|
|
DC&PT -
Thời Sự 2009
GIẢM THIỂU 15
RỦI RO CỦA NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN
Phùng Liên
Đoàn
Một người bạn đề nghị tôi
cho ý kiến về bài viết “Dự Án Điện Hạt Nhân (ĐHN) Ninh Thuận và Những Câu
Hỏi Bỏ Ngỏ” của ông Phạm Duy Hiển khi tôi đang công tác quyên tiền với
các hội từ thiện để giúp nạn nhân bão lụt Ketsana. Đọc xong bài viết, tôi
thấy phát biểu của ông Hiển có căn bản khoa học và rất rõ ràng. Vì thế
tôi thấy không có gì cần phải nói thêm, nhất là khi tôi chưa được đọc Báo
Cáo Đàu Tư (BCĐT) của chính phủ và cũng không có tài liệu thống kê minh
bạch về kinh tế Việt Nam. Nhưng người bạn tôi lại nói:”40 năm làm việc về
ngành nguyên tử ở Mỹ mà sao không nói lên một tiếng để đóng góp vào quyết
định của Quốc Hội mà chính phủ càng ngày càng đề cao là có quyền tối hậu
vì là đại diện của người dân.”
Mặc dầu một vài chi tiết có thể trình bầy khác nhau,
tôi thấy ông Hiển đã phát biểu rất đúng về các vấn đề như: (1) Con số 380
tỉ KWh (tương đương với 48 nhà máy ĐHN 1000 MW sản xuất điện ngày đêm với
năng suất 90%) là không có căn bản xác thực vì có rất nhiều yếu tố làm
con số đó sai lầm; (2) Khi có nhà máy ĐHN, ta lệ thuộc nhiều hơn vào nước
ngoài chứ không có “an ninh năng lượng” nhiều hơn theo nghĩa độc lập tự
quyết khi có tiền; (3) kế hoạch xây nhà máy ĐHN không “hoàn toàn khả thi”
như người chào bán thường phô trương; (4) giá tiền các nhà máy này sẽ
nhiều hơn dự phỏng là 11 tỉ USD; (5) Sự an toàn của nhà máy ĐHN không có
gì là chắc chắn vì nhiều lý do; (6) Sử lý chất thải phóng xạ có nhiều rủi
ro; (7) Ta không có đủ thầy đủ thợ để xây dựng và quản lý nhà máy ĐHN dù
có sửa soạn ngay từ bây giờ; và (8) Ta không có đủ nền tảng hạ tầng để
xây dựng tốt và xử dụng tốt những nhà máy ĐHN theo như dự án.
Sau đây tôi liệt kê 15 rủi ro nhà máy ĐHN sẽ gập phải
và đề nghị một giải pháp tránh hoặc giảm thiểu các rủi ro đó, để các Dân
Biểu Quốc Hội, người dân và chính phủ xem xét.
BẨY
RỦI RO VỀ PHÓNG XẠ VÀ KỸ NGHỆ
Rủi
Ro 1: Nhà máy ĐHN là một trái bom nguyên tử
Với
người bình dân, “hạt nhân” và “nguyên tử” cũng có nghĩa như nhau. Sự bất
đồng chính kiến đã “chia rẽ thế giới” suốt 30 năm qua theo ông Hiển viết,
sự thực có nguồn gốc từ việc chống đối ĐHN bởi người dân các xứ dân chủ
cho rằng ĐHN và bom nguyên tử tuy hai nhưng là một. Thực vậy, sau 3 năm
hoạt động, các nhiên liệu của nhà máy ĐHN còn chứa U-235 và Pu-239 đủ để
làm 30 quả bom loại đã tàn phá Hiroshima và Nagasaki năm 1945. Rủi ro này
không có ở Việt Nam
bởi vì chính phủ đã tuyên bố không làm bom nguyên tử. Hơn nữa, các giao
kèo bán ĐHN cho các nước đang mở mang đều có điều kiện phải trả lại các
nhiên liệu đó sau khi đã dùng làm điện.
Rủi
ro 2: Nhà máy ĐHN có thể nổ như Chernobyl?
