DC&PT - Thời Sự 2010

 

 

 

Cán bộ cao cấp phê bình nghiêm khắc Nguyễn Phú Trọng

 

 

 

            Từ 15.9 ba văn kiện chính của Đại hội 11 (sẽ được tổ chức vào đầu tháng 1.2011) đã được công bố, trong đó có bản Dự thảo Cương lĩnh Chính trị 2011 (tên chính thức „Cương lĩnh bổ sung sửa đổi Cương lĩnh 1991“). Tác giả chính của văn kiện quan trọng nhất này là Ủy viên Bộ chính trị và Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng là người cực kì bảo thủ và thần phục Bắc kinh, có quyền lực mạnh và đang vận động để „lên cao và ngồi lâu hơn“ trong Đại hội 11.

 

         Ngày 20 và 21.9 ông Bùi Đức Lại, một cán bộ cao cấp lâu năm đã về hưu trong Ban Tổ chức Trung ương, đã viết hai bài quan trọng góp ý kiến về bản dự thảo này. Ông Lại đã bác bỏ toàn bộ định đề quan trọng nhất của Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra trong Dự thảo nói trên là „loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội“. Ông Lại cảnh báo nghiêm khắc: Phỏng đoán xu hướng thời đại rồi lái đất nước đi theo chiều hướng đó, như một kiểu “đi tắt đón đầu” là một ảo tưởng tai hại và nguy hiểm. 

            Bùi Đức Lại còn phê bình kịch liệt luận điểm của Nguyễn Phú Trọng đòi “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” trong việc xây dựng VN. Vì theo ông, chủ nghĩa này đã cho thấy những sai lầm trong các thập niện vừa qua và đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên xô và các nước Cộng sản Đông Âu. Từ đó ông Lại cho rằng, các mô hình xây dựng đất nước dựa trên nền tảng ý thức hệ này được  nêu ra trong bản Dự thảo Cương lĩnh Chính trị 2011 là một sai lầm nghiêm trọng như: „vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước  Tổ quốc XHCN, cơ chế thị trường (định hướng) XHCN, dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN…

            Trong phần kết luận ông Bùi Đức Lại đã đặt câu hỏi là, các động lực và nguyên nhân nào khiến cho những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị vào thời điểm đầu Thế kỉ 21 vẫn còn đưa ra chủ trương cực kì bảo thủ đòi giữ lại những quan điểm sai lầm đã bị thực tế chứng minh là không tưởng? Ông Lại đã tìm ra được tâm địa đen tối của họ và ông đã lên tiếng cảnh báo nghiêm khắc trước dư luận về việc một số phần tử vì „những lợi ích phe nhóm với những đặc quyền đặc lợi“, „miệng nói XHCN, nhưng chân bước đi theo con đường man rợ mà chủ nghĩa tư bản từng bắt buộc phải đi qua vào một thời điểm lịch sử khác. Nghĩa là, nếu Cương lĩnh Chính trị 2011 được thông qua trong Đại hội 11 sắp tới thì VN sẽ lún sâu hơn vào quĩ đạo của xã hội tư bản hoang dã, luật rừng xanh, xuất hiện trước đây hai thế kỉ! Trong đó các tệ trạng bất công cá lớn nuốt cá bé, tham nhũng bóc lột và đàn áp những người thấp cổ bé miệng của những người ỷ vào quyền lực và tiền bạc. Ông Lại đã nhận định về ý đồ đen tối của bè nhóm „thẻ đỏ tim đen“ trong giới lãnh đạo đương thời của CSVN:

            Sự chậm chạp đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là tư tưởng bảo thủ, vẫn kiên trì tư duy cũ, không dứt khoát từ bỏ về thực chất mô hình XHCN kiểu cũ, tìm cách ngụy trang bằng vỏ ngôn từ mới và một số điều chỉnh chi tiết. Những quan điểm bảo thủ đó được gán cho cái nhãn mác đẹp đẽ là trung thành với lý tưởng XHCN, đã bị lợi dụng cho những lợi ích phe nhóm với những đặc quyền đặc lợi phát sinh trong cơ chế thị trường. Nó hù dọa xã hội về mọi tai ương đe dọa, bóp nghẹt mọi ý kiến đòi thực hiện đúng nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước, chụp cho nó mọi cái mũ xấu xa… Đã có một bộ phận miệng nói XHCN, nhưng chân bước đi theo con đường man rợ mà chủ nghĩa tư bản từng bắt buộc phải đi qua vào một thời điểm lịch sử khác, trong giai đoạn tích lũy ban đầu: bóc lột, tàn phá thiên nhiên, bóc lột sức lao động, chiếm đoạt đất đai, của cải, tài sản nhà nước, lũng đoạn quyền lực. Đối với nó, XHCN là một khái niệm hoàn toàn trống rỗng, nhưng nó muốn lợi dụng đến cùng để che đậy bản chất thật và trục lợi, trước khi công khai xé bỏ hoàn toàn khi đủ điều kiện.“

            Về các vấn đề rất hệ trọng này độc giả có thể xem thêm bài phân tích cặn kẽ của TS Âu Dương Thệ Đại hội 11 đi về đâu và phục vụ ai ? Nhân dịp trước Hội nghị Trung ương 13 đặt thẳng vấn đề với ông Nguyễn Phú Trọng: Cương lĩnh Chính trị 2011 sẽ như thế ?“ trong phần thời sự DCvaPT.

