|
DC&PT -
Thời Sự 2009
Tranh chấp vùng biển Tây Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung quốc
Trần Bình Nam
Thuyết
trình trong buổi hội thảo ngày 18/10/2009 tại Hội trường nhật báo Việt
Báo, Westminster, Little Saigon, do Đại Việt Cách Mạng Đảng và đảng Tân Đại
Việt phối hợp tổ chức.
1. Bối cảnh
2. Sự quan trọng của hải
lực : Thuyết “hải lực” của Hoa Kỳ
3. Chiến lược biển của
Trung quốc
4. Trung quốc chuẩn bị
vũ khí và căn cứ
5. Căn cứ tàu ngầm nguyên
tử của Trung quốc
6. Sự quan trọng của căn
cứ Cam Ranh đối với Trung quốc và Hoa Kỳ
7. Trung quốc kết bạn
năm châu
8. Chạm trán giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trên
Biển Đông
9. Chính sách của Hoa Kỳ
10. Thực tế trước mắt của
Việt Nam
11. Kết luận
1.
Bối cảnh:
Bối cảnh của vấn đề tôi trình bày hôm nay
liên quan đến an ninh của Hoa Kỳ, liên quan đến chiến lược bành trướng của
Trung quốc và liên quan đến chính sách
bảo vệ quốc gia của Việt Nam.
Hoa Kỳ là một trong 2 siêu cường trên thế
giới (siêu cường kia là Liên bang Xô viết) của thế kỷ 20, và là siêu cường
duy nhất còn lại của thế kỷ 21 nên không ai lạ về sự hiện điện của Hoa Kỳ
khắp nơi trên thế giới, từ Âu châu, Á châu tại những vùng chiến lược như Đức,
Nhật, Nam
Hàn.
Và sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với vùng Tây
Thái Bình Dương trong đó có Biển Đông, một vùng biển được giới hạn phía
Nam bởi Nam Dương, Mã Lai Á, Singapore,
phía Đông bởi Phi Luật Tân, phía Tây bởi Việt Nam và phía Bắc bởi Trung
quốc là một việc tự nhiên. Hoa Kỳ có nhiều hạm đội hiện điện khắp nơi
trên thế giới. Hạm đội Thái Bình Dương thường được gọi là Hạm đội 7 phụ
trách vùng Tây Thái Bình Dương .
Sau khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam năm 1975,
ảnh hưởng của Liên bang Xô viết bao trùm vùng Biển Đông vì lúc đó Trung
quốc còn đang bận rộn và tê liệt với cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976).
Nhưng sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ (năm
1991), Trung quốc dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình cải tổ và theo đuổi
chính sách siêu cường, Trung quốc bắt đầu thay thế Liên bang Xô
viết trong vùng Biển Đông và trở thành lực lượng đối đầu với Hoa Kỳ.
Nếu nhìn trong bối cảnh thế giới Hoa Kỳ bảo
vệ thế siêu cường trong khi Trung quốc muốn trở thành siêu cường thì sự
chạm trán nhau là điều tự nhiên. Và đó là thực tế của thế giới hôm nay
và sẽ là thực tế ảnh hưởng đến sinh hoạt chính trị thế giới có thể kéo
dài nhiều chục năm nếu không muốn nói là cả thế kỷ trước mắt.
Phần trình bày hôm nay của tôi giới hạn nghiên
cứu sự chạm trán trong vùng Biển Đông và từ đó rút ra cái thế sống còn của
Việt Nam .
Nhìn vào bản đồ thế giới, ba phần tư (3/4)
là biển, cho nên khi nói đến sự đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung quốc sự đối
đầu đó không diễn ra trên đất liền mà chính yếu diễn ra trên biển cả, và
gần nhất là đối đầu trên Biển Đông . Biển Đông là phòng tuyến xa bảo vệ Hoa
Kỳ và Biển Đông vừa là hàng rào vào nhà vừa là cửa ngỏ đi vào đại dương của
Trung quốc.
2.
Sự quan
trọng của hải lực : Thuyết “hải lực” của Hoa Kỳ
Để xây dựng một lực lượng bảo vệ và phát huy thế lực
của Hoa Kỳ ra toàn thế giới Hoa Kỳ theo thuyết Mahan qua tác phẩm “Ảnh hưởng của hải lực đến lịch sử thế
giới trong thời gian 1660 đến 1783” (The Influence of Sea Power
upon History, 1660–1783) xuất
bản năm 1890 . Ông Alfred Mahan là một giáo sư của Đại Học Hải chiến Hoa Kỳ
(Naval War College),
sau trở thành sĩ quan Hải quân. Ông soạn cuốn sách nói trên với mục đích làm
tài liệu dạy học, nhưng những gì trình bày trong cuốn sách trở thành sách
gối đầu giường của các chiến lược gia Hoa Kỳ và thế giới, trong đó có các
nhà nghiên cứu chiến lược cận đại của Trung quốc .
