|
DC&PT - Thời
Sự 2010
Tham luận tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa 8
của nhà văn Bùi Minh Quốc
Kính gửi anh Hữu Thỉnh
Chủ tịch, anh Nguyễn Trí Huân, anh Lê Văn Thảo Phó chủ tịch Hội;
Kính gửi các anh chị trong Ban chấp hành Hội,
Ngày 18.07.2010 tôi nhận được giấy mời do anh Hữu Thỉnh ký,
yêu cầu gửi tham luận tới Hội trước ngày 25.07.2010. Bấy lâu cứ đinh ninh
về dự Đại hội sẽ trao tham luận cho Chủ tịch đoàn rồi chờ đến lượt thì
lên diễn đàn, nên khi nhận được giấy mời mới vội bắt tay viết, bây giờ (gần
0g ngày 25.07.2010) mới xong. Vì vậy tôi gửi theo đường thư điện tử về địa
chỉ báo điện tử của Hội do anh Thỉnh làm Tổng biên tập. Tôi nhờ anh Thỉnh
cho đăng ngay lên báo, coi như tôi đọc tham luận trước thềm Đại hội, phòng
trường hợp Chủ tịch đoàn sơ ý bỏ lọt tham luận của tôi ở cuối xấp giấy nằm
chờ chăng. Tôi cũng gửi tham luận này đến blog và web của các đồng nghiệp
hội viên Nguyễn Huệ Chi, Trần Nhương, Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh, Nguyễn
Quang Lập, Phạm Viết Đào nhờ công bố giùm luôn thể, trân trọng cám ơn.
Bùi Minh Quốc
TỔ QUỐC VÀ TỰ DO
(Tham luận
tại Đại hội lần thứ 8 Hội nhà văn Việt Nam )
Trong bóng tối
bí mật đầy vật vã của một cơn đau đẻ lịch sử lớn, vào những đêm hè năm
1945, tại làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội - làng quê của nhà văn Nguyễn
Huy Tưởng - có hai chiến sĩ cách mạng thức trắng trước trang giấy cặm cụi
viết. Hai chiến sĩ ấy, một người 32 tuổi, một người mới 21 tuổi, được Đảng
giao nhiệm vụ viết một bản báo cáo về văn hóa để trình bày trong đại hội
toàn dân sắp họp tại Tuyên Quang (thuộc khu Giải phóng). Bản báo cáo ấy, khi
hoàn thành vào ít ngày sau, mang tên: “MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI”. Hai chiến sĩ
cách mạng đồng tác giả là Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi, thành viên
nòng cốt của tổ chức Văn hóa cứu quốc Việt Nam, tiền thân của Hội nhà văn
Việt Nam (cùng các hội khác thuộc lãnh vực văn hóa nghệ thuật).
Hôm nay chúng
ta họp Đại hội lần thứ 8, xin hãy cùng nhau đọc lại đoạn sau đây trong
văn kiện lịch sử đó :
“Ban bố
triệt để quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận chính là cởi mở cho văn
hoá dân tộc trở nên sầm uất và đem một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi vào
cái văn hoá đã bao lâu phải sống trong những phòng ngục chật hẹp, thiếu
ánh sáng, thiếu hơi nóng của mặt trời. Sách vở và báo chí được xuất bản tự
do, nền văn nghệ của ta mới có thể dồi dào, phong phú.” (MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
- Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi - Hội Văn hoá Cứu quốc Việt
Nam, trong Mặt trận Việt minh, xuất bản - Hà Nội - 1945 - in lần thứ hai
- trang 45).
Các quyền
thiêng liêng ấy - tự do tư tưởng và tự do ngôn luận - đã lập tức được
hiến định trong Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946. Và
đã hiện ra sầm uất trong đời thường. Xin hãy nhìn lại hoạt động báo chí
và xuất bản trên khắp đất nước ta từ 19 tháng 8 năm 1945 đến suốt năm 1946
cũng đủ thấy sự sầm uất đầy sinh khí đó (một sự sầm uất mà ngày nay, cay đắng
thay, chúng ta đang thiết tha mong mỏi được sớm có lại). Và không chỉ
trong sinh hoạt báo chí xuất bản là công việc của những người trí thức ở
thành phố, mà ngay cả trong đời sống bình thường của người nông dân ở các
làng quê.
Xin hãy cùng
nhau đọc lại mấy câu thơ Hồng Nguyên:
Tôi nhớ
bờ tre gió lộng
Làng
xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có nắng
chiều đột kích mấy hàng cau
Có tiếng
gà gáy xóm
Có “khai
hội, yêu cầu, chất vấn!”