 

            Dưới đây là hai bài của ông Bùi Đức Lại trên Vietnam Net ngày 20 và 21.9.

 

 

______________________________

 

 

 

Cương lĩnh phải vì lợi ích chính đáng của dân tộc

 

,

- Trong khi các lợi ích dân tộc nổi lên mạnh mẽ, “luật chơi” do kẻ mạnh chi phối, thì những nước như Việt Nam phải chọn cách đi phù hợp, phải có một cương lĩnh tạo ra sự mềm dẻo cao nhất vì lợi ích chính đáng của dân tộc mình.

>> Loạt bài Đóng góp ý kiến cho Đại hội Đảng XI
>> Tướng Đồng Sĩ Nguyên góp ý cho Đại hội Đảng
>> Có đại hội bàn đi bàn lại khi chọn Tổng bí thư
>> “Chỉ giao trọng trách cho người có tư tưởng Đổi Mới”

LTS: Trong các dự thảo văn kiện được công bố để lấy ý kiến nhân dân, dự thảo Cương lĩnh bổ sung sửa đổi Cương lĩnh 1991 được xem là văn kiện quan trọng nhất, bởi Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, xác lập con đường xây dựng, lãnh đạo đất nước trong 10 năm tới.

Trong bài viết mới đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên. 

Ông Bùi Đức Lại, từng công tác nhiều năm tại Ban Tổ chức Trung ương Đảng đã gửi tới VietNamNet loạt bài góp ý cho dự thảo Cương lĩnh. Góc nhìn của một chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực tổ chức, nhân sự của Đảng, có thể có nhiều chỗ cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng như ông Bùi Đức Lại đã nhấn mạnh, với tư cách một đảng viên gắn bó sâu sắc với Đảng, ông cũng mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề một cách nghiêm túc và xây dựng, trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà người đứng đầu Đảng luôn kêu gọi.

VietNamNet giới thiệu bài viết của ông Bùi Đức Lại. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Trong Dự thảo sửa đổi và bổ sung cương lĩnh, phần “bối cảnh quốc tế” có khối lượng lớn (trên dưới 800 chữ), chiếm một nửa toàn bộ chương II “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” là chương then chốt nhất, làm cơ sở cho toàn bộ cương lĩnh. Thực chất, nó không còn đơn thuần nói về “bối cảnh”, mà chủ yếu là trình bày quan điểm về thời đại, được xem như một trong hai căn cứ quan trọng nhất cho việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để phục vụ cho yêu cầu đó, dự thảo điểm qua nhiều vấn đề hiện tình thế giới, về các lực lượng, các mâu thuẫn, các mối quan hệ quốc tế, các xu thế phát triển, về thất bại của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu, về tiềm năng phát triển của chủ nghĩa tư bản… Sau khi nhận định rằng chủ nghĩa tư bản không thể thoát ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản sẽ quyết định vận mệnh của nó; dự thảo khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Mô tả ảnh.

Đại biểu dự đại hội đảng bộ huyện Từ Liêm, Hà Nội nghiên cứu kỹ báo cáo chính trị, trong đó 6 trang nêu những thành tựu nổi bật, 1 trang dành cho khuyết điểm, yếu kém. Ảnh: LAD


Nghiên cứu kỹ nội dung và phong cách tổng quát của sự trình bày như vậy, có thể nhận định rằng, đây thực chất là cách diễn đạt mềm mại hơn, dễ chấp nhận hơn một quan điểm chính thống nêu ra từ nửa thế kỷ trước. Theo quan điểm đó, thời đại chúng ta đang sống bắt đầu từ Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại (tên chính thức dùng khi đó) là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi toàn thế giới. Chính vì vậy, đi kèm với dự thảo, một số người có trách nhiệm đã công bố rộng rãi những bài viết, gần như hoàn toàn lặp lại quan điểm nói trên cả về tinh thần lẫn lời văn.

Khẳng định nói trên trở thành luận cứ quan trọng nhất để định ra cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với một lô gích khá đơn giản: Nếu xu thế của thời đại là đi lên chủ nghĩa xã hội thì việc lái con thuyền Việt Nam theo hướng đó là một quyết định có tính đương nhiên, không thể bàn cãi.

Vì vậy, vấn đề này rất đáng được quan tâm nghiên cứu, thảo luận kỹ.

Không đánh tráo vấn đề

1- Luận điểm về thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười đã bị sự phát triển thực tiễn phủ định.

Đây là luận điểm do Liên Xô đề xướng và được các đảng cộng sản và công nhân quốc tế thống nhất chấp nhận trong hai hội nghị năm 1958 và 1960 ở Matxcơva. Vào thời điểm luận điểm này ra đời, có nhiều dữ kiện dường như có thể bảo chứng cho một quan điểm như vậy: hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành và phát triển, Liên Xô tưởng rằng sắp bước vào giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản và tin rằng sẽ sớm vượt Mỹ; đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển mạnh, có lực lượng khá hùng hậu, có vị thế chính trị quan trọng; phong trào giải phóng dân tộc nổi lên mạnh mẽ khắp nơi đã cuốn phăng chủ nghĩa thực dân cũ; nhiều dân tộc mới được giải phóng muốn chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa đế quốc bị sụp từng mảng lớn, bị động đối phó, tưởng như sẽ rơi vào khủng hoảng và sụp đổ trong tương lai gần.