Cốt lõi lý thuyết Mahan là: “Quan hệ quốc tế đều do
sức mạnh của mỗi quốc gia. Và sức mạnh đó dựa vào sức mạnh của hải lực”
Giáo sư Mahan xác định 3 yếu tố của hải lực: (1) chiến
hạm có vũ khí nặng với căn cứ tiếp vận (2) một đội thương thuyền có khả
năng đi lại tự do để buôn bán mọi nơi trên thế giới (3) nhiều thuộc địa để
yểm trợ cho các chiến hạm và thường thuyền.
Qua thời gian với kỹ thuật chiến tranh tối tân hơn,
với sự hiện diện của vũ khí nguyên tử, với sự chuyển vận một khối lượng nhanh
chóng của máy bay thuyết Mahan có nhiều thay đổi nhưng những
nét chính không hề thay đổi và chúng ta có thể kết luận rằng hiện nay Hoa
Kỳ đáng áp dụng thuyết Mahan trong việc phóng sức mạnh để bảo vệ quyền lợi
của Hoa Kỳ trên toàn thế giới.
3.
Chiến lược
biển của Trung quốc
Quan niệm sức mạnh trên biển
của đảng cộng sản Trung quốc hiện nay chịu ảnh hưởng của giáo sư Ni Lexiong,
thuộc Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh tại đại học Thượng Hải. Và giáo sư Ni
Lexiong chịu ảnh hưởng sâu đậm của thuyết Mahan.
Cách đây chừng hơn 10 năm
khi nghiên cứu triều đại nhà Minh (1368-1644) ông Ni Lexiong thấy sức mạnh
của bộ binh dựa vài một nền kinh tế nông nghiệp không có cách gì đối đầu với sức mạnh trên
biển dựa vào sự giao thương trên biển của Tây phương. Và ông là người đầu
tiên suy nghĩ về một phương thế để chuyển sức mạnh của Trung quốc từ một
lực lượng đất liền thành một lực lượng biển cả.
Và cũng như Hoa Kỳ Trung
quốc đi vào con đường phát triển hải lực theo 3 nguyên tắc (1) tàu lớn, vũ
khí mạnh và căn cứ (2) một đội thương thuyền hùng hậu và (3) một hệ thống
quốc gia lệ thuộc hay đồng minh.
Trung quốc áp dụng quan niệm
hải lực của Mahan một cách chặt chẽ hơn Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ phát huy hải lực
để bảo vệ quyền lợi của mình, trong khi Trung quốc phát huy hải lực để bảo
vệ sự tồn tại của chính mình trước các khối sức mạnh khác bao trùm trên
thế giới, trước hết là Hoa Kỳ .
Giáo sư Lexiong bảo vệ quan
niệm bành trướng hải lực của ông bằng thuyết Hobbes
(Thomas Hobbes). Thomas Hobbes là một nhà triết học chính trị người Anh trong
thế kỷ 17 cho rằng sinh hoạt của cộng
đồng quốc tế là sinh hoạt mạnh được yếu thua.
Giáo sư Ni Lexiong thường đặt câu hỏi “Nếu Trung quốc
muốn phát triển sức
mạnh kinh tế ra ngoài mà khi lâm chiến bị chặn đường biển thì Trung quốc
sẽ sống như thế nào? Để trả lời ông thường lấy hai thí dụ làm bài học căn
bản:
Thứ nhất là trận giặc Anh – Hòa Lan trong 2 năm từ 1652
đến 1654. Hòa Lan và Anh tranh hùng chiếm giữ eo biển Manche giữa Anh và
Pháp. Hòa Lan không kiểm soát nổi eo biển để duy trì sự buôn bán với nước
ngoài và sau 19 tháng chiến tranh tài nguyên quốc gia cạn kiệt, Hòa Lan
phải chấp nhận hòa một cách nhục nhã với Anh để duy trì sự hiện hữu của Hòa
Lan tại Âu châu.