Có mẹ hiền
bắt rận cho những đứa con xa
Đó là hình ảnh
bình thường bình dị của làng quê Việt Nam trong tâm tưởng anh bộ đội Cụ Hồ
trên đường hành quân nhớ về hậu phương. Giữa những bờ tre mái rạ thân mật
quen thuộc, hiện ra một cảnh đời vô cùng mới mẻ nghìn đời mới thấy: “Có
khai hội, yêu cầu, chất vấn!”. Chỉ với mấy từ “chính trị chay”
đúc thành một câu thơ hồn nhiên mộc mạc, Hồng Nguyên đã tạc vào lịch
sử một sự thật hùng hồn của đời sống nông thôn Việt Nam mới, của con người
Việt Nam mới. Một tố chất chính trị mới, văn hóa mới đã xuất hiện trong
những con người bao đời lam lũ dưới bùn lầy nước đọng, giữa những công việc
cày bừa cấy gặt quen thuộc nghìn đời đã biết làm một công việc mới: tổ chức
khai hội, và trong khai hội, biết yêu cầu,
chất vấn. Có lẽ đến nay, sau 65 năm, chúng ta cũng chưa thấm
thía hết ý nghĩa sâu xa của cuộc đổi đời, tự đổi đời vĩ đại này mà chiến
sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng Nguyễn Đình Thi đã ghi lại trong 2 câu
thơ:
Nước Việt
Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng
dậy sáng lòa.
Cả dân tộc Việt
Nam, từng con người Việt Nam, với sức quật cường hun đúc từ thuở Hai Bà
Trưng khởi nghĩa chống ách đô hộ Đại Hán Trung Quốc, với những bậc “hào
kiệt đời nào cũng có” (Nguyễn Trãi), từ trong đêm dài “trăm
năm nô lệ giặc Tây” ( lời nhạc Trịnh Công Sơn) vùng lên làm Cách
mạng tháng Tám giành lại Độc lập cho nước Việt Nam, thiết lập chế độ mới,
chế độ DÂN CHỦ CỘNG HÒA ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC. Ánh sáng chói lòa tỏa ra
từ con người Việt Nam mới, trong tư thế mới: con người tự do. Phải, con người
Việt Nam mới chính là con người tự do. Từ đây đất nước Việt Nam độc lập
do con người tự do Việt Nam làm chủ, mọi công việc của đất nước Việt Nam
do con người tự do Việt Nam quyết định. Con người Việt Nam sống một nếp sống
mới, có khai hội, yêu cầu, chất vấn; khai hội một cách thực chất, yêu cầu
đến nơi đến chốn, chất vấn đến nơi đến chốn trước khi cùng nhau quyết định.
Quyết định quan trọng nhất là giữ cho bằng được nền độc lập của Tổ quốc,
giữ cho bằng được quyền tự do của mỗi con người. Bằng việc thiết lập chế
độ dân chủ cộng hòa, con người Việt Nam ngộ ra sức mạnh của quyền dân và
quyền dân làm nên sức mạnh của Tổ quốc Việt Nam. Tổ quốc, một giá trị
nghìn đời, và Tự do, một giá trị phương tây được tự giác tiếp nhận bắt đầu
quyện chặt làm một trong phẩm giá làm người của con người Việt Nam, hiên
ngang đĩnh đạc biểu thị trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn Độc lập do Chủ
tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên đọc tại quảng trường Ba Đình Hà Nội
ngày 02 tháng 09 năm 1945, cất lên thành khúc hòa ca hùng tráng của toàn
dân Việt Nam qua hồn thơ hồn nhạc Văn Cao :
LẬP QUYỀN
DÂN, TIẾN LÊN, VIỆT NAM!
Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói: “Nước được Độc lập mà dân không được hưởng Tự do Hạnh
phúc thì Độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Thế nghĩa là nước độc
lập mà dân không có quyền thì vẫn là mất nước. Thiết nghĩ không có lời
nào rành mạch hơn, khúc chiết cụ thể hơn câu nói và câu hát trên đây để
khẳng định nguyên lý tồn tại và phát triển của đất nước Việt Nam và con người
Việt Nam. Thấy hiện ra một sự gặp gỡ tương tri tương đắc giữa thiên tài chính
trị Hồ Chí Minh với thiên tài nghệ thuật Văn Cao. Chỉ với mấy tiếng giản dị
dễ hiểu đúc thành lời ca, Văn Cao đã cùng với Hồ Chí Minh xác lập và ban
bố một đường lối chiến lược đúng đắn nhất cho Việt Nam tiến lên sánh cùng
các cường quốc năm châu. Hiện thực về mối quan hệ tương tri tương đắc giữa
người chiến sĩ cách mạng và người chiến sĩ văn hóa vừa nêu trên đã được
chiến sĩ cách mạng Nguyễn Hữu Đang dự báo từ đêm trước Cách mạng Tháng
Tám trong tác phẩm Một nền văn hóa mới, trang 22 :
“Chúng
ta hãy sáng suốt nhận lấy nhiệm vụ tích cực chiến đấu, nhận lấy nhiệm vụ
của người dân vong quốc cộng thêm nhiệm vụ của một chiến sĩ văn hóa mới.
Nói khác ra, để thực hiện nền văn hóa mới, trước hết chúng ta phải củng cố
nền độc lập hoàn toàn và làm thực hiện chính thể dân chủ cộng hòa triệt để
”(Theo lời kể của nhà
thơ Nguyễn Đình Thi do nhà nghiên cứu Nhật Hoa Khanh ghi lại và công bố
trên tạp chí Sân khấu năm 2009,
thì đoạn này và đoạn đã dẫn trước là do Nguễn Hữu Đang viết, theo cách
hai người cùng thống nhất đề cương rồi chia nhau mỗi người viết một
phần).
Trong phạm vi
tư liệu hạn hẹp mà tôi tiếp xúc, thì có lẽ tác phẩm Một nền văn hóa
mới là một trong số hiếm hoi những văn bản đầu tiên đưa ra cụm từ
mới để gọi tên một nhân vật mới, một lực lượng mới : người “chiến
sĩ văn hóa mới”. Ở đây ta thấy một đóng góp rất quan trọng của
Nguyễn Hữu Đang khi ông nêu rõ trong đoạn văn trên: người chiến sĩ cách mạng
với người chiến sĩ văn hóa là một, hay nói khác đi, trong người chiến sĩ
văn hóa có phẩm chất cách mạng, trong người chiến sĩ cách mạng có phẩm chất
văn hóa, cách mạng quyện chặt với văn hóa; cái văn hóa truyền thống lấy đại
nghĩa thắng hung tàn kết hợp với cái văn hóa mới của con người tự do làm
cách mạng để lập quyền dân, để đem lại tự do hạnh phúc cho mỗi con người,
cho tất cả mọi người, chứ không phải để cách mạng thành công thì leo lên
ghế vua quan cách mạng. Tổ quốc và Tự do, hai giá trị cao quý nhất quyện
chặt trong con người Việt Nam đã tạo nên một sức mạnh kỳ lạ (đến gần như
bí ẩn) đưa dân tộc vượt thoát mọi tình thế hiểm nghèo tưởng chừng không
thể nào vượt nổi, qua muôn trùng gian lao và khốc liệt trong cuộc đối đầu
dai dẳng nhất với những thế lực ngoại xâm mạnh hơn mình gấp bội về vũ khí
và kỹ năng quân sự, để đi tới ngày hòa bình thống nhất giang sơn. Người
chiến sĩ - nghệ sĩ, với cảm hứng Tổ quốc và cảm hứng Tự do hòa quyện
trong độ rung cảm mãnh liệt nhất, đã tạo nên bao tác phẩm giá trị về Tổ
quốc, dâng Tổ quốc. Tôi tin rằng những tác phẩm ấy sẽ sống mãi cùng Tổ quốc
Việt Nam, non sông Việt Nam, cũng như Tổ quốc và Tự do mãi mãi là nguồn sức
mạnh vô song đưa đất nước Việt Nam không ngừng tiến lên.
Từ ngày thống
nhất đất nước, người chiến sĩ - nghệ sĩ trong Hội ta sống thế nào, viết
thế nào? Tổ quốc và Tự do, hai giá trị cao quý nhất của con người
Việt Nam, hai nguồn cảm hứng lớn của văn chương Việt Nam diễn biến ra sao
trong tâm hồn họ, trong rung cảm nghệ thuật của họ ?
Chiến sĩ - thi
sĩ Thanh Thảo viết :
Có những
lúc ra về lòng rỗng không
Vì phải
gặp trong cơ quan một thằng cặn bã
Tôi chào
đất nước tôi. Buồn quá
Đó là mấy câu
thơ trong bài Tôi chào đất nước tôi, Thanh Thảo sáng
tác năm 1986, khi anh đang làm Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Nghĩa Bình.