Chernobyl
nổ năm 1986 làm hơn 50 người bị chết, nhiều ngàn người bị bệnh vì phóng
xạ, nhiều triệu cây số vuông tại nhiều quốc gia bị nhiễm xạ, và cả thành
phố nguyên tử Pripyat bị bỏ hoang cả thế kỷ. Nhưng Chernobyl là loại nhà
máy dùng graphite để có sức sản xuất plutonium tối đa trong chương trình
làm bom của Nga. Các nhà máy ĐHN loại EPR, APWR, ABWR... mua từ các nước
dân chủ thì dùng nước thành ra không dễ nổ bởi phản ứng hóa học, và còn
có các thiết bị tự động khiến cho rủi ro lớn nhất cũng chỉ như Three Mile
Island, một sự cố làm mất trắng vài tỉ USD nhưng không giết chết ai, và
ngày nay vẫn có cả trăm ngàn người sống gần nhà máy. ’
Rủi Ro 3: Nhà Máy ĐHN thải ra phóng xạ
Với
kinh nghiệm hoạt động của cả trăm nhà máy ĐHN trong 30 năm qua, các nhà
máy ĐHN thải phóng xạ ra nước và không khí rất ít—ít đến nỗi phải khó
khăn lắm mới phân biệt được những phóng xạ này với phóng xạ thiên nhiên
do đất đá và các tia vũ trụ bắn vào mọi người khắp nơi trên trái đất. Rác
rưởi có phóng xạ (như khăn lau chùi dụng cụ, nhựa lọc nước, màng lọc
không khí...) được thu góp cẩn thận, ép chặt thành vài chục m3, rồi đem
chôn ở những nơi an toàn có hàng rào kỹ càng. Chỉ vài năm là chúng không
còn nguy hiểm nữa. Nhưng ở Việt Nam, ta phải tránh việc người
nghèo ăn trộm các vật thải này đem dùng vào các việc thông thường trong
đời sống. Sự thực, các rác rưởi này còn ít độc hại hơn tro bụi than có arsenic,
thủy ngân; và khói có SOx, NOx, CO... bài tiết từ các nhà máy đốt than.
Rác rưởi có phóng xạ thấp cũng không thể giết người dễ dàng như vi trùng
và các chất hóa học thường có trong các bãi rác của thành phố.
Riêng
các thanh nhiên liệu đã sử dụng làm điện thì rất nguy hiểm, bởi chúng có
rất nhiều phóng xạ, sinh vật đứng gần là bị “đốt bỏng” trong vài phút.
Mỗi thanh nhiên liệu này có kích thước khoảng 20 cm x 20cm x 1400cm, nặng
khoảng 500 kilo, và chứa phóng xạ ghê gớm đến 50 triệu curies (mỗi curie
là 37 tỉ phóng xạ), làm cho nước cũng phải phát sáng xanh lè (ánh sáng
Cerenkov). Người ta ngâm các thanh nhiên liệu này trong bể nước sâu
khoảng 14 m, sau 3 năm thì phóng xạ yếu đi nhiều ngàn lần, và người ta bỏ
vào các hộp sắt hàn kín, đặt trong thùng xi măng cốt sắt rất dầy và nặng
nhiều tấn, khiến bom nổ gần cũng không vỡ và không ai có thể đem đi nếu
không có dụng cụ và xe cộ đặc biệt. Nhà máy ĐHN Việt Nam, nếu có, sẽ phải
trả các thanh nhiên liệu đã dùng tạo điện trở về các quốc gia bán nhiên
liệu để họ biến chế các chất U-235 và Pu-239 thành nhiên liệu mới, gọi là
nhiên liệu dùng MOx.
Rủi
Ro 4. Chọn Địa Điểm Không Đúng
Thường
vì vấn đế an toàn, việc chọn địa điểm cho nhà máy ĐHN đòi hỏi một khảo
sát hết sức khắt khe về điạ chất, giao thông, cầu đường, bến phà, khí
hậu, dân sinh, thực vật, động vật... Đặc biệt, địa điểm của nhà máy ĐHN
không thể ở gần nơi có nguy cơ động đất. Tôi không rõ chính phủ Việt Nam
đã khảo sát Bình Thuận ra sao, nhưng chỉ lưu ý là nhà máy ĐHN 621 MW của
Philippines tại Bataan phải bỏ chết năm 1984 vì gần mạch động đất và núi
lửa Vinatubo sau khi đã tiêu tốn 2.3 tỉ USD (3700 USD/KW, 1984). Quyết
định điên rồ của nhà độc tài Marcos xây nhà máy ĐHN mà không có cơ sở
khoa học vững chãi đã khiến người dân Philippines nai lưng trả nợ 56
triệu USD mỗi năm suốt 30 năm mà chưa hết nợ.
Rủi
Ro 5. Sẽ Có Nhiều Tai Nạn Lao Động
Xây
một nhà máy ĐHN phải đào một lỗ trên đất đá đường kính vài trăm mét,
chiều sâu vài chục mét; phải sử dụng nhiều trăm ngàn tấn xi măng, nhiều
chục ngàn tấn thép, nhiều triệu mét dây cáp và dây điện; và phải vận dụng
một đội ngũ kỹ sư và công nhân chuyên nghiệp có khi đông tới 5000 người.