Bài học thứ hai là trận chiến Trung – Nhật trong 2 năm
1894, 1895. Chỉ vì Từ Hi Thái Hậu lấy 7.5 triệu lượng bạc dành cho Hải quân
để chỉnh trang cung điện mùa hè mà hải quân Trung quốc đã thua
trước hải quân Nhật và Trung quốc mất Đài Loan cho Nhật và Trung quốc phải
vay của Anh và Pháp 280 triệu lượng, tổng cộng kể cả tiền lời lên đến 600
triệu lượng, chưa kể sau đó Trung quốc còn thua thiệt rất nhiều trên mặt
kinh tế và sự suy yếu chính quyền tại Bắc Kinh .
Cũng như ông Lexiong, các chiến lược gia Trung quốc
cũng thấy rằng từ thời cổ Hy Lạp và cổ Roma đã có một quan hệ không thể tách
rời giữa sức mạnh của một nước với sức mạnh của đội thương thuyền của nước
đó. Và họ đi đến kết luận Trung quốc muốn vừa lớn mạnh vừa phát triển để
tự bảo vệ Trung quốc cần có một đoàn thương thuyền đi đôi với một hải lực
hùng mạnh và Trung quốc phải kiểm soát vùng biển trước mắt. Không như Hoa
Kỳ biển trước mắt Trung quốc bao che bởi nhiều quốc gia, bạn ít thù nhiều.
Đông có Nhật Bản, Nam có Phi Luật Tân, Nam Dương, Úc châu và
Việt Nam.
Trước lý thuyết phát triển hải lực để bảo vệ an ninh và bành trướng thế lực, một số lý thuyết gia khác
của Trung quốc muốn tìm một lối khác ít tốn kém hơn.
Họ đặt câu hỏi: Sự “toàn cầu hóa kinh tế thế giới”
(Economic globalization) xuất hiện và gần như là ngôn từ đầu lưỡi
của sinh hoạt kinh tế thế giới hôm nay có thể giúp cho Trung quốc phát
triển kinh tế bền vững và lâu dài mà không cần phải có một hải quân hùng
mạnh không?
Câu trả lời của giáo sư Ni Lexiong và được sự đồng thuận
của giới lãnh đạo
Trung quốc là: KHÔNG.
Trung quốc không tin vào lý thuyết các quốc gia có thể được bảo vệ bởi luật
lệ quốc tế qua các cơ cấu quốc tế như Liên hiệp quốc. Trung quốc xem Liên
hiệp quốc là một cơ cấu có giá trị tương đối để giữ gìn ổn định trên thế
giới đối với những tranh chấp không quan trọng và không đụng chạm đến quyền
lợi của 5 nước Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc
(HĐBA) gồm Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp và Trung quốc. Cả 5 nước này đều có vũ
khí nguyên tử đủ sức tàn phá cả thế giới và đang cầm “roi” trừng phạt bất
cứ quốc gia nào khác (ngoài Ấn độ và Pakistan đã có vũ khí nguyên tử rồi)
muốn phát triển vũ khí nguyên tử để tự vệ.
Trung quốc nghiên cứu kỹ các cuộc đụng độ trên thế giới
sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt và thấy rằng chiến tranh tiếp diễn dưới
nhiều hình thức và quốc gia có quân lực hùng mạnh vẫn là quốc gia có tiếng
nói sau cùng: chiến tranh Kosovo năm 1999 giữa Serbia và NATO, chiến tranh
Afghanistan, chiến tranh Iraq.
Đem áp dụng vào các tranh chấp đang diễn ra như Đài
Loan, sự tranh giành Trường Sa với Việt Nam, đảo Sankaku (người Trung quốc
gọi là đảo Diaoyu) với Nhật, Trung
quốc cho rằng tất cả các tranh chấp này đều không có triển vọng giải quyết
trong hòa bình. Tối hậu là phải dùng giải pháp quân sự.
Kết luận: Xây dựng một hải lực hùng mạnh đối với Trung
quốc không những là một thực tế mà là con đường độc đạo để sống còn.
Trung quốc biết
rằng xây dựng một hạm đội rất tốn kém, nhất là phí tổn duy trì nó trong
thời bình. Với đà tiến bộ không ngừng của kỹ thuật và khoa học một hạm đội
cần chỉnh tranh và cải tiến vũ khí không ngừng nếu không sẽ trở thành lỗi
thời. Và Trung quốc lấy quyết định: Trả mọi giá để xây dựng một hải lực
hùng mạnh để bảo vệ “không gian sinh tồn” của họ là biển Đông và eo biển
Malacca vào Ấn Độ Dương.
