủ yếu; trong phạm
vi nghiên cứu và triển khai nghiên cứu khoa học của quốc gia thì nghiên cứu
khoa học ở ĐH không được xem trọng bằng nghiên cứu khoa học ở các cơ sở
nghiên cứu, vì nghiên cứu và triển khai KHCN là cái chính của các cơ sở
này. Giới trí thức khoa học ở ĐH bị cư xử với tư cách là nhà giáo, nhà quản
lý GD-ĐT hơn là nhà khoa học và trọng trách cùng những điều kiện từ cơ chế
chính sách đối với nhà giáo ĐH cho đào tạo cũng nặng hơn cho nghiên cứu
khoa học. Vì thế mục tiêu dấn thân nghiên cứu khoa học của nhà giáo ĐH bị
xem nhẹ và không thật rõ ràng.
Tư duy giáo điều theo những
"thiên kinh địa nghĩa" và bệnh "độc quyền chân lý, áp đặt
tư duy" từ đâu đó là cái rào cản trong việc nghiên cứu, cải biến,
sáng tạo đối với một số lĩnh vực học thuật được đưa vào giảng dạy trong
những "phần cứng" của chương trình ĐH. Rào cản này tồn tại quá
lâu làm nản lòng không ít nhà giáo vốn tâm huyết với khoa học, thậm chí
có người còn bị cuốn vào lối rẽ của tệ lười biếng, thụ động, để rồi dễ
dàng bằng lòng với những cái đã có sẵn.
Bệnh "tha hóa quyền lực"
cũng thấm dần vào đại học
Tệ "sính quyền lực"
chạy theo chức quyền đã làm mờ nhạt vị trí "đích tôn" của nhà
khoa học, nhà giáo ĐH. Tình trạng cán bộ GD ĐH muốn được giữ lấy vị trí
có chức quyền trong hệ thống quản lý hơn là kiên định với vị trí nhà khoa
học, nhà giáo ĐH mà lẽ ra họ phải trọn đời dấn thân, đã không còn là cá
biệt. Cảnh báo về sự tổn thương đến "cái tâm lớn" và "tầm
trí tuệ cao" vốn dĩ phải có của nhà giáo ĐH, nhà khoa học ĐH do bệnh
tha hóa của quyền lực làm mất chỗ đứng chân chính của họ, thực sự đã là
điều đáng quan ngại.
Đề cao vai trò, vị trí đích
thực của giới trí thức ĐH mà điểm quy chiếu ở họ là nhà khoa học và nhà
giáo ĐH. Bộ môn - đơn vị tác chiến, là pháo đài khoa học của ĐH, để ĐH
làm tròn sứ mạng với xã hội và với chính mình. Khẳng định vai trò vị trí
đó, thiết nghĩ là sự công bằng cần có để các ĐH có được những chính sách
tôn vinh, bù đắp lợi ích vật chất và tạo phương tiện, điều kiện làm việc
tương thích cho nhà khoa học, nhà giáo ĐH.
Trước hết, vẫn là cuộc
cách mạng đại học
Trở lại với môi trường vi mô
của từng trường ĐH nhất định, trong nhiều nguyên nhân và vấn đề từ những
hạn chế của nghiên cứu và triển khai khoa học, theo tôi có mấy điều cần
tháo gỡ là:
Áp lực giờ giảng quá lớn, nên
cán bộ GD không có hoặc không còn nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu
và triển khai khoa học. Số tiết chuẩn quy định cho một cán bộ giảng dạy
là từ 220 tiết đến 260 tiết, nhưng trong thực tế ở nhiều trường con số đó
đã vượt hơn đến hai, ba lần. Với áp lực giờ giảng quá lớn như vậy, muốn
hay không gì thì cán bộ giảng dạy cũng thành cái "máy giảng" với
những bài giảng cũ kỹ, lạc lõng với cuộc sống vì không được cập nhật bổ
sung từ những nghiên cứu sáng tạo.
Thiết nghĩ nên giảm áp lực giờ
giảng bằng cách: cân đối yêu cầu và khả năng đứng lớp từ việc xem xét điều
chỉnh quy mô đào tạo và quy mô đội ngũ cán bộ giảng dạy; cải tiến chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học để giảm thời gian lên lớp của
giáo viên.
Cần có những tác động mạnh
hơn đối với nghiên cứu và triển khai khoa học từ những chính sách tài
chính của trường. Với cơ chế tự chủ, nhất là tự chủ về tài chính, trường
có thể thực hiện được những chính sách: nâng mức kinh phí cho nghiên cứu
khoa học từ tổng chi của ngân sách nhà trường để hỗ trợ các hoạt động
nghiên cứu khoa học nói chung và các đề tài nghiên cứu khoa học nói
riêng; ban hành chế độ thưởng bằng tiền hoặc bằng tiết chuẩn cho người thực
hiện các công trình nghiên cứu và triển khai khoa học đạt chất lượng cao;
trước mắt cần xem xét loại bỏ chế độ trích nộp vào ngân sách trường từ
kinh phí các đề tài khoa học, để khoa học nuôi khoa học nhiều hơn...
Trong những chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học trên đây có cả những
chính sách thuộc giải pháp tình thế hiện rất cần cho bước khởi đầu để chấn
hưng khoa học cho ĐH.
Trích: Doanh
nhân Sài Gòn Cuối tuần 20.11
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|