Trong điều kiện đó, luận điểm này đã được thừa nhận rộng rãi, trở thành cương lĩnh hành động của cả phong trào và xuất phát điểm trong chương trình chính trị của các đảng cộng sản. Nó thể hiện sự chủ quan say men chiến thắng nhiều hơn là một cái nhìn tỉnh táo, phản ánh đúng bản chất sự vật. Thực tiễn phát triển từ nửa thế kỷ nay là sự phủ nhận luận điểm đó một cách khách quan, rõ ràng nhất.

Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ - như hình thức nó đã tồn tại - đã không được lịch sử chấp nhận, đã sụp đổ vì chính những mâu thuẫn phát sinh ngay trong lòng nó.

Một chủ nghĩa xã hội kiểu khác, có khả năng thay thế, đang là đối tượng tìm tòi của một bộ phận loài người vẫn chưa hình thành cả về lý luận lẫn thực tiễn.

2- Không thể đánh tráo hai vấn đề: Sự không “trường tồn” của chủ nghĩa tư bản và “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Chủ nghĩa tư bản, cũng như mọi chế độ xã hội khác loài người đã đi qua, không thể “trường tồn”. Có thể xem điều này như một tất yếu lịch sử. Nhưng vào thời điểm hiện tại và trong tương lai gần, chưa xuất hiện những tiền đề để loài người trực tiếp bước vào một giai đoạn phát triển khác. Chủ nghĩa đế quốc - như hình thức đã tồn tại - không phải là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản như người ta quan niệm. Hiện thời, trong nhiều nước tư bản đang nẩy sinh những nhân tố mới hoàn toàn chưa xuất hiện vào thời Mác và Lê nin, chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ. Những yếu tố đó sẽ tác động đến sự tiến hóa của chủ nghĩa tư bản như thế nào là vấn đề còn để ngỏ.

Mời bạn đọc gửi góp ý cho các dự thảo văn kiện của Đảng về địa chỉ banchinhtri@vietnamnet.vn

Trong khi chưa thể có câu trả lời rõ ràng cái gì sẽ kế tiếp chủ nghĩa tư bản và kế tiếp như thế nào thì có một điều chắc chắn, đã được thực tế chứng minh: Cái kế tiếp không phải là chủ nghĩa xã hội - như hình thức đã tồn tại ở Liên Xô.

Có thể nêu ra những mâu thuẫn cơ bản dẫn đến khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, xem đó như những nhân tố khiến nó không thể trường tồn. Nhưng chính chủ nghĩa xã hội kiểu cũ từng được thực thi trong một phần ba nhân loại, với chế độ công hữu tư liệu sản xuất mà Mác, Lê nin đề nghị , đã không thể xóa bỏ được những áp bức, bóc lột, bất công, mâu thuẫn, khủng hoảng… đó, thậm chí còn đẩy nó đến tình trạng gay gắt, quyết liệt hơn, làm cho nó bị sụp đổ sớm hơn chủ nghĩa tư bản.
Nước ta và các nước “định hướng xã hội chủ nghĩa” cải cách cũng đang phải vật lộn với những vấn đề tương tự. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, đặc điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội theo lý luận Mác - Lênin, chưa phải là lối ra hiện thực của loài người trong điều kiện phát triển ngày nay, khi con người xã hội chưa trưởng thành đủ mức để vận hành có hiệu quả chế độ như vậy.

Chính vì thế, từ luận điểm về sự không trường tồn của chủ nghĩa tư bản không thể đơn giản dẫn tới luận điểm “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” như một hệ quả. Làm như vậy là đánh tráo vấn đề.

Nhận thức về thời đại

3- Không thể xem “xu thế thời đại” là nhân tố quyết định cương lĩnh chính trị của một đất nước.

Thế giới phụ thuộc lẫn nhau, Việt Nam tồn tại trong thế giới, nên khi xem xét giải quyết các vấn đề của Việt Nam không thể không xem xét “bối cảnh”.

Nhưng trong từng giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc lại phải giải quyết những vấn đề cụ thể của mình, đó là đối tượng, là căn cứ định ra cương lĩnh của dân tộc đó. Cương lĩnh của Việt Nam phải xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Phỏng đoán xu hướng thời đại rồi lái đất nước đi theo chiều hướng đó, như một kiểu “đi tắt đón đầu” là một ảo tưởng tai hại và nguy hiểm. Nếu ở đâu đó trong thế giới ngày nay, đang xuất hiện những mầm mống của một chế độ tương lai sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, thì cũng không nên, không thể “cấy” nó vào Việt Nam, với hy vọng thúc đẩy một sự phát triển nhanh hơn theo hướng đó. Làm như vậy, sẽ tự mình đi vào ngõ cụt.