Chiến sĩ - thi
sĩ Nguyễn trọng Tạo viết :
Khi đang
đắm yêu nào tin được bao giờ
Rồi một
ngày người yêu ta đổi dạ
Rồi một
ngày thần tượng ta tan vỡ
Bạn bè
thân thọc súng ở bên sườn
Sau cái
bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình
nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh
Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta
treo đâu nghĩ có một lần!...
Đó là những
câu thơ trong bài Tản mạn thời tôi sống Nguyễn Trọng Tạo
sáng tác năm 1981, khi những vết thương chiến tranh do giặc bành trướng
gây ra (tháng 2 năm 1979) tại các tỉnh biên giới phía bắc còn đang đau đớn
dữ dội trên khắp thân mình Tổ Quốc và trong lòng anh, mà đau đớn hơn hết
là sự đổ vỡ niềm tin vào cái tình “đồng chí, anh em” dựa trên mối liên
minh ý thức hệ giữa hai đảng cầm quyền trên hai đất nước xung đột về lợi
ích quốc gia.
Và Nguyễn Trọng
Tạo bị kiểm điểm vì thơ, vì dám trung thực bộc bạch nỗi đau trong lòng về
cái thời mình đang sống. Đêm 11 tháng 11 năm 1981, anh đặt sẵn 2 khẩu
súng ngắn bên gối để tự tử. Trước khi bóp cò, anh viết 10 bài thơ tuyệt mệnh,
có những câu này:
Lòng bộn
bề và trời đầy mây
Khao khát Tự do thì Tự do bị trói
Khao khát yêu thương thì ba chìm bảy
nổi
Sự thật thiêng liêng bị đánh tráo dối
lừa
Năm 2008, hai mươi hai năm sau bài Tôi
chào đât nước tôi, Thanh Thảo viết Lại chào đất nước,
có những câu này:
Cứ tự mình dán băng keo vào miệng
Con gọi Mẹ chỉ còn nghe ú ớ
Yêu Tổ quốc chỉ còn nghe ú ớ
Năm 1988, chiến sĩ - thi sĩ Nguyễn Duy tả cảnh Tổ
quốc, nhìn từ xa thấy đầy những điếm; “Điếm cấp
thấp bán trôn nuôi miệng/Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn”, những
“Chính khách mở mồm thằng nọ con kia”, những “Mẹ liệt sĩ gọi
con đội mồ lên đi kiện”. Và hỏi: “Ai ? Ai ?”.
Những tiếng hỏi “Ai ? Ai ?” đay đi đay lại suốt bài
thơ dài, cứ vang mãi, vang mãi khắp đất nước ngổn ngang bao “nghịch
lý” (chữ của Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, tác giả thiên triết luận nổi tiếng
Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ viết
năm 1988 mà nhà văn Ma Văn Kháng mượn đưa vào tiểu thuyết Đám cưới
không có giấy giá thú).
“Ai ? Ai ?” - Nguyễn Duy hỏi.
Không thấy ai trả lời.
Và Nguyễn Duy tự trả lời: “Không ai”.
Nhưng tôi nghĩ đằng sau hai tiếng “Không
ai”, Nguyễn Duy đã nhìn thấy ai và những ai đang giấu mặt ở đâu. Làm
gì có chuyện “không ai”! Phải có một ai đó, một tổ chức nào
đó, một quyền lực, một thế lực nào đó chịu trách nhiệm chứ? Ai, thế lực
nào đã đẩy Thanh Thảo vào cảnh tự mình dán băng keo vào miệng?