Trung quốc chấp nhận đối đầu với hải quân Hoa Kỳ .
Và cuộc tranh chấp đó đã bắt đầu.
4.
Trung quốc
chuẩn bị vũ khí và căn cứ
Tôi không đi vào chi tiết. Tôi chỉ nêu ra vài sự kiện
quan trọng và mới mẻ để quý vị quan tâm.
Trung quốc có cơ sở đóng tàu và một chương trình đóng tàu với ngân sách
phong phú. Trong vòng 10 năm qua Trung quốc đã đóng được nhiều chiến hạm
lớn, và cũng đã đóng được tàu ngầm nguyên tử và đang trên đường đóng Hàng
Không Mẫu Hạm.
Trong cuộc diễn binh ngày 1/10/2009 vừa qua tại Bắc
Kinh, Trung quốc đã cho trình diễn khoảng 50 thứ vũ khí mới do Trung quốc
chế tạo, và đáng quan tâm nhất là hỏa tiễn bắn theo đường đạn đạo DF-21 đặt
trên đất liền. Hỏa tiễn này có khả năng bắn vào các mục tiêu di chuyển trên biển như các tàu chiến và có khả năng
đánh đắm một Hàng Không Mẫu Hạm. Vũ khí này rõ là một tín hiệu cho Hoa Kỳ
biết rằng, tuy Trung quốc chưa có những đơn vị tác chiến bằng hạm đội
Hàng Không như của Hoa Kỳ, nhưng hỏa tiễn DF-21 có tầm bắn 1000 hải lý có
thể triệt tiêu khả năng của các đội Hàng
Không Mẫu Hạm Chiến đấu (Carrier Strike Group) của Hoa Kỳ.
5.
Căn cứ
tàu ngầm nguyên tử của Trung quốc
Về căn cứ, ngoài việc tân trang căn cứ tàu ngầm ở căn
cứ tàu ngầm Xiaopingdao trong vịnh Bố Hải thuộc tỉnh Hồ Bắc ở phía Bắc, hơn
một năm trước đây (tháng 5/2008) Tây phương vừa phát giác rằng (do tạp
chí tư nhân Jane’s Intelligence
Review chuyên về quốc phòng cho phổ biến một số hình ảnh mua được của
hãng vệ tinh tư nhân DigitalGlobe) Trung quốc đang thiết lập một căn cứ tàu
ngầm nguyên tử tại Yulin (Sanya) nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Các hình ảnh cho
thấy một căn cứ tàu ngầm khổng lồ với nhiều cửa hầm (thấy được ít nhất 14
cửa) bề ngang 16 mét mở từ biển dẫn vào các hầm bên trong nằm dưới mặt đất.
Các hình khác cho thấy hai cầu tàu dài và nhiều cầu tàu ngắn hơn có khả
năng làm chỗ neo cho ít nhất hai đội Hàng
Không Mẫu hạm Chiến đấu.
Tấm không ảnh
đáng quan tâm nhất là tấm hình cho thấy sự có mặt tại căn cứ Yulin một chiếc
tàu ngầm phóng hỏa tiễn chạy bằng nguyên tử lực loại 094 (Jin-Class). Tàu ngầm này mỗi chiếc trang bị 12 hỏa tiễn
loại JL-2 mang đầu đạn nguyên tử được hướng dẫn (guided missiles) có tầm
bắn xa từ 7.200km đến 8.000km, theo ước lượng đầu năm 2008 của Hoa Kỳ.
Đây là lần đầu tiên loại vũ khí này được bố trí xa về
phía nam nhìn vào vùng nam Thái Bình Dương. Bộ quốc phòng Hoa Kỳ cho biết,
Trung quốc sẽ có 5 chiếc tàu ngầm loại
094 vào năm 2010.
Sự phát giác này làm cho giới quốc phòng Hoa Kỳ, Ấn
độ, Úc châu, New Zeland và các nước trong khối Hiệp hội Đông nam á (Asean)
tỏ ra rất quan tâm.
Sự di chuyển loại tàu ngầm này đến vùng biển Đông nằm
đầu thủy đạo đi vào Ấn Độ Dương là một dấu hiệu Trung quốc thay đổi sự bố
trí chiến lược quan trọng, mặc dù cho đến lúc này không một giới chức thuộc
giới quốc phòng trên thế giới đoán biết Trung quốc có khả năng gì và dự tính gì.