Việt Nam là nước chậm phát triển, không phải là trung tâm văn minh nhân loại, rất ít có khả năng tiên phong tìm ra mô hình mới cho nhân loại tương lai sau chủ nghĩa tư bản (trong khi đa số các dân tộc khác, phát triển trước chúng ta nhiều thế kỷ, đang nằm ở vị trí hàng đầu và trung tâm của sự phát triển chưa tự đặt ra cho mình một nhiệm vụ trực tiếp như vậy). Chúng ta cần, phải và chỉ có thể giải quyết vấn đề của mình, đặt nó trong các mối quan hệ hiện thực của thế giới đương đại. Hồ Chí Minh đã làm như thế khi đưa ra Chính cương vắn tắt, khi đặt nền móng cho một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám.

4- Xu thế thời đại không phải là định mệnh, nó do con người tạo ra, bị tác động mạnh mẽ bởi các thế lực nắm quyền chi phối trong mỗi giai đoạn lịch sử.

Xu thế thời đại có tính khách quan, nhưng do hoạt động chủ quan của con người tác thành.

Bài toán về chính trị của mỗi dân tộc trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể (có khi kéo dài hàng thế kỷ) không phải là “xăm xăm” đi theo một xu thế mà mình tin là tìm ra và theo đuổi; trái lại, luôn luôn phải thấy rõ những lực lượng nào trong nước và quốc tế đã sẵn sàng hậu thuẫn cho xu thế đó, những lực lượng nào chống đối lại; những thế lực nào đang nắm vị chi phối sự phát triển trên bàn cờ chung.

Các thế lực lớn đang nắm quyền chi phối trong thế giới hiện thời, có lợi ích, mục tiêu và toan tính khác nhau, có cách nhìn về thời đại khác nhau và cũng không giống với Việt Nam. Đối với nước lớn này, thời đại là giữ vững vị trí siêu cường số 1, hướng dẫn sự phát triển của toàn thế giới. Đối với nước lớn khác, thời đại là trỗi dậy phục hưng, giành lấy địa vị bá chủ trong nửa sau của thế kỷ 21. 

Thực tế đã chứng minh rằng sự tương đồng nhất thời về chế độ chính trị không có ý nghĩa trong việc hình thành đồng minh, lựa chọn đối tượng, đối tác. Trong khi các lợi ích dân tộc nổi lên mạnh mẽ, “luật chơi” do kẻ mạnh chi phối, thì những nước như Việt Nam phải chọn cách đi phù hợp, phải có một cương lĩnh tạo ra sự mềm dẻo cao nhất vì lợi ích chính đáng của dân tộc mình, cái “bất biến” duy nhất, không thể nhượng bộ.

5- Một số kiến nghị.

- Chúng ta không có nhiều điều kiện để chủ động đưa ra ý kiến đánh giá độc lập về thời đại và khuynh hướng phát triển của nó, lại càng có ít công cụ để tác động đến sự phát triển đó. Những ý kiến nêu ra về thời đại trong dự thảo phần lớn là tiếp thu và diễn dịch lại ý kiến của người khác, đều mang dấu ấn lợi ích và vị thế riêng của họ. Vì thế cần đặc biệt thận trọng khi “rút ra kết luận” về thời đại.

- Luận điểm “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ nên xem là một phán đoán để ngỏ, đúng như thực chất của nó. Phán đoán này vốn không có ý nghĩa chính trị thiết thực (không đề cập gì về thời gian, không gian, thời điểm, các lực lượng tác động, các phương thức), vì vậy, càng không thể được coi là luận điểm xuất phát để xây dựng cương lĩnh chính trị. Tốt nhất là đưa khỏi dự thảo cương lĩnh một phán đoán chưa đủ cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn như vậy để tránh lầm lẫn trong nhận thức. 

- Đưa ra cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam là phù hợp với yêu cầu khách quan và khả năng hiện thực của đất nước, phù hợp với xu thế phổ biến trong thời đại ngày nay. Cương lĩnh đó nhất định sẽ tập hợp được lực lượng, tạo ra sức mạnh mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại hiện nay, trong một thế giới đầy biến động, khó lường, đan xen nhiều lợi ích và mâu thuẫn. 

·         Bùi Đức Lại

 

 

 

______________________________________

 

 

 

 

 

221

452

Chính trị

chinhtri

/chinhtri/

1309292

Cần một cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân

1

Article

null

Cần một cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân

-  Đất nước đang cần một bản cương lĩnh xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân. Chính công cuộc đổi mới đã tạo những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cho một cương lĩnh như vậy. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng đã đề cập về nguyên tắc những nét cơ bản nhất về một chế độ dân chủ, nhà nước của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

>> Cương lĩnh phải vì lợi ích chính đáng của dân tộc
>> Loạt bài Đóng góp ý kiến cho Đại hội Đảng XI
>> Tướng Đồng Sĩ Nguyên góp ý cho Đại hội Đảng
>> Có đại hội bàn đi bàn lại khi chọn Tổng bí thư
>> “Chỉ giao trọng trách cho người có tư tưởng Đổi Mới”

LTS: Trong các dự thảo văn kiện được công bố để lấy ý kiến nhân dân, dự thảo Cương lĩnh bổ sung sửa đổi Cương lĩnh 1991 được xem là văn kiện quan trọng nhất, bởi Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, xác lập con đường xây dựng, lãnh đạo đất nước trong 10 năm tới.

Trong bài viết mới đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên. 