Ai, thế lực nào đã tước đoạt tự do của Nguyễn Trọng Tạo, đẩy anh đến chỗ
phải tìm đường quên sinh? Biết cả đấy, thấy cả đấy. Nguyễn Duy biết, Nguyễn
Trọng Tạo biết, Thanh Thảo biết, nhưng không nói, khó nói, chưa nói. Nguyễn
Trọng Tạo thừa biết cái thế lực chỉ đạo tổ chức kiểm điểm (đấu tố) anh đều
vốn là đồng chí đồng đội của anh, cấp trên của anh nhưng họ đã bị ham muốn
chức quyền lợi lộc làm cho tha hóa. Thanh Thảo thừa biết cái thế lực đó
là tập hợp những tên cặn bã năm xưa không những không bị thanh lọc khỏi
cơ quan, mà, với sự láu cá tài tình đáng nể, nó đã “chạy” lên trên chễm
chệ ngồi ghế cấp trên ra lệnh cho anh phải tự mình dán băng keo vào
miệng, đến nỗi người yêu nước như anh chỉ còn kêu ú
ớ. Và Nguyễn Trọng Tạo đã không tự tử,
anh quyết sống. Sống thế nào? Sống để chiến đấu cho Tự do, chắc chắn là
thế, có phải không, chiến sĩ - thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo? Và Thanh Thảo đã
đưa ra câu trả lời, trong bài Hà Sĩ Phu và cuộc cách
mạng bị đánh tráo viết từ năm 1993 nhưng gần đây mới công bố trên
trang mạng boxitevn.net
do nhà văn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi điều hành.
Thành quả cách mạng đã bị đánh tráo làm vật liệu
dựng nên ngai ghế vua quan cách mạng trong một cỗ máy quyền lực không có
giám sát từ bên ngoài và cơ chế hãm bên trong, lấy sự tồn tại của chính
nó làm mục đích tự thân, cứ ù lì quay một cách vô cảm bất chấp mọi ý kiến
phản biện phê phán, mọi đòi hỏi khách quan của công cuộc đổi mới mà Đảng
đề ra từ đại hội 6.
Cái “Sự thật thiêng liêng bị đánh tráo dối
lừa” mà chiến sĩ - thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo sớm nhận ra và ghi lại
vào phút sắp tự tử đêm 11 tháng 11 năm 1981 đó là gì?
Nguyễn Trọng Tạo tự trả lời ngắn gọn:
“Khao khát Tự do thì Tự do bị trói”
Câu thơ Nguyễn Trọng Tạo nói thay cho hàng triệu
hàng triệu gia đình Việt Nam suốt 30 năm chiến tranh đã hy sinh tất cả
tài sản tính mạng không chút so đo tính toán vì Tổ quốc và Tự do, đến khi
Tổ quốc hòa bình thống nhất thì “Tự do bị trói”. Sự thể phũ
phàng cay đắng này đã được chính Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh xác nhận bằng
hai tiếng “cởi trói”. Với ý thức trách nhiệm nghiêm cẩn của
người giữ cương vị tối cao trong hệ thống quyền lực, ông nói: “Tôi nghĩ Đảng
phải cởi trói”. Nhưng Đảng là ai? Đảng gồm mấy triệu đảng viên, phần đông
đều là những chiến sĩ tiền phong gương mẫu suốt đời chiến đấu hy sinh, suốt
đời tận tụy vì nhân dân quên mình, những đảng viên như thế không bao giờ
lại trói văn nghệ sĩ, trói nhân dân, hơn nữa chính họ cũng là nạn nhân bị
trói bởi cỗ máy quyền lực (mà vẫn tự cho mình thuộc thành phần lãnh đạo).
Cho nên, Tổng bí thư thì nói vậy, còn cái cỗ máy quyền lực thì vẫn cứ tiếp
tục vận hành ngược với thiện chí của ông.
Bởi động cơ đốt trong của cỗ máy này là tham vọng quyền lực luôn dùng thủ
đoạn hô to khẩu hiệu “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” để giữ chắc ngai
ghế vua quan cách mạng, năng lượng không bao giờ vơi cạn của nó là lòng
tham không đáy, là một thứ cá nhân chủ nghĩa lì lợm nhất ngoan cố nhất được
chính cỗ máy quyền lực dung dưỡng. Thật là bi kịch, một đại bi kịch! Toàn
Đảng toàn dân đổ bao nhiêu xương máu dựng nên một cỗ máy quyền lực rồi để
cho nó nghiền dần nghiền mòn tiêu tán hầu hết những phẩm chất tốt nhất của
mình. Những người dẫn dắt nhân dân 65 năm trước “rũ bùn đứng dậy” giờ đây
tự thấy mình còn vương nhiều bùn tanh.