Tai nạn lao động xẩy ra hàng ngày, có thể thiệt hại lớn đến sinh mạng. Ai
cũng biết là tai nạn lao động ở Việt Nam nhiều hơn ở các nước tân
tiến vì ta chưa có một hiểu biết sâu rộng và chưa áp dụng triệt để các
biện pháp an toàn. Việc đặt ra luật lệ, giáo dục, tập huấn, và áp dụng
triệt để an toàn lao động là một vấn đề đòi hỏi nhiều thời gian, tiền bạc
và quyết tâm trong văn hóa.
Rủi
Ro 6. Sẽ Có Nhiều Tai Nạn Xe Cộ
Việc
sử dụng cả trăm xe cam nhông hạng nặng chuyên chở đất đá và vật liệu ngày
đêm, nhiều ngàn xe gắn máy của công nhân trong vùng đông dân và đường xá
nhỏ, cùng là việc dùng tầu bè tấp nập cho các dụng cụ nhiều ngàn tấn sẽ
dẫn đến nhiều tai nạn giao thông. Ai cũng biết văn hóa giao thông ở Việt Nam chưa
được hấp thu rộng rãi, và tai nạn giao thông của ta nhiều gấp năm gấp
mười tai nạn tương tự tại các nước khác tính trên số xe và số kilomet
giao thông. Khi hoạch định xây nhà máy ĐHN ta cần bao gồm những yếu tố
này trong việc phỏng tính hạ tầng cơ sở, thời gian thực hiện, kiện
tụng... để rồi cộng vào giá đầu tư.
Rủi
Ro 7. Làm việc bất cẩn, dối trá
Các
rủi ro này thường xẩy ra khi người lao động không có giáo dục chuyên môn
tốt về kỹ thuật cũng như đạo đức nghề nghiệp. Chỉ một hành động bất cẩn,
dối trá cũng có thể gây thương vong cho nhiều người khác và thiệt hại lên
tới nhiều triệu USD. Ví dụ, làm việc bất cẩn có thể gây vật nặng rơi trên
đầu người khác, nước có phóng xạ đổ ra mặt đất, khí có phóng xạ tuôn ra
không khí, máy móc tự động không làm việc khi nhà máy có sự cố.
Làm việc bất cẩn, dối trá có thể làm nhà
máy bị đóng cửa vì sự cố hoặc vi phạm luật lệ. Với sự lựa chọn nhân viên
cẩn thận, tập huấn tích cực, giám sát nhậy bén, tôi tin rằng rủi ro này
không cao hơn các rủi ro tương tự tại các nước khác. Ông Hiển hơi bi quan
khi cho rằng người ngoại quốc không thực tâm huấn luyện ta. Thật ra, khi
ta mua nhà máy ĐHN của các nước dân chủ văn minh, thì họ sẽ tận tình
không dấu nghề, miễn là ta chăm chỉ, trả tiền sòng phẳng, và không có ý
định bí mật làm bom.
SÁU
RỦI RO VỀ KINH TẾ
Rủi
Ro 1. Nhà máy bị hỏng, nằm chết một chỗ không sản xuất điện
Đây
là rủi ro dễ hiểu nhất, dễ xẩy ra nhất và lại tốn kém nhất. Mọi rủi ro
khác đều có thể dẫn tới rủi ro này. Mỗi ngày hoạt động tốt, nhà máy 1000
MW có thể sản xuất 24 triệu KWh, đáng giá 3 triệu USD. Khi nhà máy nằm
chết, không những không thu được 3 triệu USD, mà còn gây thiệt hại một số
tiền nhiều lần lớn hơn cho các hoạt động kinh tế cần điện. Ví dụ, không
có điện thì các nhà máy đông lạnh có thể mất trắng sản phẩm cần phẩm chất
cao; nhà máy sản xuất quần áo, giầy dép không hoạt động; nhà hàng đóng
cửa; nhà thương không cứu chữa được hữu hiệu...Nước ta có rất nhiều điển
hình loại “thiếu một bóng đèn mà máy xerox không chạy và cả một cơ quan
không thể làm việc.” Khi mọi rủi ro kỹ thuật, tai nạn, và thủ tục hành
chính đều có thể dẫn tới việc nhà máy nằm chết không sản suất điện, thì
ta thấy rằng cơ nguy về rủi ro này rất cao ở nước ta, và ta không thể tin
các con số rất hấp dẫn như “năng suất 90%” mà các người chào hàng trình
bầy với ta.