Ông Bùi Đức Lại, từng công tác nhiều năm tại Ban Tổ chức Trung ương đã gửi tới VietNamNet loạt bài góp ý cho dự thảo Cương lĩnh. Góc nhìn của một chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực tổ chức, nhân sự của Đảng, có thể có nhiều chỗ cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng như ông Bùi Đức Lại đã nhấn mạnh, với tư cách một đảng viên gắn bó sâu sắc với Đảng, ông cũng mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề một cách nghiêm túc và xây dựng, trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà người đứng đầu Đảng luôn kêu gọi.

VietNamNet giới thiệu bài viết thứ hai của ông Bùi Đức Lại. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

1- Cương lĩnh là văn kiện chính trị quan trọng nhất của một chính đảng. Nó trình bày quan điểm, các chủ trương, chính sách cơ bản của đảng trước hiện tình đất nước.

Trong các thể chế chính trị dân chủ phổ biến ở nhiều nước hiện nay trên thế giới, cương lĩnh của mỗi chính đảng thường là cương lĩnh tranh cử, phục vụ trực tiếp cho việc giành phiếu trong bầu cử. Do đó, các quan điểm, chính sách được trình bày trong cương lĩnh phải đề cập có sức thuyết phục những vấn đề mà xã hội và cử tri quan tâm. Nhân dân - cử tri lựa chọn chính đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng là thừa nhận cương lĩnh của đảng đó. 

Cách làm này, có thể có những mặt yếu như khuyến khích những khuynh hướng và thủ đoạn mị dân, hứa hẹn những điều không khả thi nhưng hợp với tâm trạng cử tri tại thời điểm đó… Nhưng đó vẫn là cách làm khả dĩ tốt hơn cả. Việc lạm dụng chính sách mị dân, hứa suông, nói mà không làm có thể nhất thời lừa phỉnh dư luận xã hội, đưa một chính đảng vào vị trí cầm quyền… sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng, thành mối nợ chính trị mà nó phải trả giá trong thời gian cầm quyền và trong kỳ bầu cử sau.

Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất cầm quyền chính trị và lãnh đạo toàn xã hội, do đó cương lĩnh của Đảng mặc nhiên trở thành cương lĩnh chung của cả đất nước, liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Xây dựng cương lĩnh trở thành vấn đề của nhân dân; nhân dân cần tham gia quyết định. Việc này không chỉ có tính đạo lý, mà tiến tới còn phải mang tính pháp lý nữa.

Đưa dự thảo cương lĩnh của Đảng để nhân dân thảo luận, tham gia ý kiến trước Đại hội Đảng là một chủ trương đúng đắn theo tinh thần đó. Những tổ chức và cá nhân có chức năng chuẩn bị dự thảo cần nghiêm chỉnh thực sự tiếp thu các ý kiến xác đáng của nhân dân để bổ sung, sửa chữa; thẳng thắn, công khai tranh luận, trao đổi về những ý kiến khác trên tinh thần bình đẳng, cầu thị. Cần tập hợp và trình bày trung thực, đầy đủ những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau để Đại hội thảo luận và cho ý kiến quyết định.

Mặt khác, để giảm bớt nguy cơ chậm nhận biết và khắc phục những sai lầm, trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, một mặt cần có sự thận trọng cao nhất khi xây dựng cương lĩnh, mặt khác không nên xem nó là khuôn vàng thước ngọc, nhất thành bất biến. Trái lại, sau khi có cương lĩnh cần thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe các ý kiến phê bình, phản biện, đi sát thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm nghiệm cương lĩnh, sẵn sàng bổ khuyết, sửa đổi những điều không sát đúng. Cần xây dựng và thực hiện các quy chế khuyến khích thảo luận thường xuyên, công khai, không hạn chế về các nội dung của cương lĩnh trong quá trình thực hiện.

Mô tả ảnh.

Bỏ phiếu tại đại hội đảng bộ Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh hôm 16/9. Ảnh: Trang thông tin điện tử Đại hội Đảng XI

Cương lĩnh nên tập trung đề cập những vấn đề chiến lược, những nhiệm vụ trung tâm, những giải pháp lớn, dự kiến trong khoảng thời gian mươi mười lăm năm (hai, ba kỳ đại hội). Chưa có điều kiện xây dựng một cương lĩnh với tầm xa hơn.

Không “gài” vào cương lĩnh và những văn kiện có tầm chiến lược nói chung những vấn đề quá cụ thể dù lớn. Cố gắng tránh cách diễn đạt “chiết trung”, nước đôi, mập mờ, sử dụng những khái niệm và thuật ngữ chưa có nội hàm rõ ràng.