Nhà thơ cách mạng Nguyễn Đình Thi thổ lộ lúc cuối
đời :
Người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh nhuốm đỏ
Tay tôi vướng nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình
Nhà văn cách mạng Nguyễn Khải, trong bài Chiến
sĩ – Nghệ sĩ (báo Văn nghệ số 17,18 ngày 29.4/5.5.2007) buồn
bã nhìn lại đời mình và bậc đàn anh Nguyễn Đình Thi, từ người chiến sĩ -
nghệ sĩ sống cao đẹp bao nhiêu thì chuyển sang đời công chức, quan chức tầm
thường tẻ nhạt bấy nhiêu. Không lâu trước khi mất, Nguyễn Khải còn gắng
viết một tùy bút chính trị khá dài Đi tìm cái tôi đã mất. Tôi
nghĩ chắc hai anh tự buộc mình trải lòng lên trang giấy những chiêm nghiệm
thầm kín ấy là để cho cõi lòng nhẹ nhõm phần nào trước lúc đi xa, mà cũng
là muốn gửi lại như một lời nhắc nhở các thế hệ kế tiếp. Giờ phút này,
tôi cảm thấy hồn thiêng hai anh đang hiện hữu nơi đây, trong hội trường
này, đang muốn xem những lời nhắc nhở chân tình của mình được tiếp nhận đến
đâu. Hẳn hai anh đã thấy bi kịch Nguyễn Đình Thi, bi kịch Nguyễn Khải vẫn
đang lặp lại ở Ban chấp hành Hội khóa 7 qua niềm thơ Thanh Thảo “Cứ
tự dán băng keo vào miệng/Con yêu Mẹ chỉ còn nghe ú ớ/Yêu Tổ quốc chỉ còn
nghe ú ớ”. Các đồng nghiệp hội viên của tôi có mặt ở đây hôm nay,
người trẻ nhất cũng lớn tuổi hơn nhà văn Nguyễn Đình Thi lúc viết Một
nền văn hóa mới, nhà văn Nguyễn Khải lúc viết Mùa lạc, các bạn
nghĩ gì về những lời nhắc nhở của hai bậc tiền bối, con đường văn chương
và giữ gìn phẩm giá nhà văn của các bạn sẽ ra sao? Những người đi tới
biển của Thanh Thảo là con người đi tới tự do, những người lính ngồi
xe tăng tiến tới thành phố của Hữu Thỉnh là tới đâu, tới tự do hay tới
nơi nhà cao cửa rộng để làm công chức, làm quan chức? Tôi mong các anh chị
lãnh đạo hội các khóa trước và khóa này bày tỏ đôi ý kiến với các bạn trẻ
về những lời nhắc nhở của anh Thi anh Khải. Hội chúng ta đang đứng trước
một tình hình phải có sự lựa chọn cho rành mạch, không thể tiếp tục “ú
ớ” nữa.
Không thể ú ớ trước hiểm họa bành
trướng đang đe dọa sự mất còn của Tổ quốc.
Không thể ú ớ trước tình cảnh các
đồng nghiệp lâm nạn vì ngòi bút.
Không thể ú ớ trước yêu cầu bức
bách về đổi mới tổ chức Hội, tiếp tục theo con đường Hội xin tiền Nhà nước
hay dứt khoát chuyển sang con đường Hội tự nuôi tự quản.
Hội nhà văn chúng ta bấy lâu được xây
dựng và hoạt động theo mô hình “tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp”
được nuôi bằng tiền Nhà nước (tất nhiên lấy từ tiền thuế dân đóng). Thực hiện chủ trương đổi mới tư tưởng đi đôi với đổi mới tổ chức
do Đại hội Đảng lần thứ 6 đề ra, đa số hội viên Hội nhà văn tại Đại hội lần
thứ 4 (họp tháng 10 năm 1989) đã quyết định Hội chỉ là “tổ chức xã hội
nghề nghiệp” thôi, không phải là tổ chức chính trị nữa. Nhưng đến Đại hội
lần thứ 5 (họp tháng 3 năm 1995) thì lại trở về mô hình “tổ chức chính trị
xã hội nghề nghiệp”. Thế là đổi mới vừa nhích lên chút xíu đã phải lùi về
như cũ. Nguyên nhân của sự thụt lùi này rất đơn giản: TIỀN. Phải là “tổ
chức chính trị” thì Nhà nước mới cấp tiền (gồm cả trụ sở, phương tiện),
và ngày càng nhiều tiền.
Thông tin trên Vietnamnet cho biết: chỉ
tính riêng tiền đầu tư chiều sâu sáng tác, Hội nhà văn được cấp trong nhiệm
kỳ 5 năm qua (2005 – 2010) là 15 tỷ đồng, nếu kể cả các hoạt động thường
niên của Hội thì con số này chắc chắn lớn hơn nhiều.