Rủi
Ro 2. Tính sai, mua sai
Quá
trình phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 1990 đến nay có
rất nhiều điển hình của việc tính sai, mua sai. Nhà máy loc dầu Dung Quất
đáng nhẽ không nên mất quá nhiều thời gian và chọn lựa địa điểm phi kinh
tế. Đường dây 500 KV Bắc Nam
tốn nhiều hơn và xây dựng ít chất lượng hơn là dự toán. Đập nước Hòa Bình
và Trị An có những sự cố kỹ thuật và kinh tế ngoài tầm khảo sát ban đầu,
gây tốn kém nhiều hơn về thời gian, vật liệu, và chất lượng công trình.
Đập A Vương đã không tránh được lũ lụt cho người dân mà còn làm hại hơn
cho dân. Các công trình cầu, đường, sân vận động, bến cảng... khắp nước
đều hầu như tốn kém hơn, mất nhiều thời gian hơn, và ít chất lượng hơn là
thiết kế. Điển hình mới nhất là đường ven biển Đà Nẵng bị Ketsana đánh
sập và phơi ra là bên trong không có cốt thép!
Khi
xây nhà máy ĐHN, sai một chút thì có thể bị phá đi làm lại để bảo đảm an
toàn. Giữa những năm 1970-1980, việc xây nhiều nhà máy ĐHN ở Mỹ đã đi tới
tình trạng làm việc ẩu tả, mỗi nhà máy khi giám định có tới 5,000-10,000
vấn đề làm sai “một chút cỏn con” nhưng không thể dung thứ. Vì thế, cần
phải có người chuyên môn sửa sai, vật liệu mới, thời gian thêm...và kết
quả là các nhà máy này tốn kém gấp 2, gấp 3, có khi gấp 5 phí tổn dự toán. Nếu dữ kiện là nhà máy ĐHN
tốn 5000 USD/KW ở Nhật hoặc Hàn Quốc, thì xây tại Việt Nam sẽ tốn kém
nhiều hơn, có thể hơn 20%-30%, bởi vì Việt Nam chưa có luật lệ rõ ràng,
hành chính rườm rà, hạ tầng cơ sở phôi thai, đội ngũ công nhân thiếu
chuyên nghiệp. Lời tuyên bố của ông Đại Sứ Nhật năm 2008 về sự khó khăn
của đầu tư Nhật tại Việt Nam vì ta thiếu công nghệ phụ để cộng hưởng là
một thực tế người hoạch định nhà máy ĐHN cần phải để ý và để ý hàng ngày.
Các yếu tố này cho ta khẳng định là con số 11 tỉ USD cho nhà máy ĐHN 4000
MW, nghĩa là 2750 USD/MW là sai hoặc không bao gồm nhiều yếu tố cần
thiết. Giá đầu tư thật sự khi nhà máy bắt đầu sản xuất điện có thể nhiều
gấp hai, gấp ba.
Rủi
Ro 3. Chưa có và chưa kiện toàn Luật Hạt Nhân
Quốc
Hội Mỹ đã có Luật Hạt Nhân từ năm 1953, nghĩa là 56 năm rồi, và luật này
càng ngày nhiều thêm, tinh vi hơn. Cơ Quan Giám Định Luật Lệ Hạt Nhân
(NRC) đã dựa trên luật của Quốc Hội mà phát triển nhiều ngàn luật áp
dụng, chuẩn hạt nhân, phương pháp tính toán, phương pháp điều hành,
phương pháp giám định. Họ còn khảo cứu “những gì chưa biết” và liệt kê
nhiều trăm đề tài còn chưa có giải thích thỏa đáng. Các luật lệ và văn
kiện, chuẩn định này nhiều hàng trăm ngàn trang. Các nước tiên tiến khác
cũng có luật lệ nhà máy ĐHN tương tự, và họ cùng cố gắng hợp tác với nhau
qua Cơ Quan Nguyên Tử Quốc Tế (International Atomic Energy Agency—IAEA)
mà Việt Nam
là một hội viên. Trong 10 năm nữa Việt Nam làm sao có luật lệ hạt
nhân? Dĩ nhiên, cách tốt nhất cho nước nghèo và đi sau là áp dụng những
gì đã có sẵn, nhưng chỉ riêng việc này cũng đòi hỏi ta có một đội ngũ
giỏi tiếng Anh, giỏi kỹ thuật hạt nhân, giỏi luật pháp và giỏi giao
thiệp. Có vậy thì ta mới tránh được tình trạng bất lực mà vẫn phải chịu
trách nhiệm mà ông Hiển gọi là “sở hữu nhưng không là chủ”.