Đặt vấn đề khả
năng vì trước đây loại tầu ngầm mang hỏa tiễn nguyên tử Xia của Trung quốc đã ra khơi nhưng
không làm ai e ngại vì di chuyển đến đâu cũng bị hải quân Hoa Kỳ theo sát
(Trung quốc chưa nắm vững kỹ thuật khử từ trường của vỏ tàu). Nhưng lần này
các hình ảnh cho thấy tại căn cứ Yulin có cơ sở khử từ, và nếu cơ sở này
hữu hiệu thì tàu ngầm loại 094 sẽ có khả năng chiến lược và tính đe dọa rất
cao. Nhất là vùng biển nam Hải Nam là vùng biển sâu. Chỉ cần
ra biển vài kilomét là đã có độ sâu 5000 mét, nên khi tàu ngầm loại 094, nếu đã được khử từ tốt xuất
phát công tác thì rất khó phát hiện.
Hai nước quan tâm nhất đến các hình ảnh mới tiết lộ
này là Ấn độ và Hoa Kỳ. Nếu tàu ngầm
loại 094 vào hoạt động tại Ấn Độ
Dương thì bất cứ mục tiêu nào của Ấn độ cũng ở trong tầm bắn của hỏa tiễn
mang đầu đạn nguyên tử JL-2 . Lục địa Hoa Kỳ (CONUS) cũng là một mối lo trên
nguyên tắc, nhưng Hoa Kỳ hẵn còn thừa khả năng theo dõi và Trung quốc biết
điều này.
6.
Sự quan
trọng của căn cứ Cam Ranh đối với Trung quốc và Hoa Kỳ
Hiện nay căn cứ Cam Ranh là một căn cứ bỏ trống. Mặc
dù cho đến nay chưa có tin tức gì xác nhận, nhưng cũng dễ đoán rằng Trung
quốc đang ve vãn thuê bao dài hạn. Việt Nam chưa có thái độ gì rõ ràng
về vấn đề này. Tuy nhiên vì vị trí quan trọng của Cam Ranh
đối với sự kiểm soát thủy lộ biển Đông nên sự sử dụng nó như thế nào trong
tương lai là một chỉ dẫn chiều hướng chiến lược của Việt Nam.
Cam Ranh là một hải
cảng nước sâu quan trọng nhất tại Á châu và nằm trên con đường án ngữ biển
Đông từ Ấn độ dương lên miền Bắc Thái bình dương. Chiếm được Trường Sa mà
không kiểm soát được Cam Ranh thì cũng chưa kiểm soát được đường biển huyết
mạch này.
Người Pháp sau khi đặt
xong nền đô hộ Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ 19 đã biến Cam Ranh thành một
quân cảng cho hải quân Pháp. Năm 1905 Pháp cho Nga mượn để đồn trú hạm đội
trước khi đụng độ với hải quân Nhật. Trong thời gian chiến tranh Bắc Nam (1954-1973)
Hoa Kỳ đã biến căn cứ Cam Ranh thành một căn cứ Hải-Không quân khổng lồ
làm điểm tiếp vận cho toàn cuộc chiến. Năm 1973 Hoa Kỳ rút lui giao căn cứ
Cam Ranh cho VNCH và Cam Ranh xuống cấp dần vì VNCH không đủ sức bảo trì
và xử dụng .
Năm 1975 khi miền Nam sụp đổ
Hải quân Bắc việt cũng không sử dụng nổi căn cứ. Năm 1979 Hà Nội cho Nga thuê
25 năm. Để chận đường tiến về phía Nam của hải quân Trung quốc Nga
cho cho xây thêm 5 cầu tàu, 2 bãi đưa tàu lên cạn để bảo trì và sửa chữa,
xây thêm cơ sở cho tàu ngầm ẩn núp, kho chưa dầu, nhà máy điện, doanh trại
và kéo dài phi đạo . Năm 1991 Nga sụp đổ, Việt Nam ngả dần về Trung quốc, đòi tăng tiền
thuê nên (năm 2001)
Nga trả lại căn cứ cho Việt Nam.
Trong 8 năm qua Cam Ranh bỏ trống
.
7.
Trung quốc
kết bạn năm châu
Theo đúng thuyết
Mahan, Trung quốc có chương trình kết bạn khắp năm châu, bành trướng thế lực,
mở rộng không gian sinh tồn và tìm kiếm năng lượng.