Chỉ đưa vào cương lĩnh những nội dung đã được thực tiễn chứng minh

2- Ban Chấp hành Trung ương đã đưa ra quan điểm chỉ đạo là chỉ đưa vào cương lĩnh những nội dung đã rõ, đã được thực tiễn chứng minh. Một thái độ thận trọng như vậy là sự lựa chọn hợp lý hơn cả trong điều kiện hiện nay, cần thực sự quán triệt đầy đủ và sâu sắc khi tiếp cận và giải quyết vấn đề trung tâm của cương lĩnh là nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ XHCN ở Đông Âu đã phủ định mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đã từng tồn tại gần ¾ thế kỷ, kéo theo sự đổ vỡ của tòa nhà lý luận đồ sộ gắn liền với nó. Nhiều vấn đề một thời được xem là nguyên lý học thuyết Mác - Lênin về CNXH, là quy luật khách quan đã không được thực tiễn khẳng định. Thực tế đó đặt ra yêu cầu xem xét lại một cách khách quan nhiều điều cơ bản trong tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi tới của loài người. Chọn lọc, bảo vệ đúng những giá trị đích thực mà Mác, Lênin và những người khác đã góp vào kho tàng trí tuệ của nhân loại, nằm lẫn trong cái đống đổ nát của toà nhà đã sụp đổ này là một công việc to lớn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều nguồn trí tuệ, đòi hỏi thời gian và sự phát triển của thực tiễn, là một con đường dài và đầy khó khăn.

Từ yêu cầu chỉ đạo thực tiễn, qua tổng kết kinh nghiệm bước đầu, đã có những bước tiến nhất định đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, nhưng chỉ mới là những khám phá, thể nghiệm ban đầu. Tư duy lý luận mới chưa hình thành, còn rất nhiều mảng trống chưa thể san lấp trong tương lai gần. Đó không chỉ do sự thiếu hụt những trí tuệ kiệt xuất, mà còn vì thực tiễn chưa phát triển đủ mức.

Trong điều kiện đó, vội vàng minh định một cách chủ quan, phiến diện, cái này là chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH đích thực; cái kia là chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH đã bị xuyên tạc, biến dạng là một cách làm cẩu thả, không thể chấp nhận.

Cách làm đó dẫn đến một thái độ cơ hội nguy hiểm: treo biển Mác - Lênin nhưng tùy tiện bán trong cửa hàng các món thời trang; cái gì muốn giữ thì dán nhãn trung thành với học thuyết, cái gì muốn bỏ, cắt xén, thêm bớt thì dán nhãn phát triển. Cách làm đó nhất định cuối cùng bị phá sản về lý luận và thực tiễn, nhưng trước khi phá sản, nó cũng kịp gây tác hại, tổn thất to lớn cho sự nghiệp chung.

Nhận thức về CNXH và con đường đi tới đó vốn đã là vấn đề phức tạp trong lịch sử nhiều thế kỷ. Đã có không ít trào lưu, khuynh hướng khác nhau, thậm chí thù địch với nhau, dán nhãn hiệu CNXH, mà Mác chỉ kịp “điểm danh” một số trong Tuyên ngôn đảng cộng sản. Sau khi ông qua đời đã nảy nở nhiều “chủng loại” mới. Việc nhận diện đúng sai, thật giả tưởng như đã được giải quyết xong về cơ bản cùng với sự ra đời của mô hình XHCN Liên Xô; nhưng lịch sử đã không chứng minh như vậy.

Cũng có nước lớn trên thế giới hiện đang nói về một mô hình XHCN mang đặc sắc của họ (nghĩa là có thể chẳng giống ai, chẳng giống cái gì) và cho đó là chuyện của hàng trăm năm (nghĩa là việc còn đang dò dẫm). Ở Việt Nam, sau nhiều năm sau đổi mới, dù có nhiều cố gắng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, nhưng cho đến nay, về cơ bản chưa hình thành nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH. Mô hình XHCN đề cập trong dự thảo cương lĩnh nặng về mô tả một xã hội lý tưởng muốn có hơn là thiết kế một chế độ, một hình thái kinh tế - xã hội theo quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Ở Việt Nam, cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, được sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước XHCN, đặt vào trong những điều kiện lịch sử nửa sau thế kỷ 20, từng được xem là nằm trong dòng thác cách mạng trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Còn trên thực tế thì gần một nửa thế kỷ sau 1945, đất nước vẫn chủ yếu chiến đấu cho nền độc lập, tự do của mình. Có thể nói CNXH ở Việt Nam trước hết là một lý tưởng và là một chế độ chính trị, từng thời điểm đã phần nào là một thể chế kinh tế bước đầu hình thành theo mô hình Liên Xô. Những thiếu sót của mô hình đó, phần nào bị khúc xạ, che lấp trong điều kiện chiến tranh, đã lập tức hiện hình rõ rệt và tác hại trong điều kiện hòa bình.

Đổi mới 1986 thực chất là sự khước từ mô hình chính trị - kinh tế XHCN kiểu Xô viết. Việc đó không phải do ý muốn chủ quan của ai, do sức ép của thế lực nào, không là sự dao động, mất phương hướng nào mà là hành động chính trị có ý thức, thuận theo yêu cầu phát triển khách quan của đất nước. Vì vậy, sự nghiệp đổi mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và tạo nên thành tựu to lớn.

Dứt khoát từ bỏ mô hình XHCN kiểu Xô viết

3- Thực tế đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải dứt khoát và hoàn toàn từ bỏ mô hình XHCN kiểu Xô viết.

Đối với nhiều người Việt Nam, lý tưởng XHCN được nhận thức đồng nhất với lý tưởng về một xã hội dân chủ, công bằng, tự do, hạnh phúc. Hướng tới một lý tưởng như vậy có ý nghĩa nhân văn sâu sắc và vẫn có sức mạnh động viên tinh thần to lớn. Nhưng thực tế là chưa có tiền đề, chưa đủ căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng một cương lĩnh quá độ lên CNXH đúng với ý nghĩa một chương trình chính trị hiện thực.