Rủi
Ro 4. Thiếu thầy, thiếu thợ
Về
ngành ĐHN, Việt Nam
rất thiếu phương tiện, thiếu thầy, thiếu thợ với kinh nghiệm thực tế để
giáo dục, tập huấn, và làm việc với một trình độ chuyên môn cao. Điển
hình sự kiện này là việc Intel chỉ có thể tuyển 50 người có đủ điều kiện
trong số hơn 2000 người nộp đơn làm việc trong đợt tuyển chọn đầu tiên
của chương trình đầu tư 1 tỉ USD (nhỏ hơn chương trình nhà máy ĐHN ít
nhất 5 lần.) Trong chương trinh xây thêm khoảng 30 nhà máy ĐHN, Mỹ cũng
kêu trời là thiếu thầy thiếu thợ, mặc dầu vẫn có hơn 30,000 người làm
việc hàng ngày tại gần 100 nhà máy ĐHN đang hoạt động. Để sửa soạn kỹ
lưỡng, DOE và NRC đã đầu tư hơn 100 triệu USD vào các chương trình khuyến
khích các trường đại học, cao đẳng, và công ty điện đào tạo công nhân và
kỹ sư cho tương lai. Việt Nam
cũng có thể làm như vậy, nhưng tiền bạc của ta khiêm tốn hơn mà ta lại
phải gửi người ra nước ngoài học tập. Và ta có nhiều kinh nghiệm gửi
người đi thì dễ, đem được người về và giữ được những người đó làm việc
cho mục đích xây nhà máy ĐHN thì rất khó.
Từ
năm 1977 tôi có giúp một số sinh viên ưu tú Việt Nam đi Mỹ học lấy tiến
sĩ. Không những họ học rất lâu, mà sau khi học xong, không ai về lại Việt
Nam
cả. Tôi được biết nhiều chương trình khác cũng vậy, người học xong thì
tìm cách ở lại nước ngoài (chính tôi ngày xưa cũng làm như vậy), hoặc về
nước thì làm chuyện khác chứ không thể thực dụng cái học của mình với
đồng lương bằng 10%-20% lương tương tự tại nước ngoài. Tôi có trình bầy
trực diện sự kiện này với bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân trong chương trình
đào tạo 20,000 tiến sĩ của Bộ, nhưng ngài Bộ Trưởng tin như đinh đóng cọc
là các vị tiến sĩ do Bộ đào tạo sẽ trở về xây dựng giáo dụcViệt Nam.
Thực tế cho ta biết là chỉ khi nào kinh
tế quốc gia phát triển ngang với kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan vào 30 năm
trước (khoảng 4000-5000 USD/người dân) thì các chương trình to lớn như
ĐHN mới có cơ hội cất cánh. Và lúc đó nhân tài mới qui tụ để đóng góp vào
các công trình lớn nếu chính phủ biết đãi ngộ nhân tài một cách dân chủ,
công bằng và minh bạch.
Không
có một đội ngũ giỏi thì mọi rủi ro kỹ thuật và kinh tế đều rất dễ xảy ra.
Rủi
Ro 5. Phải phụ thuộc 100% vào vật liệu và nhiên liệu của nước ngoài
Nhà
máy ĐHN Việt Nam
sẽ phải mua hầu hết các vật liệu và nhiên liệu của nước ngoài. Việc này
không thể biện minh là có “an toàn năng lượng”, bởi vì khi có sự vô tình
hay cố ý làm chậm lại việc giao hàng thì nhà máy ĐHN của ta không chạy
nữa. Ông Hiển nói rất đúng, an toàn nhất là năng lượng mặt trời (gồm cả
năng lượng gió, năng lượng nước, năng lượng củi và cỏ, bởi vì không có
mặt trời thì không có các năng lượng đó), dầu khí của ta, hơi khí của ta,
than đá của ta. Chắc rằng BCĐT có nói những nguồn đó không bảo đảm, nhưng
tôi chưa tin bởi vì tôi chưa được đọc những lý do xác đáng. Tại sao ta
nói đến “Bể Than Sông Hồng?” Tại sao ta xuất khẩu than qua Trung Quốc?
Tại sao Trung Quốc tranh chấp các đảo trong Biển Đông? Tại sao Mỹ nói có
hơi khí nhiều đến mức có thể thay thế nhiều nhà máy đốt than và còn có
thể dùng cho hơn 100 triệu gia đình và cả 20 triệu xe vận tải? Ta đã khảo
sát kỹ về khả năng hơi khí của ta ở dưới sâu vài ngàn mét chưa?
Nhiên
liệu hạt nhân giá khoảng 240 triệu USD cho một nhà máy, và cứ khoảng 18
tháng thì phải thay mới khoảng 80 triệu USD. Mua nhiên liệu hạt nhân cho
4 nhà máy vào năm 2020-2025 sẽ tốn 960 triệu USD ban đầu và khoảng 320
triệu USD mỗi 18 tháng.Ngoại
tệ này ta sẽ phải dùng tiền trao đổi nhờ xuất khẩu quần áo, tôm cá, gạo,
cà phê, nguyên liệu thô như bauxite, và lao động làm việc thuê tại nước
ngoài dưới các điều kiện nô lệ. Rõ ràng ta cần rất thận trọng khi đầu tư
vào những dự án to lớn nhưng có nhiều rủi ro mà các thế hệ tương lai sẽ
phải gánh chịu.
Rủi Ro 6. Tranh chấp, khiếu kiện
Xây
một nhà máy đáng giá 5-20 tỉ USD và mất 10, 20 năm chắc chắn sẽ nẩy sinh
nhiều tranh chấp với cả trăm công ty bán thiết bị, vật liệu, với thợ
thuyền, nghiệp đoàn và cả với người dân. Xã hội càng văn minh thì sự
tranh chấp càng nhiều bởi vì ai cũng có quyền bảo vệ quyền lợi của mình
trước pháp luật. “Ký giao kèo” là một công tác quan chức của ta chưa có
nhiều kinh nghiệm. Văn kiện của các nước bán nhà máy ĐHN rất nhiều, rất
chuyên môn, do đó quan chức của ta không thể hiểu hết. Sau khi ta ký, bất
cứ một thay đổi nào cũng có thể đi tới việc tăng giá và nếu ta không đồng
ý thì họ sẽ không làm nữa hoặc kiện tụng ra tới các tòa án ngoài sự tự
chủ của Việt Nam.
Sự kiện một người dân Ý có thể kiện Air Vietnam thắng nhiều triệu USD
là một điển hình.
Ngoài
ra, viên chức, công nhân, người bị tai nạn, người dân bị hại... bất cứ ai
cũng có thể kiện người chủ trương nhà máy. Sự kiện này có hậu quả hiển
nhiên là mất nhiều thì giờ và tốn kém nhiều hơn nếu không có hoạch định
cẩn thận từng ly từng tý. Nếu chính phủ Việt Nam chủ trương xây nhà máy
ĐHN trong vòng 10-15 năm, thì đội ngũ của ta phải có từ bây giờ, và thực
tế cho biết là ta chưa đủ người và chưa đủ kinh nghiệm làm các dịch vụ
này.
HAI
RỦI RO VỀ AN NINH VÀ QUỐC PHÒNG
Rủi
Ro 1. Phá hoại vì bất mãn
Nạn
khủng bố, phá hoại ngày nay xẩy ra khắp thế giới, đặc biệt là do một số
người quá khích bất mãn với chính sách của các nước hùng mạnh. Thực ra,
khủng bố phá hoại do người yếu chống kẻ mạnh đã có từ khi loài người
tranh chấp nhau vì miếng ăn, chỗ ở, quyền lợi. Người Do Thái khủng bố các
chính quyền Trung Đông cho tới khi chiếm được một vùng đất lập quốc.
Trong chiến tranh Bắc Nam
1955-1975, miền Bắc Việt Nam
có biệt tài phá hoại và khủng bố tại miền Nam. Với sự cần thiết an toàn
và giá tiền đầu tư to lớn của nhà máy ĐHN, ta không thể coi thường rủi ro
khủng bố phá hoại của những phần tử bất mãn. Khủng bố phá hoại có thể xẩy
ra từ bên trong, khi có người làm việc trong nhà máy chủ trương thực
hiện. Hoặc cũng có thể xẩy ra từ bên ngoài, khi có người dùng bom, súng
đạn, hoặc máy bay để phá hoại nhà máy. Chỉ có chính sách hòa hoãn và công
bình với mọi người mới tránh được nạn bất mãn, và khi thấy có bất mãn thì
cần phải dùng những biện pháp khi mềm khi cứng để vô hiệu hóa các động
tác khủng bố phá hoại. Hiện nay, các nhà máy ĐHN trên thế giới đều có
những biện pháp rất tốt đề phòng và phản ứng với khủng bố, phá hoại. Tuy
nhiên, ta không nên quên rằng khi con người đã quyết chí “trả thù” thì họ
sẽ tìm ra phương pháp gây tai họa cho “kẻ thù”. Tốt nhất là trong hoạch
định chương trình ta phải có biện pháp chống đối, vô hiệu hóa, và tái lập
an ninh đối với rủi ro khủng bố phá hoại.
Rủi
Ro 2. Chiến Tranh
Nếu
có chiến tranh, nhà máy điện sẽ là mục tiêu đầu tiên bị tàn phá, bởi vì
như vậy sẽ làm tê liệt nhiều khả năng kinh tế, truyền thông, và phản công
của kẻ thù. Với nhà máy ĐHN, thế giới đủ hiểu biết để chỉ phá hoại các cơ
quan phụ như đường dây, tháp tỏa nhiệt, đường sá... mà không cần đánh phá
để phóng xạ có thể thoát ra ngoài. Việt Nam
đã có chiến tranh với Trung Quốc nơi miền Bắc và biển Đông và chiến tranh
với Cam Bốt nơi miền Nam.
Khả năng bất đồng trong tương lai vẫn có thể đi tới chiến tranh. Đầu tư
một số tiền rất lớn vào nhà máy ĐHN là đối diện với một rủi ro không phải
là nhỏ.
TRÁNH
HOẶC GIẢM THIỂU RỦI RO CỦA NHÀ MÁY ĐHN
Nếu
Việt Nam
thật sự cần và có tiền mua ĐHN, phương pháp rất hấp dẫn là chuyển hoán
hầu hết các rủi ro hạt nhân cho một nước tiên tiến qua công ty thương mại
của họ. Đó là việc mua khoán ĐHN qua giao kèo với một công ty có nhiều
kinh nghiệm xây nhà máy ĐHN như Areva của Pháp, Westinghouse và General
Electric cua Mỹ, Kepco của Hàn Quốc, Mitsubishi và Toshiba của Nhật. Tất
cả các rủi ro như vay tiền xây dựng, xây cất cho thật chất lượng và nhanh
chóng, điều hành cho nhậy bén với năng suất trên 90%... đều do họ đảm
nhiệm, ta có thể học hỏi nhưng không tốn kém. Bảo vệ các nhà máy này
chống phá hoại ta cũng có thể học hỏi nhưng không có trách nhiệm tốn kém.
Kinh nghiệm chiến tranh cho biết là hai kẻ thù nhau không muốn đụng đến
một nước thứ ba, nhất là nước đó lại hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự
như Pháp, Nhật và Mỹ. Ngay trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chưa từng cố ý
oanh tạc các tầu Nga và Trung Quốc mặc dầu biết là các tầu đó chuyên chở
vũ khí và vật liệu tới miền Bắc.
Nếu
ta thực sự tin rằng ta cần nhiều điện vào năm 2020-2025, và nếu ta biết
rằng giá điện như phỏng tính là khả thi, thì tốt nhất là ta dùng phương
pháp BOT (Build, Operate, Transfer—Xây Dựng, Điều Hành, Chuyển Giao) để
tạo lập “an ninh điện lực” vào những năm tương lai đó. Ta chỉ cần
khảo sát thật kỹ giá điện và khả năng “có thể trả theo giao kèo” của ta,
và việc này thì Việt Nam có thể thực hiện được với một đội ngũ khoảng 100
người được đào tạo giỏi nhất, có hiểu biết về kỹ thuật ĐHN, luật lệ hạt
nhân, luật lệ giao kèo quốc tế, và rất trung trực thanh liêm. Nếu đối
tượng đồng ý với các điều kiện của ta và nếu ta đồng ý mua điện của nhà
máy ĐHN của họ, thì ta đạt được mục đích tạo điều kiện tốt cho kinh tế
tương lai. Nếu họ đưa giá điện quá cao thì ta biết ngay hoặc là họ muốn
ăn lời nhiều, hoặc là ước lượng của ta sai lầm. Trong thị trường cạnh
tranh và với kinh nghiệm của thế giới nhiều hơn ta, xác suất rất lớn là
ta ước lượng sai lầm. Nếu ta thực sự giỏi như ta tự tin, thì phương pháp
BOT sẽ giúp ta dùng 10-20 năm tới để đào tạo đội ngũ chuyên nghiệp về
ĐHN, và dùng những người tiên phong giám sát công tác của công ty ngoại
quốc, tạo lập luật lệ ĐHN, tạo lập đội ngũ thầy thợ có chất lượng cao, để
tiếp tục các công tác to lớn sau đó.
Tóm lại, phương pháp BOT giúp Việt Nam thực hiện ĐHN
mà không phải đầu tư môt số tiền rất lớn, không phải nhận nhiều rủi ro có
thể làm số tiền đó mất trắng, đảm bảo an toàn điện lực cho kinh tế tương
lai, dùng tiền lúc này tạo công ăn việc làm cho nhiều triệu người để họ
có đủ tiền trả tiền điện trong tương lai mà giá cả họ đã biết trước.
Duy ý chí tự quyết định mọi chi tiết kỹ thuật và kinh
tế của nhà máy ĐHN một cách phiến diện trong lúc này là làm một cuộc
phiêu lưu có nhiều rủi ro và bắt con cháu ta trong tương lai phải gánh
vác những rủi ro đó.
GHI
CHÚ
Ông Phùng
Liên Đoàn, 70 tuổi, là Tổng Giám Đốc công ty tư vấn Professional
Analysis, Inc. (PAI) tại Mỹ, chuyên môn về các dịch vụ nguyên tử và môi
trường. Ông Đoàn đã từng là cố vấn cho Bộ Năng Lượng (Department of
Energy-DOE) và Cơ Quan Giám Định Luật Lệ Hạt Nhân (Nuclear Regulatory
Commission- NRC) của Mỹ. Ông đã tham gia thiết kế 4 nhà máy điện hạt nhân
(ĐHN) và viết hơn 100 khảo cứu và phúc trình về sự an toàn và giá thành
của ĐHN so với các nguồn tạo điện khác. Ông cũng đã tham gia tẩy uế phóng
xạ tại 10 trung tâm nguyên tử khắp nước Mỹ, cùng là khảo cứu hiện tượng
hâm nóng khí quyển do việc sử dụng năng lượng toàn cầu. Ông Đoàn tốt
nghiệp cử nhân toán và vật lý tại đại học Florida State University, thạc
sĩ vật lý và nguyên tử tại Massachusetts Institute of Technology (MIT) và
tiến sĩ nguyên tử tại MIT. Ông là đồng tác giả tài liệu WASH-1400
về sự an toàn của nhà máy ĐHN của Mỹ, 1975; và sách The Second
Nuclear Era: A New Start for Nuclear Power, Praeger
Publishers, New York,
1985. Ông Đoàn đã từng làm việc tại Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt,
1964-1967.
U.S.
Nuclear Regulatory Commission. 1975. WASH-1400 (NUREG-75/014): Reactor
Safety Study: An Assessment of Accident Risk in U.S. Commercial Nuclear Power
Plants. Washington D.C. (Doan L. Phung là đồng tác giả)
Doan L.
Phung. 1985. “Light Water Reactor Safety Before and After the Three Mile Island Accident,” Nuclear Science and
Engineering, Volume 90, No.4, August
Doan L.
Phung. 1983. ORAU/IEA-83-1 (M). “Economics of Nuclear Power:
Past Record, Present Trends, and Future Prospects.” Institute for Energy
Analysis, Oak Ridge Associated
Universities, Oak Ridge,
Tennessee, USA
Khi tính giá
nhà máy ĐHN, ta phải phân biệt giá thiết bị (lò hạt nhân, lò làm hơi
nước, tua bin, máy làm điện, các máy bơm, các máy an toàn, các máy biến
điện...), giá công trình xây dựng (nhà chứa các thiết bị, công trình làm
nguội nước trước khi bơm trở lại chu kỳ, công trình xưởng thợ, công trình
nhà điều khiển, bãi biến điện, đường xá, bến cảng...) và lao động. Các
giá tiền đó phải có thời gian khi nào phải vay, khi nào phải trả, lãi
suất bao nhiêu, biến động giá cả như thế nào... Tổng cộng những giá cả
đó, tính đến ngày bắt đầu bán KWh điện đầu tiên, gọi là “giá đầu tư”. Giá
điện bán ra phải gồm bốn thành phần: (1) tiền trả nợ giá đầu tư, (2) tiền
nhiên liệu hạt nhân, (3) tiền tiêu pha hàng ngày trả lương cho mọi thành
phần lao động và vật liệu, và (4) tiền lời. (Xem tài liệu dẫn chứng số 4
ở trên)
Vì thiếu dữ
kiện của BCĐT, tôi đã dùng phương pháp tính ngược từ giá điện, với
0.01USD/KWh là giá nhiên liệu (so với khoảng 0.01 USD/KWh là giá điều
hành, và 0.10 USD/KWh là giá đầu tư.)
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ &
Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|