Trung quốc bắt
tay với mọi chế độ trên thế giới không phân biệt dân chủ hay độc tài, thân
hay không thân Hoa Kỳ. Nam Mỹ, Phi châu nơi nào Trung quốc cũng vung tiền và
phương tiện kỹ thuật để mua chuộc và bảo đảm sự cung cấp dầu hỏa và vị trí
chiến lược tương lai cho hải quân. Trung quốc chơi với Venezuela và Sudan
vì dầu hỏa dù tổng thống Chavez (của Venezuela)
công khai chống Mỹ và Sudan
áp dụng chính sách diệt chủng tại Darfur.
Trung quốc yểm trợ chính quyền quân nhân toàn trị tại Miến Điện để mở cửa
ngỏ chiến lược vào Ấn Độ Dương. Và Trung quốc kết thân với chế độ Pakistan
để giữ cảng Gwadar kềm chế Ấn Độ.
8.
Chạm trán
giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trên Biển Đông
Với sự phát triển của hải quân Trung quốc trên biển
Đông, sự chạm trán với hải quân Hoa Kỳ là điều không thể tránh khỏi .
Cuộc chạm trán đầu tiên diễn ra tháng 4/2001 khi Trung
quốc cho máy bay khu trục ngênh máy bay trinh thám của Hoa Kỳ ngoài khơi
biển Hải Nam.
Trung quốc đã giải quyết trong tinh thần nhượng bộ .
Nhưng nếu trước đây Trung quốc dè dặt thì trong những
năm gần đây trước
sự khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ và trên thế giới, một cuộc
khủng hoảng Trung quốc ít bị ảnh hưởng nhất, Trung quốc đã tỏ ra không ngại
các cuộc chạm trán với Hoa Kỳ trên biển Đông.
Năm nay (2009) hải quân Trung quốc 2 lần chạm trán với
Hải quân Hoa Kỳ. Lần thứ nhất ngày 8/3 các thuyền nhỏ Trung quốc quấy rối
chiếc USS Impeccable đang làm công tác
đo đạc và dò tìm dưới đáy biển cách đải Hải Nam 75 dặm. Để trả lời Hải
quân Hoa Kỳ phái một khu trục hạm đến hộ tống chiếc Impeccable. Đáp lại Trung quốc phái một chiếc tàu kiểm soát
ngư nghiệp đến trong vùng. Ngày 11/6 một tiềm thủy đỉnh Trung quốc đụng
máy sonar đang được tàu USS John McCain kéo cách căn cứ Subic bay 144 dặm.
Trước đó Trung quốc đã làm mọi những gì cần thiết để
tỏ cho Hoa Kỳ biết rằng biển Đông là một phần biển của họ.
Ngày 4/9/1958 Trung quốc ra thông cáo tuyên bố hải phận
của Trung quốc sẽ là 12 hải lý (chứ không còn là 3 hải lý như trước), và
khéo léo kèm tuyên bố đó một bản đồ
Biển Đông bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (được thế giới gọi
là bản đồ biển hình lưỡi bò – tài
liệu Trung quốc www.hku.hk/wa/conlawhk) ý nói rằng cái gì trong lưỡi bò là biển của Trung quốc và hải
phận 12 hải lý áp dụng cho các hòn đảo trong cái lưỡi bò. Hoa Kỳ và các nước
trong vùng đều công nhân tuyên bố hải phận 12 hải lý của Trung quốc nhưng
không nước nào công nhận cái bản đồ hình lưỡi bò của Trung quốc.
Ngày 19/1/1974 dùng hải quân cưỡng chiếm toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa làm thiệt mạng 50 binh sĩ hải quân VNCH
Ngày 14/3/1988 chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường
Sa; giết chết hơn 80 binh sĩ hải quân Bắc việt
Ngày 14/4/1988 tuyên bố sát nhập 2 quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam.
Tháng 12/2007 Trung quốc ban hành nghị định thành lập
huyện Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (dù đang còn tranh
chấp với Việt Nam và vài quốc gia
trong khối Asean).
Nghị định này là một thách thức đối với Hoa Kỳ vì hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trên thủy đạo quan trọng nối liền Ấn Độ
Dương với bắc Thái Bình Dương, con đường chuyển vận 80% dầu hỏa cho Nhật Bản
một đồng minh then chốt của Hoa Kỳ trong vùng tây Thái Bình Dương.
Có điều đáng để ý là dù vậy Hoa Kỳ cũng không lên tiếng,
ít nhất về mặt chính thức.
Trong những tháng cuối năm 2008 các giới
chức ngoại giao Trung quốc tại Hoa Thịnh Đốn đã tiếp xúc với các viên chức
của công ty dầu khí ExxonMobil của
Hoa Kỳ yêu cầu rút lại các giao kèo khai thác dầu hỏa tại hai vùng
trong Biển đông đã ký với công ty quốc doanh PetroVietnam. Vùng thứ
nhất nằm sát bờ biển Quảng Nam và Quảng Ngãi gồm một hình tam giác ép sát
bờ biển diện tích 2.166 km2
và một hình chữ nhật chiều cao 153km, chiều ngang 105km, diện tích
16.065 km2 . Tổng cộng diện tích vùng thăm dò này dựa vào bản
đồ chừng 18.231km2. Đường biên ngoài cùng của vùng này cách
thành phố Đà Nẳng 162 km.
Vùng thứ hai là một hình chữ nhật chiều cao 96km, chiều
ngang 148km, diện tích chừng 14.200 km2 phủ lên các bãi Phúc Tần,
Huyền Trân, Quế Đường và Phúc Nguyên nằm về phía đông nam Vũng Tàu cách
thành phố Sàigòn 440 km, và cách đảo Côn Sơn 374 km trực chỉ hướng 4 giờ.
Vùng này nằm trong quần đảo Trường Sa.
Theo quan điểm của Trung quốc, vùng phía
bắc lấn qua vùng khai thác kinh tế của đảo Hoàng Sa Trung quốc chiếm năm 1974,
trong khi vùng phía nam nằm trong quần đảo Trường Sa Trung quốc từng tuyên
bố là đất của mình. Lúc đầu bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố mạnh mẽ, nhưng
cuối cùng hãng ExxonMobil cũng ngừng các kế hoạch dò tìm. Lưu ý rằng tháng
3 năm 2007 hãng dầu BP (British Petroleum, một công ty liên doanh Anh-Hòa
Lan) ký giao kèo dò tìm dầu mỏ với Việt Nam cạnh vùng phía Nam (một trong
hai vùng vừa ký với hãng ExxonMobil) Trung quốc cũng đã áp lực BP rằng nếu
tiếp tục dò tìm dầu hỏa theo giao kèo với Việt Nam, Trung quốc sẽ không
ký một giao kèo làm ăn nào với BP tại Trung quốc trong tương lai. Trước áp
lực, công ty BP đã ngưng các cuộc dò tìm.
9.
Chính
sách của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ đã im lặng trước các động
thái dọ dẫm của Trung quốc. Có một vài nhà ngoại giao (trong đó có ông
Stephen Young) cho rằng, Hoa Kỳ với chính quyền Obama đang lúng túng và
chưa có chính sách về Đông Á. Tôi không đồng ý với cách nhìn này . Chừng
nào còn ông Robert Gates ở bộ quốc phòng chừng đó vấn đề Đông Á Thái Bình
Dương còn được quan tâm thích đáng. Ông Gates nguyên là giám đốc cơ quan
tình báo Hoa Kỳ, ông biết rõ sự quan trọng của vùng Á châu, Thái Bình
Dương đối với nền an ninh của Hoa Kỳ.
Và sự việc Hoa Kỳ quan tâm đến
chính sách của Việt Nam
(đối với Trung quốc và Hoa Kỳ) là một dấu hiệu quan tâm khác.
Một cách âm thầm Hoa Kỳ tìm cách
thuyết phục Việt Nam
về mối nguy của Trung quốc, và hình như đã thành công phần nào về mặt này.
Bản thông cáo chung sau chuyến thăm viếng của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
sang Hoa Kỳ cuối tháng 6/2008 vừa qua chứa đựng một số ngôn từ làm giới
quan sát quốc tế ngạc nhiên.
Bản thông cáo ghi nhận Hoa Kỳ và
Việt Nam
sẽ “trao đổi việc mở rộng và tăng
cường đối thoại giữa các quan chức cao cấp của hai nước. …. sẽ ủng hộ việc
lập cơ chế đối thoại mới về chính trị-quốc phòng và chính sách nhằm tăng cường
sự trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an ninh”.
Sau cùng Hoa Kỳ “tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ
Hoa Kỳ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”
10.
Thực tế
trước mắt của Việt Nam
Trung quốc
đã ấn định mục tiêu là làm chủ Biển Đông và đang thực hiện mục tiêu này bằng
thái độ “bàn tay sắt bọc nhung”. Nhưng nếu bàn tay bọc nhung không hiệu quả Trung quốc dùng bàn
tay sắt thì chưa biết cục diện sẽ biến chuyển như thế nào?
Đặt vấn
đề như vậy để chúng ta thấy sự quan trọng của Việt Nam trên
bàn cờ Đông Á tương lai.
Việt Nam nằm ngay trên chiến trường nhỏ là chiến
trường Đông Nam Á, vậy chính sách nào để Việt Nam tồn tại như một quốc gia
độc lập? Trong thế kỷ trước mắt Việt Nam không có con đường nào khác hơn
là liên kết với các quốc gia trong vùng, nhưng quan trọng hơn hết là liên
kết với Trung quốc và Hoa Kỳ. Cả hai khối thế lực này đều cần Việt Nam để
chuẩn bị cho nước cờ của mình.
Nhưng muốn
có chính sách trước hết cần hai điều kiện rút ra từ bài học của cuộc chiến
vừa qua. Thứ nhất Việt Nam
phải có khả năng tự lực trong khung cảnh mới của thế giới. Tự lực đây
không phải là chỉ có đầy đủ lương thực để có thể ăn no mặc ấm mà phải có tiềm năng kỹ
nghệ và sản xuất.
Thứ hai
là phải có người lãnh đạo giỏi. Vì thiếu bản lãnh chúng ta đã để cuộc tranh
chấp ý thức hệ trên thế giới thành một cuộc nội chiến tương tàn.
Dùng thế
liên kết Trung quốc và Hoa Kỳ để trước hết bảo vệ lãnh thổ và bảo tồn nền
độc lập dân tộc, bảo vệ quặng mỏ và túi dầu dưới đáy biển của chúng ta, và để tồn tại
như một quốc gia độc lập.
Hiện nay các dấu hiệu đều cho thấy
Việt Nam
hình như quá nhu nhược đối với Trung quốc . Đụng
chạm quyền lợi với Trung quốc ở đâu cũng chỉ thấy Việt Nam nhượng
bộ: nhượng bộ trên đất liền, nhượng bộ trên biển cả. Tàu hải quân Trung
quốc bắn và bắt ngư dân Việt Nam Hà nội không mạnh mẽ lên tiếng bênh vực
ngư dân. Khi Trung quốc thành lập quận huyện bao gồm quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa Việt Nam do dự không dám đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An để kiện
và lại ngăn cản nhân dân biểu tình phản đối.
Hiện nay
chỉ còn còn căn cứ Cam Ranh chưa lọt vào tay Trung quốc là dấu hiệu Việt Nam chưa
hoàn toàn lọt vào quỹ đạo Trung quốc. Nếu Cam Ranh lọt vào tay của Trung
quốc có lẽ lúc đó không còn gì để bàn luận nữa .
11. Kết
luận:
Thế kỷ 21 sẽ là một thế kỷ căng thẳng
trong đó hai đối thủ chính sẽ là Hoa Kỳ và Trung quốc.
Và điểm nóng sẽ là Biển Đông và rộng
hơn là vùng Tây Thái Bình Dương.
Có đi đến chiến tranh không ? Đây là một câu hỏi để mở vì không có một lý
thuyết tiền lệ nào để kết luận có “hòa hay chiến”. Các trận chiến tranh lớn
trên thế giới từ xưa đến nay dù trận chiến tranh nào cũng có nguyên nhân
đối kháng nhưng nó xẩy ra đều do tình cờ và khó đoán trước.
Trong thời gian chiến tranh lạnh
Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết có ít nhất là hai lần suýt đánh nhau mở đầu
cho thế chiến III (một lần do Nga phong tỏa thành phố Berlin (1948), và một
lần Nga đặt hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba (1962) nhưng đều tránh được. Có
thể là do hai nước đều có vũ khí nguyên tử có thể hủy diệt lẫn nhau.
Đó cũng có thể là điều kiện làm cho
sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung quốc không biến thành chiến tranh.
Nhưng không ai có thể quả quyết sẽ
không có chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trong tương lai. Một bên
Hoa Kỳ lo bảo vệ quyền lợi của mình trên thế giới, một bên Trung quốc có
nhu cầu bảo đảm an ninh và bành trướng thế lực.
Và nếu đứng trước một khúc quanh
nào đó Trung quốc quyết định chiếm Trường Sa và biển Đông trong đó có căn
cứ Cam Ranh bằng vũ lực, Hoa Kỳ có ngồi yên không?
Không ai có thể trả lời những câu hỏi
trên.
Trần Bình Nam
Oct. 18, 2009
binhnam@sbcgloba.net
www.tranbinhnam.com
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|