Nếu cứ theo đuổi ý tưởng đề ra một cương lĩnh quá độ lên CNXH, thì không thể tránh khỏi việc gò ép đưa vào cương lĩnh những điều chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh, trái với tinh thần chỉ đạo đã đề ra. Có thể điểm ra một số vấn đề sau đây làm ví dụ:

- Dự thảo phải khăng khăng khẳng định quan điểm xem thời đại hiện nay là thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, xem đó là xuất phát điểm của việc lựa chọn định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây là điều chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh, đã được phân tích chi tiết hơn trong bài trước.

- Dự thảo phải tiếp tục nhắc lại mệnh đề “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Không ai có thể phủ định sạch trơn giá trị của học thuyết Mác - Lênin, nhưng không thể không thừa nhận rằng học thuyết này chẳng những không toàn bích, mà còn đã bị biến dạng, bị tổn thất nặng nề từ thất bại của mô hình XHCN Liên Xô. Chưa lọc ra được những hạt nhân hợp lý, vượt qua thử thách của thời gian, mà cứ khăng khăng lấy nó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là việc làm thiếu tinh thần cách mạng và khoa học, chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh.

- Dự thảo phải tiếp tục nêu cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, một điều chưa rõ, thậm chí thực tế chứng minh điều ngược lại. Khu vực này chiếm một khối lượng vốn và lao động xã hội to lớn, được hưởng ưu đãi hơn so với các khu vực khác, nhưng hiệu quả kinh tế và xã hội thấp, ngày càng bị thu hẹp tương đối so với các khu vực khác, đang phải đối mặt với những nan đề chưa có lời giải. Không nên lẫn lộn vấn đề nhà nước hướng các nguồn lực của mình vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

- Dự thảo phải tiếp tục gắn mác “xã hội chủ nghĩa” cho một loạt khái niệm mà nội hàm không rõ, chưa được (và chưa thể) xác định như: Tổ quốc XHCN, cơ chế thị trường (định hướng) XHCN, dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN… Nói cho cùng, giả sử có minh định được nội hàm của các khái niệm đó, thì cũng không có ý nghĩa gì, trong khi cả xã hội đang trong giai đoạn hướng tới sự phát triển XHCN (có nghĩa là nó chưa có) mà các thể chế của nó thì đã là XHCN rồi.

Đưa vào dự thảo cương lĩnh những điều như vậy là chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh.

- Dự thảo phải tiếp tục đề cập nhiều về một chính sách xã hội đậm màu sắc “xã hội chủ nghĩa” như đảm bảo công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo, chính sách giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội… Không thể phủ nhận những nguồn tài lực lớn đã bỏ ra theo hướng này, đã có tác động nhất định đến một số mặt xã hội, nhưng hiệu quả tổng quát chưa rõ, nhiều khi còn là một phân phối lại bất công, không đến các đối tượng cần đến. Trong thể chế hiện hành, nhiều lợi ích cơ bản, chính đáng của công nhân, nông dân, trí thức chưa được bảo đảm. Sự ưu việt “biểu kiến” được xem là làm nên nét riêng của CNXH, chưa được thể hiện, chưa được thực tế chứng minh.

Mời bạn đọc gửi góp ý cho các dự thảo văn kiện của Đảng về địa chỉ banchinhtri@vietnamnet.vn

Việc biện hộ cho những điều chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh nói trên, là những thiếu sức thuyết phục về lý luận, không được thực tiễn chứng minh.

Rõ ràng một cương lĩnh như vậy khó có sức thuyết phục thực sự, không phù hợp với yêu cầu khách quan đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay.

Tưởng cũng cần nói thêm rằng:

- Mác chưa bao giờ đặt ra vấn đề khả năng đi lên CNXH đối với các nước kém phát triển, chưa công nghiệp hóa như Việt Nam.

- Luận điểm nổi tiếng (thường được cho của Lênin), từng làm xuất phát điểm cho cương lĩnh của các nước kém phát triển đi lên CNXH đề ra những điều kiện tiền đề là: Có hệ thống XHCN thế giới đã hình thành; có sự giúp đỡ quốc tế của các nước XHCN phát triển đi trước. Các tiền đề đó hiện nay không còn nữa và chắn chắn sẽ không xuất hiện lại trong các thập kỷ tới đây.

Tiền đề cương lĩnh xây chế độ dân chủ nhân dân

4- Đất nước đang cần có một bản cương lĩnh xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân. Đây là yêu cầu thiết thực nhất, không mâu thuẫn với lý tưởng XHCN, là cái mà Đảng lãnh đạo cần chủ trương và đưa ra trình bày trước nhân dân trong thời điểm hiện nay, là việc Đảng đã khởi xướng từ 1930, đặt nền tảng từ 1945, đã tạo ra sức mạnh cách mạng to lớn của dân tộc ta. Do những lý do khách quan và chủ quan, việc thực hiện một cương lĩnh như vậy đã bị gián đoạn, đã phải chịu những “quanh co của lịch sử”, là những thử nghiệm theo mô hình Xô viết.