Về trụ sở, trong phạm vi tôi biết thì
Tại Hà Nội có :
-
9 Nguyễn Đình Chiểu
-
65 Nguyễn Du
-
17 Trần Quốc Toản (vừa đập cũ xây mới thành 8 tầng)
-
Bảo tàng văn học tại Quảng Bá Tây Hồ (mới khánh thành, nhà và khuôn viên
đất rất lớn)
Tại TP HCM:
-
43 Đồng Khởi (vị trí này giá đất nghe nói đắt ngang với giá ở thủ đô
Tô-ki-ô của Nhật Bản)
Tôi xin nhờ các đồng nghiệp am hiểu tính sơ
giùm, chỉ riêng tài sản cố định nêu trên, Hội ta đang quản lý một khối lượng
tài sản quy ra tiền là bao nhiêu, có lẽ phải tới nhiều trăm tỷ? Và thử
tính hiệu quả của những đồng tiền ấy. Hãy lấy tờ báo Văn nghệ để
xem xét. Cứ so sánh giữa 2 thời, trước kia do nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng
biên tập với sau đó do nhà thơ Hữu Thỉnh rồi nhà văn Nguyễn Trí Huân làm
Tổng biên tập. Trước: kinh phí ít, trụ sở nhỏ, chất lượng cao, số lượng
phát hành tăng [hết sức] nhanh nhờ chất lượng. Sau: trụ sở vẫn thế, gần
đây xây mới thành nhà 8 tầng, còn chất lượng thì rõ ràng không bằng trước
[thua quá xa thời Nguyên Ngọc – BVN], lượng phát hành cũng chỉ bằng
hoặc có thể không bằng trước (lý do cần đập ngôi nhà cũ - hình như là một
di tích lịch sử - để xây lớn nhiều tầng chắc không phải vì nhu cầu phát
triển tự thân của tờ báo?). Nếu tính cả khấu hao tài sản cố định vào giá
thành sản phẩm thì tờ báo hẳn là lỗ rất nặng. Lại đem kinh phí hoạt động
của Hội mua báo Văn nghệ phát không cho hội viên. Cách làm này gây
hại cho tờ báo (không cần nâng cao chất lượng cũng cứ có một lượng phát
hành ổn định), gây lãng phí, bởi nhiều hội viên không thích đọc báo Văn
nghệ cũng cứ phải nhận rồi vứt xó. Ấy là chưa kể - mà điều này mới là
hệ trọng hàng đầu: trăm nghìn sự phức tạp, gây đau lòng và xấu hổ cũng bắt
nguồn từ cái đồng tiền bao cấp đó, tiền rót xuống càng nhiều càng phức tạp.
Những ngày này, Hội nhà văn Việt Nam đang
trên đường tiến tới Đại hội lần thứ 8 của mình. Về việc đổi mới tổ chức Hội,
có 3 luồng ý kiến khác nhau, phát biểu trong các hội nghị và trên các
phương tiện truyền thông:
1/- Để nguyên như cũ: Hội là tổ chức chính trị
xã hội nghề nghiệp (Dự thảo sửa đổi điều lệ của Ban chấp hành Hội).
2/- Sửa lại như đại hội 4 đã sửa : Hội là tổ chức
xã hội nghề nghiệp.
3/- Chuyển từ Hội do Nhà nước nuôi thành Hội tự
nuôi (và đương nhiên: tự quản).
Điểm khác nhau mấu chốt giữa 3 luồng ý kiến trên
(thực chất chỉ là 2) nằm ở chỗ: nhà nước nuôi hay tự nuôi? Mới hay cũ
cũng ở cái chỗ này. Có thực lòng yêu dân yêu nước yêu tự do hay không
cũng ở cái chỗ này. Nếu thực sự quyết tâm đổi mới thì hiển nhiên phải chọn
con đường tự nuôi. Phải tự nuôi thì mới thoát khỏi cái cảnh
nhà văn cán bộ, nhà văn công chức, nhà văn quan chức. Điều này đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nêu lên từ lâu
nhưng chưa được quan tâm suy nghĩ và thảo luận. Nay đã đến lúc không thể
né tránh mãi nữa. Một kiểu né tránh thể hiện ở luận điểm: tự nuôi thì đói.
Hãy cùng nhau đào sâu vấn đề: một hội tự nuôi có
đói được không? Câu trả lời của tôi là: không, không thể đói được, mà đói
cũng quyết tự nuôi. Đã có biết bao nhà văn tạo nên những tác phẩm giá trị
trong hoàn cảnh tự nuôi đó thôi. Tự lực Văn đoàn là một tổ chức chỉ gồm 8
thành viên đều là những nhà văn tài năng tự nuôi mình và góp phần nuôi hội
mà làm nên một sự nghiệp văn học đồ sộ nhường nào. Hai tiếng “Tự lực” chứa
đựng cả một triết lý sâu xa về lẽ sống, một thái độ sống, một phong cách
sống rất đáng trọng của người trí thức. Chúng ta cần học kinh nghiệm rất
hay của Tự lực Văn đoàn để xây dựng hội của mình. Tôi tin rằng nhiều nhà
văn chúng ta, nhất là những ai ít bị vướng víu tâm lý bao cấp, tha thiết
với con đường “tự lực”, sẽ có vô vàn sáng kiến để định ra một đề án xây dựng
Hội tự nuôi tự quản có tính khả thi và tính hiệu quả cao. Hội phải là nơi
các nhà văn tự nuôi tự nguyện tập hợp nhau lại do nhu cầu tri âm tri kỷ,
giúp nhau trau dồi nghề nghiệp, cưu mang nhau khi gặp khó khăn, bênh vực
bảo vệ nhau khi lâm nạn vì ngòi bút.
Nhà văn Đình Kính nêu yêu cầu: “XÂY DỰNG MỘT
ĐIỀU LỆ KHOA HỌC, SANG TRỌNG LÀ KHÂU TỐI QUAN TRỌNG CỦA ĐẠI
HỘI 8”. Phải lắm! Muốn thế thì điều khoản then chốt của điều lệ Hội
dứt khoát phải là hai chữ “tự nuôi”. Tự nuôi mới có sức sống tự thân, đó
là khoa học. Tự nuôi mới là biết tự trọng và được người đời kính trọng,
đó là sang trọng. Nhà nước và công chúng, do sự thôi thúc bởi nhu cầu tự
thân của một nhà nước có văn hóa, một công chúng có văn hóa, khi thấy có
nhà văn nào (trong hoặc ngoài hội) đáng kính trọng về tác phẩm và nhân
cách thì tự nguyện đến tận nhà của nhà văn ấy tỏ niềm kính trọng. Những
nhà văn chân chính khi lâm nạn vì ngòi bút hoặc các thứ nạn khác, nhất định
sẽ được nhân dân đem gạo mắm đi thăm nuôi, không có gạo mắm thì một gói
mì một mẩu sắn trong cảnh ngộ ấy cũng quý báu gấp ngàn lần các khoản đãi lấy
từ tiền thuế của dân; và đồng thời gói mì, mẩu sắn đạm bạc ấy cũng lập tức
trở thành nguồn sữa tinh thần vô tận nuôi lớn tâm hồn và khí phách người
nghệ sĩ.
Vậy là việc lựa chọn mô hình xây dựng hội xin
tiền nhà nước như bấy lâu hay chuyển sang hội tự nuôi đã trở
thành vấn đề danh dự của Hội và của từng nhà văn.
Tôi tin rằng một Hội nhà văn tự nuôi tự quản sẽ
được Nhà nước quý trọng, kính phục và nhân dân yêu thương gấp bội một Hội
nhà văn xin Nhà nước nuôi.
Nhà văn cách mạng Nguyễn Minh Châu tâm sự (trong
thư gửi nhà thơ Nguyễn Trung Thu) lúc cuối đời:
“Nhà văn nước nào cũng vậy, ngoài tiếng nói
trong tác phẩm, phải có tiếng nói xã hội, tiếng nói trước công bằng và bất
công, trước chiến tranh và hoà bình”.
“Theo tôi, làm một thằng nhà văn Việt Nam vào
lúc này mà tìm cách lẩn tránh vấn đề dân chủ là thiếu tư cách, kể cả việc
anh núp sau lập luận rằng văn học là cái gì sâu xa để đời (…). Ở cái chỗ
này tôi thấy có cái gì đang thử thách, lại thử thách từng người rất tinh
vi, ai ra sao nó lại lộ ra như thế…”.
Vâng, anh Châu ơi, lúc này là lúc đang thử thách
từng người chúng tôi. Tôi cảm thấy hồn thiêng anh Châu cũng đang hiện hữu
ở đây cùng anh Thi anh Khải, các anh đang nhìn xem mỗi chúng ta sẽ ra sao
trước thử thách này.
Đà lạt 25.07.2010.
BMQ
Trích: Bauxite
VN 27.7
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát
triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|