|
|
DC&PT - Thời
Sự 2009
Tình hình tự do tôn
giáo tại Việt Nam năm 2008
LM Phan Văn Lợi
I-
NHẬN ĐỊNH
Muốn hiểu thật rõ tình hình tôn giáo
tại Việt Nam, trước hết, cần khẳng định và nắm vững nguyên tắc cai trị của
Cộng sản Việt Nam, đó là độc tài toàn trị. Điều đó có
nghĩa: đảng CS muốn quản lý tất cả mọi cá nhân, tập thể, tổ chức và định
chế tại Việt Nam, và muốn biến tất cả những thứ ấy thành công cụ phục vụ
cho chế độ, cho đảng; hay ít nhất là làm tê liệt mọi cá nhân và tập thể,
tổ chức và định chế nào dám động tới quyền lực cai trị của đảng.
Vấn đề tôn giáo tại CHXHCN Việt Nam luôn
phải rập theo nguyên tắc độc tài toàn trị đó. Mọi tôn giáo
hiện nay đều bị chi phối bởi chính sách đặc biệt của CSVN, mà điển hình
là “Pháp lệnh về tín ngưỡng và tôn giáo” số 21/2004/QH11, do Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội CSVN ban hành ngày 18-06-2004, và “Nghị định Hướng
dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” số
22/2005/CP do Chính phủ ban hành ngày 01-03-2005. Pháp lệnh và Nghị định
này muốn kiểm soát và khống chế các tôn giáo, các giáo hội ở 5 điểm, theo
5 yếu tố cấu thành sinh hoạt tôn giáo: quy chế, nhân sự, hoạt động,
tài sản và quan hệ quốc tế.
1-
Về quy chế:
Hiện nay mọi tôn giáo tại Việt Nam,
ngoại trừ Công giáo vốn đã tồn tại ở đây nhiều thế kỷ, muốn hoạt động đều
phải “đăng ký” (=ghi danh, register, trong thực tế chính là xin
phép) với nhà cầm quyền CSVN và phải được nhà cầm quyền công nhận
(nghĩa là cho phép) theo điều 16 của Pháp Lệnh. Nhưng hiện nay nhiều phái
Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo vẫn không được công nhận dù họ đã đăng ký, chẳng
hạn Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam tại Thái Bình (x. bài phỏng vấn của
RFA ngày 03-09-2008)… Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho tới nay
vẫn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị đàn áp nặng nề chỉ vì họ không “đăng
ký” (xin được công nhận) với nhà nước CSVN, lấy lý do họ đã tồn tại
lâu đời tại Việt Nam (Thông cáo báo chí của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc
tế ngày 16-12-2008: lời Hòa thượng Thích Thiện Hạnh đáp trả bà Phó Đại sứ
Hoa Kỳ) ; mà nếu có đăng ký chưa chắc đã được công nhận, và khi đã đăng
ký mà không được công nhận thì mọi hoạt động tôn giáo của Giáo Hội này trở
thành minh nhiên bất hợp pháp.
Nhà cầm quyền CSVN dùng biện pháp “đăng
ký hoạt động − công nhận quy chế” này để cản trở mọi tổ chức tôn giáo
muốn hoạt động độc lập bên ngoài sự kiểm soát của CS.
2-
Về nhân sự:
Trong mọi tôn giáo, ai muốn trở thành
tu sĩ trước hết phải “đăng ký” với nhà cầm quyền địa phương
(UBND cấp xã, PL điều 21. 2). Mọi chức sắc trong tôn giáo, kể từ việc nhập
tu, huấn luyện, tấn phong, đến việc bổ nhiệm, thuyên chuyển, đều phải
chịu sự can thiệp của nhà cầm quyền.
Trong các chủng viện Công giáo, Ban
Giám Đốc phải trình báo chương trình học tập huấn luyện với
nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền cử người của
mình vào chủng viện để dạy về chủ nghĩa Mác-xít, lịch sử đảng CS,
nền pháp chế XHCN: “Môn học về lịch sử Việt Nam, pháp luật Việt Nam là
các môn học chính khoá trong chương trình đào tạo tại trường đào tạo
những người chuyên hoạt động tôn giáo” (PL điều 24. 2). Ngoài việc nhồi sọ cho các chủng sinh, cán bộ giảng dạy
có nhiệm vụ theo dõi tư tưởng, khuynh hướng (chính trị, xã hội) của
các ứng viên linh mục để nhà cầm quyền sẽ đặc biệt lưu tâm và dự
phòng những biện pháp đối phó sau này với những đối tượng nào có tư tưởng
bất lợi cho nhà cầm quyền khi họ chịu chức và được bổ nhiệm.
Các ứng viên
chức linh mục phải được nhà cầm quyền địa phương (tỉnh) xét duyệt và đã từng
có nhiều người bị loại hay bị cầm chức nhiều năm. Có những người muốn chịu
chức đã phải cam kết làm việc bí mật (báo cáo viên) cho công an.
Việc bổ nhiệm các linh mục đi các giáo xứ cũng phải thông qua nhà cầm quyền
tỉnh và nhà cầm quyền địa phương huyện xã (nơi có giáo xứ mà vị linh mục
được sai đến cai quản). Nhà cầm quyền đặc biệt
chú ý tới các giáo điểm quan trọng (như giáo xứ chánh tòa, trung tâm hành
hương, linh địa đền thánh… ) và các chức vụ quan
trọng trong giáo phận (như tổng đại diện, giám đốc chủng viện, giám đốc
trung tâm mục vụ… ). Được bổ nhiệm vào nơi đó phải là những chức sắc
không có “tiền sự chống cộng”. Các linh mục đã ký
tên vào Tuyên ngôn 8406 nay gặp nhiều rắc rối, nhất là trong chuyện
xuất ngoại.
Các ứng
viên giám mục phải được nhà cầm quyền trung ương (thủ tướng) ưng thuận. Thông thường Hội đồng GM trình lên Tòa thánh một
danh sách nhiều ứng viên, rồi Tòa thánh lại cũng trình cho nhà cầm quyền
CSVN một danh sách nhiều ứng viên. Theo chúng tôi được biết, các ứng viên
Giám mục được nhà cầm quyền chọn còn phải cam kết một số điều với
nhà cầm quyền. Chính việc nhà cầm quyền xen vào việc chọn
lựa Giám mục đã khiến cho phẩm chất của hàng GMVN hiện nay không
hoàn toàn như Tòa thánh và Dân Chúa mong đợi. Bằng chứng là có
nhiều giám mục trẻ đã sớm từ chức (như Giám mục Nguyễn Văn Yến, Phát Diệm;
Giám mục Nguyễn Tích Đức, Ban Mê Thuột… ) và đa phần Giám mục thích
được yên ổn, không dám đương đầu với nhà cầm quyền độc tài, áp bức và
tham nhũng hiện nay.
Nói chung,
những chức sắc tôn giáo nào tận tình phục vụ chế độ hay ngoan ngoãn lặng
im trước những sai lầm và tội ác của nhà cầm quyền thì được tạo nhiều cơ
hội thuận tiện để xuất ngoại, tổ chức, xây dựng… Còn những ai dám
tuyên bố sự thật và đòi hỏi công lý thì bị trù dập (sách
nhiễu, quản chế, bỏ tù, chẳng hạn Ht Quảng Độ, Lm Nguyễn Văn Lý… )
3-
Về hoạt động:
Hoạt động thờ phượng của các tôn giáo
vẫn chỉ được tiến hành trong những nơi đã được nhà cầm quyền cho phép
(thánh đường, thánh thất, chùa chiền… ). Nhiều
trường hợp linh mục dâng thánh lễ ở tư gia (nơi những vùng
chưa có hay chưa được phép xây nhà thờ) hay mục sư cử hành việc cầu nguyện
tại nhà riêng đã bị cấm cản (x. Tường trình của
mục sư Nguyễn Văn Điện, Hội thánh Tin Lành Việt Nam, Chi hội Trà Vinh,
ngày 07-03-2008 trên RFA). Linh mục Hoàng Cẩn, Giáo phận Huế, từng bị cấm
đi làm lễ Giáng sinh tại giáo điểm Nam Đông, Thừa Thiên và bị khước từ xuất
ngoại vì đã ký tên vào Tuyên ngôn Khối 8406. Tại giáo xứ An
Bằng, linh mục Nguyễn Hữu Giải bị cấm cử hành Thánh lễ tại đài lễ
Thánh giá ở An Bắc, thuộc giáo xứ, dịp Giáng sinh 2008.
Hoạt động mục vụ của các tôn giáo như
truyền giáo, giáo dục, xã hội vẫn bị hạn chế.
Các tôn giáo không có nhà xuất bản riêng, báo chí riêng, đài phát thanh
truyền hình riêng. Thậm chí cũng không có giờ phát thanh, phát hình trên
đài của nhà nước (vốn do tiền dân đóng thuế mà có). Trang mạng của Dòng
Chúa Cứu Thế Việt Nam
đã bị phá sập sau khi loan tin vụ đất đai giáo xứ Thái Hà bị biến thành
công viên (09-2008) và đã phải thiết kế lại gần đây dưới một tên khác. Các
tôn giáo chỉ được quyền mở các trường mẫu giáo mà thôi, không thể
thành lập trường tiểu học, trung học, đại học (như trước năm 1975 tại miền
Nam).
Hàng ngàn cơ sở loại này của các tôn giáo vẫn tiếp tục bị nhà cầm
quyền tịch thu hay không trả lại. Thậm chí vài đại chủng viện,
như tại Xuân Lộc, chỉ được phép mở sau nhiều năm đợi chờ (tháng 09-2008).
Các tôn giáo vẫn không được xây bệnh viện mà chỉ được mở bệnh xá để phục
vụ dân nghèo thôi. Còn việc cứu trợ quy mô các nạn nhân thiên tai
thì vẫn bị cấm cản bởi Nghị định “về vận động, tiếp nhận, phân
phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục
khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh
hiểm nghèo” số 64/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14-05-2008. Theo Nghị định này, điều 5: “Ngoài các tổ chức, đơn
vị (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội Chữ thập đỏ trung ương và địa phương),
không một tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền,
hàng cứu trợ”.
Việc nhà cầm quyền không cho tôn giáo
tham gia vào việc giáo dục rộng rãi chẳng phải là vì không tin các tôn
giáo, hay vì các tôn giáo không có khả năng, nhưng là vì nhà cầm quyền muốn
độc quyền uốn nắn các công dân, đặc biệt các thế hệ trẻ, thành những kẻ
chỉ biết phục tùng đảng CS và mù quáng chấp nhận chế độ độc tài.
4-
Về tài sản:
Tài sản của các tôn giáo là đất đai,
nơi thờ phượng, cơ sở giáo dục, từ thiện và truyền giáo. Tất cả đều hoặc
bị nhà nước bảo hộ (các nơi thờ phượng), hoặc bị tịch
thu hoàn toàn (cơ sở giáo dục, từ thiện, truyền giáo), hoặc bị tước
quyền sở hữu, chỉ chấp nhận cho quyền sử dụng (đất đai). Cũng có
một số nhà thờ (nơi không còn hay còn ít giáo dân) bị chiếm cứ và rất nhiều
ruộng đất (nguồn nuôi sống) bị tịch thu hẳn. Mấy năm gần đây, qua chủ
trương làm sổ đỏ để để xác nhận quyền sử dụng đất, nhà cầm quyền đã yêu cầu
các Giáo phận, giáo xứ hay dòng tu (bên Công giáo) chỉ khai báo số
đất đang sử dụng chứ không phải tổng số đất mà mình đã có
quyền sở hữu từ trước năm 1975.
Nhà cầm quyền
CSVN thi hành các việc vừa nói dựa trên nguyên tắc “nhà nước quản
lý đất đai” và “độc quyền giáo dục” cũng như dựa
trên Hiến pháp 1992 (điều 17-18), Luật đất đai 2003 (điều 5), Nghị quyết
số 23 của Quốc hội (26-11-2003) và gần đây nhất là Chỉ thị 1940 về đất
đai tôn giáo (31-12-2008). Chỉ thị này cho thấy những đất đai nào
mà nhà cầm quyền đã mượn hay tịch thu của các tôn giáo sẽ không bao giờ
trả lại. Đây là một trong những cách dùng luật pháp hay quyền
lập pháp để cướp đất đai của dân.
Sở dĩ có Chỉ thị mới nhất này là vì mấy
năm gần đây, các tôn giáo đứng lên đòi lại các đất đai và cơ sở đã bị nhà
cầm quyền tịch thu cách bất công và sử dụng không đúng mục đích (biến
thành nơi kinh doanh hay chia chác nhau giữa các đảng viên cán bộ). Nổi cộm
gần đây là vụ tòa Khâm sứ của Tổng giáo phận Hà Nội, Linh địa Thánh mẫu của
Giáo xứ Thái Hà, dòng Nữ tu Phaolô ở Vĩnh Long…
Cuộc đấu tranh này của các tôn giáo động
tới một nguyên tắc nền tảng của chế độ CS và một phương tiện sống còn của
đảng CS, đó là quyền công hữu (đúng hơn là đảng hữu) về đất
đai mà đúng ra phải là quyền tư hữu về đất đai. Thành ra đây không
phải là sự tranh chấp về đất đai giữa hai tập thể (nhà nước và
giáo hội) và mang tính cách dân sự hay hình sự, nhưng là sự tranh
chấp mang tính chính trị giữa một bên là quyền lực độc tài
toàn trị (muốn thâu tóm mọi đất đai và tài nguyên đất nước vào tay
mình) và một bên là thế lực bảo vệ công lý, nhân quyền, dân chủ.
5-
Về quan hệ quốc tế:
Pháp lệnh
Tôn giáo tín ngưỡng điều 35 viết:
“Khi tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế sau đây phải
có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương:
1. Mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của tổ chức
tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam;
2. Tham gia hoạt động tôn giáo, cử người tham gia khóa
đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài”.
Điều này trong thực tế đã được nhà cầm
quyền CSVN sử dụng để ngăn cản nhập cảnh nhiều chức sắc tôn giáo ở
hải ngoại từng lên tiếng phê phán chế độ (có trường hợp cho đến
phi trường rồi trục xuất như linh mục Trần Công Nghị từ Hoa Kỳ năm
2006 hay cho vào nước rồi bắt giữ hoặc thủ tiêu, như Đức Ông Đào Đức
Điềm từ Anh Quốc tháng 01-2003), hoặc để ngăn cản xuất cảnh nhiều
chức sắc trong nước có thái độ độc lập hay dám đương đầu với nhà cầm quyền
(ví dụ Hòa thượng Quảng Độ đã từng bị ngăn cản sang Na-uy nhận giải Rafto
năm 2007, nhiều linh mục tại Huế đã bị cấm xuất ngoại vì đã ký tên vào
Tuyên ngôn 8406).
Một sự kiện quan trọng cho thấy nhà cầm
quyền CSVN can dự vào mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo,
đó là họ đã đứng ra điều hành và chi phối đại lễ Phật giáo Liên hiệp
quốc Vesak 2008 (13-17/5/2008) tại Hà Nội. Trong đại lễ này, nhà cầm
quyền đã sử dụng Giáo hội Phật giáo Việt Nam như công cụ tay sai và
loại trừ Giáo hội Phật giáo Thống nhất là tôn giáo chính truyền,
trong mục đích chính trị rõ rệt là đánh bóng chế độ và tuyên truyền
tự do tôn giáo giả tạo trước mặt quốc tế.
II-
NHỮNG ĐỀ NGHỊ
CHO CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ VỀ TÔN GIÁO
Việc tôn giáo đang gây ra nhiều vấn đề
tại VN (từ việc nhà cầm quyền liên tục đưa ra các văn bản về tôn giáo tín
ngưỡng nhằm mục đích kiểm soát, khống chế, tiến đến việc công cụ
hóa hay tê liệt hóa, biến chất hóa các giáo hội, liên tục tuyên
truyền với quốc tế rằng VN có tự do tôn giáo, đến việc các tôn
giáo luôn tìm cách gỡ bỏ sợi xích sắt 5 vòng nói trên, tức PL tôn giáo
tín ngưỡng), nguyên do chính là chế độ độc tài toàn trị hiện nay là do
một đảng duy vật vô thần độc quyền và toàn quyền lãnh đạo vô thời hạn, sẵn
sàng khống chế và chà đạp tất cả mọi nhân quyền. Nếu Hoa Kỳ muốn thật sự giúp Việt Nam được tự do
tôn giáo, thì phải làm sao giúp cho Việt Nam có dân chủ nhân quyền thực sự.
Một số đề nghị cụ thể:
1- Tái
đặt lại VN vào danh sách CPC, vì nhà cầm quyền VN chưa
bao giờ có những tiến bộ rõ rệt và đích thực trong việc tôn trọng quyền tự
do tôn giáo. Những tiến bộ mà nhiều chính khách Hoa Kỳ thấy
trên phương diện sinh hoạt tôn giáo chỉ là những thứ tự do ngoại diện và
phụ tùy (như xây nơi thờ phượng, tổ chức lễ hội tôn giáo, chức sắc
ra ngoại quốc… ).
2-
Khi đã đặt lại VN vào CPC thì cần áp dụng
những biện pháp chế tài, nhất là những chế tài liên quan tới kinh
tế. Vì nhà cầm quyền CSVN chỉ sợ những ai làm thiệt hại tới
sự thu vén ngoại tệ của họ.
3- Áp
lực nhà cầm quyền CSVN trả tự do lập tức
và vô điều kiện cho các tín đồ và chức sắc tôn giáo đang bị cầm tù
hay bị quản chế và sách nhiễu. Xin nhớ là họ không phải là
tội phạm hình sự, không phải là kẻ vi phạm pháp luật nhà nước,
nhưng là những chiến sĩ đấu tranh cho tự do tôn giáo và dân chủ
nhân quyền.
4- Can
thiệp để các Giáo hội có được quyền giáo dục (được mở các
tư thục mọi cấp), quyền thông tin
(sở hữu báo chí, đài phát, nhà xuất bản) và xa hơn nữa là thủ tiêu Pháp lệnh về tôn giáo tín ngưỡng
vốn chỉ là công cụ pháp luật nhằm đàn áp các tôn giáo tại
VN.
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Huế,
VN
Ngày
01-02-2009
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|