Chính công cuộc đổi mới đã tạo ra được những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cho một cương lĩnh như vậy. Đã hình thành kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng; hình thành các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, ngoài công hữu, quyền cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế được thừa nhận về pháp lý. Đã có tiền đề thực tiễn để xóa bỏ các ưu đãi về chính sách và nguồn lực đối với khu vực kinh tế nhà nước, từ bỏ việc nhà nước can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm đúng chức năng quản lý nhà nước.

Đổi mới cũng đã tạo ra những cơ sở lý luận đủ làm khung cơ bản cho một chế độ chính trị dân chủ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm quốc tế. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã đề cập về nguyên tắc những nét cơ bản nhất về một chế độ như vậy. Đó là chế độ dân chủ, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đảng lãnh đạo là để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Đó là đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam không phân biệt chính kiến, tôn giáo… Đảng lãnh đạo hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và luật pháp, Đảng không làm thay nhà nước; Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ..

Phải chăng đó không phải là những nét cơ bản nhất của một cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

Vấn đề là thống nhất nhận thức, nhất quán thực hiện đúng những nguyên tắc đã được vạch ra đó trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước thông qua các thiết chế, chính sách cụ thể.

Các giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước mong muốn có một chế độ như vậy, một chế độ mà dân tộc đã cảm nhận được tính ưu việt và sức mạnh của nó trong những năm tháng đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám.

Với một chế độ như vậy, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn trong việc hòa nhập với cộng đồng thế giới, giữ vững và phát triển bản sắc.

Nhưng trong nhiều năm nay, các quan điểm đó vẫn chưa được luật pháp hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện đúng những quan điểm cơ bản nói trên.

Sự chậm chạp đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là tư tưởng bảo thủ, vẫn kiên trì tư duy cũ, không dứt khoát từ bỏ về thực chất mô hình XHCN kiểu cũ, tìm cách ngụy trang bằng vỏ ngôn từ mới và một số điều chỉnh chi tiết. Những quan điểm bảo thủ đó được gán cho cái nhãn mác đẹp đẽ là trung thành với lý tưởng XHCN, đã bị lợi dụng cho những lợi ích phe nhóm với những đặc quyền đặc lợi phát sinh trong cơ chế thị trường. Nó hù dọa xã hội về mọi tai ương đe dọa, bóp nghẹt mọi ý kiến đòi thực hiện đúng nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước, chụp cho nó mọi cái mũ xấu xa… Đã có một bộ phận miệng nói XHCN, nhưng chân bước đi theo con đường man rợ mà chủ nghĩa tư bản từng bắt buộc phải đi qua vào một thời điểm lịch sử khác, trong giai đoạn tích lũy ban đầu: bóc lột, tàn phá thiên nhiên, bóc lột sức lao động, chiếm đoạt đất đai, của cải, tài sản nhà nước, lũng đoạn quyền lực. Đối với nó, XHCN là một khái niệm hoàn toàn trống rỗng, nhưng nó muốn lợi dụng đến cùng để che đậy bản chất thật và trục lợi, trước khi công khai xé bỏ hoàn toàn khi đủ điều kiện.

5- Một số kiến nghị.

Một là, xây dựng cương lĩnh chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, tiếp thu giá trị của các cương lĩnh của Đảng trong 80 năm qua, tham khảo và vận dụng các kinh nghiệm quốc tế. Đó là cương lĩnh chỉ đạo và tổ chức hành động trong khoảng thời gian 15 - 20 năm. Tính tới một thời đoạn dài hơn là chưa đủ điều kiện, cũng không phải là việc cần thiết.

Hai là, nếu từ nay đến Đại hội XI không đủ điều kiện và thời gian vật chất để xây dựng một bản cương lĩnh như vậy, thì Đại hội có thể quyết định một số quan điểm lớn chỉ đạo chuẩn bị chu đáo hơn, đưa ra thảo luận dân chủ công khai trong toàn Đảng, toàn dân, để trình ra Đại hội XII, hoặc Đại hội bất thường tổ chức 2, 3 năm sau Đại hội XI.

Ba là, đồng thời với chuẩn bị cương lĩnh, xúc tiến việc xây dựng Hiến pháp mới.

Bốn là, nếu với nội dung như dự thảo hiện nay, kiến nghị Đại hội XI không thảo luận việc sửa đổi bổ sung Cương lĩnh 1991 như dự kiến. Vì:

- Những nội dung “mới” so với Cương lĩnh 1991 đều đã được đề cập trong các Văn kiện Đại hội Đảng từ sau1991, bản dự thảo hiện nay chỉ tập hợp lại, thay đổi một số cách diễn đạt, đôi chỗ còn mơ hồ hơn.

- Đối với nhiều vấn đề lớn, bức xúc trong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dự thảo hoặc né tránh hoặc giữ cách tiếp cận và quan điểm cũ, nên không có lời giải đáp không thuyết phục.

Sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh như tinh thần dự thảo vì vậy không mang lại lợi ích thiết thực, cụ thể nào. Trái lại, một khi Đại hội XI thông qua dự thảo thì cũng có nghĩa khép lại mọi việc thảo luận về cương lĩnh trong hàng chục năm tiếp theo, tạo ra những trì trệ không thể chấp nhận trong điều kiện mới. 

·         Bùi Đức Lại

,

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục