|
(Toquoc) – Quan hệ kinh tế,
thương mại, viện trợ phát triển giữa Trung Quốc và Lào tăng vọt, đi kèm
với làn sóng di dân.
Trong
hai ngày 21-22/9, đại diện Chính phủ Lào và các nhà đầu tư Trung Quốc
đã tổ chức lễ bàn giao hai công trình do Trung Quốc tài trợ và cấp vốn
xây dựng tại thủ đô Viêng Chăn: Sân vận động Quốc gia mới - công trình
trọng điểm SEA Games-25 với tổng vốn đầu tư 100 triệu USD và Đài truyền
hình kênh 3 thuộc Đài truyền hình Quốc gia Lào, vốn đầu tư 10 triệu
USD. Đó là một phần trong bức tranh rộng lớn quan hệ kinh tế thương mại
đầu tư giữa Trung Quốc và Lào.
Đầu tư tăng vọt
Bộ
trưởng Kế hoạch-Đầu tư Lào Sinlavong Khoutphaythoun mới đây cho biết vốn
đầu tư của Trung Quốc tại Lào hiện đã đạt 3,577 tỷ USD, đứng thứ hai
trong tổng số 37 nước có vốn đầu tư trực tiếp tại Lào. Thái Lan là nước
dẫn đầu.

Lào, một nẻo đường mới mở
Hoạt
động đầu tư của Trung Quốc tại Lào bắt đầu từ năm 1998-1999. Lĩnh vực
mà các doanh nghiệp Trung Quốc tập trung vốn đầu tư là khai thác khoáng
sản (112 dự án), công nghiệp và thủ công nghiệp (82 dự án), nông lâm
nghiệp (64 dự án), năng lượng điện (4 dự án), và các dự án đầu tư vào lĩnh
vực dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng dịch vụ (nhà hàng, khách sạn...).
Đầu
tư của Trung Quốc tại Lào sẽ tăng đáng kể trong năm tới khi một số dự
án có vốn đầu tư nhiều tỉ USD được chính phủ Lào cấp phép chính thức và
triển khai thi công, như dự án phát triển Đặc khu kinh tế "Tam
giác vàng" ở Bắc Lào, dự án nhà máy sản xuất giấy ở tỉnh
Savannakhet (Trung Lào).
Theo
mạng tin Asia Times (19/9),
vai trò của Trung Quốc trong công cuộc phát triển miền Bắc Lào không ngừng
gia tăng trong những năm gần đây. Qua các khoản viện trợ chính thức, đầu
tư nhà nước và số doanh nghiệp tư nhân tăng, Trung
Quốc hiện chiếm lĩnh phần lớn nền kinh tế Lào, từ khai khoáng, nhiệt điện
tới cao su, bán lẻ. Người Trung Quốc mua nhiều cổ phần để đứng trong hội
đồng quản trị các công ty trong hầu hết mọi ngành kinh tế. Kim ngạch
thương mại giữa Lào và Trung Quốc năm 2007 đạt tới khoảng 250 triệu USD
và ước tính lên tới 1 tỷ USD trong vài năm tới.
Năm
ngoái, chính quyền tỉnh Vân Nam
đã hoàn tất "Kế hoạch miền Bắc". Theo đó, từ nay đến năm
2020, tỉnh này phát triển các ngành công nghiệp "trụ cột" ở
miền Bắc Lào như điện lực, nông, lâm nghiệp, du lịch và khai khoáng. Kế
hoạch này dự định phát triển một lộ trình tập trung cao và khả thi để
công nghiệp hóa Lào. Kế hoạch này đã được trao cho chính phủ Lào hồi
tháng 1/2009 và sẽ được phê chuẩn vào năm 2010.
Với mức tiêu thụ cao su dự kiến khoảng 30% sản lượng của thế
giới vào năm 2020, Trung Quốc hiện đang dựa vào các đồn điền ở nước
ngoài để bù đắp cho phần thiếu hụt từ sản xuất trong nước, ước tính khoảng
7 triệu tấn. Tại miền Bắc Lào, các công ty
Trung Quốc lập các đồn điền cao su quy mô lớn bằng các khoản đầu tư ồ ạt.
Các công ty này đầu tiên ký hợp đồng trực tiếp với chính quyền trung
ương, tiếp đó thỏa thuận với dân làng địa phương, rồi thuê họ làm việc
với mức lương đủ sống.
Lào chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản,
gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang Trung Quốc. Sản phẩm nhập khẩu chính của
Lào từ Trung Quốc là nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp, may mặc
và đầu vào cho nông nghiệp. Trung Quốc đầu tư tại Lào trên nhiều lĩnh vực,
nhưng đầu tư vào thuỷ điện được coi là trọng tâm chiến lược. Chính phủ
Lào coi việc bán điện từ thủy điện sang Thái Lan, Việt Nam
và Trung Quốc là đóng góp chính cho ngân sách quốc gia.
Bằng
cách xây dựng cơ sở hạ tầng tại Lào như đường xá, cầu và trường học,
các khoản tiền của Trung Quốc đã giúp phát triển nền kinh tế của nước này trong khi vẫn tạo ra một cơ
sở hạ tầng xuất nhập khẩu, phục vụ cho xuất khẩu các nguồn tài nguyên
thiên nhiên sang Trung Quốc và nhập khẩu trở lại các hàng hóa từ Vân
Nam, Quảng Tây và Tứ Xuyên.
Ngày 18/8, ông Phonthavi Bútđala,
Tổng Lãnh sự quán Lào tại Côn Minh: Hiện nay các nhà đầu tư Trung Quốc
đầu tư tới 500 triệu USD vào dự án quan trọng giữa tỉnh Vân Nam với Lào
như cao su và cây thay thế thuốc phiện cho nhân dân Bắc Lào. Một số loại
hoa quả được nhập khẩu vào Lào.
Phát triển du lịch, dịch vụ giải
trí
Ảnh
hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc mang lại lợi ích cho một số người với
bằng chứng là hàng dãy xe SUU sang trọng đỗ dọc biên giới Trung-Lào. Một
loạt thị trấn, khu định cư và công ty kinh doanh mọc lên như nấm dọc quốc
lộ số 3 mới được hoàn tất xây dựng, chạy thẳng từ Côn Minh tới Bangkok,
chạy suốt miền Bắc Lào. Trong đó có thị trấn Boten được mệnh danh là
“Thành phố quốc tế hiện đại nhất” tại Lào, nơi có khách sạn và các sòng
bạc, các đại lý điện thoại di động, các cửa hàng miễn thuế và các cửa
hàng bán hàng Trung Quốc rẻ tiền.

Thị trấn Boten, Bắc Lào
Mặc dù sự phát triển của thị trấn Boten tạo việc làm cho
người dân địa phương, song phần lớn chỉ là công việc dịch vụ chân tay.
Thị trấn này hoạt động theo giờ Bắc Kinh, chỉ chấp nhận đồng Nhân dân tệ
và nói tiếng Quan thoại. Đường dây điện và điện thoại chạy từ Trung Quốc,
và ổ cắm điện theo tiêu chuẩn Trung Quốc. Người dân địa phương còn phải
chứng kiến mảnh đất của họ được “quốc tế hóa”, nhất là cư dân từng sinh
sống dọc trục giao thông. Họ phải tái định cư vào sâu hơn.
Các nhà
đầu tư Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển đầu tư tại các khu phát triển
kinh tế và du lịch tại Lào. Nhà
đầu tư Trung Quốc là chủ dự án casino tại tỉnh Bò-kẹo sẽ tiếp tục đầu
tư khu phát triển kinh tế với diện tích 5.000 Lay (1ha = 4 Lay), tổng
giá trị đầu tư khoảng 2 tỷ USD và dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2017.
Dự án Trung Quốc tại khu vực kinh tế và du lịch ASEAN tại tỉnh Bò-kẹo gồm
8 hạng mục như: casino, khách sạn 5 sao, sân golf 36 lỗ, bệnh viện, trường
học, nhà hàng, chợ và trung tâm thương mại.
Theo tin của Thái Lan,
Lào đã đồng ý cho phép Công ty Đọc-ngịu-đeng, Trung Quốc thuê thêm 5100
Lay tại huyện Tộn-phựng, tỉnh Bò kẹo trong thời gian 75 năm, phía công
ty cũng đã giao khoán dự án trên cho công ty TNHH Mu-mưn của Trung Quốc
đến xây dựng trong 10 năm, với vốn 3 tỷ USD.
Casino ở huyện Tộn-phựng, tỉnh Bò
kẹo tại Lào xây dựng do liên doanh giữa Trung Quốc và Ma Cao và là
casino thứ 3 tại khu vực tam giác vàng Thái-Myanmar-Lào. Tại tất cả các
khu vực casino trên đều có hệ thống khách sạn, nhà hàng, sân golf,
trung tâm thương mại và các khách sạn đều ít nhất 3 sao trở lên.
Những
đợt di cư mới tới Đông Nam Á và Lào
Những năm gần đây, Trung Quốc gia tăng các khoản viện trợ
cho Lào cũng như các nước Đông Nam Á khác, kèm theo việc gia tăng di
dân mới của Trung Quốc. Theo nghiên cứu của Henry Ye thuộc trường Đại học
quốc phòng Washington (Mỹ), năm 2003, kim ngạch viện trợ của Trung Quốc
cho Campuchia đã tương đương với viện trợ của Mỹ, viện trợ cho
Philipinnes gấp hơn bốn lần viện trợ của Mỹ, viện trợ cho Indonesia gấp
hơn hai lần Mỹ, viện trợ cho Lào gấp hơn ba lần.
Các
dự án viện trợ xây dựng của Trung Quốc tập trung nhiều vào cơ sở hạ tầng
như đường bộ, đường sắt, bến cảng và công trình công cộng lớn. Những dự
án này cần nhiều nhân viên kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trong thời
gian từ khi Chủ tịch Giang Trạch Dân thăm Lào tháng 11/2000 đến khi phó
thủ tướng Ngô Nghi thăm Lào tháng 3/2004, viện trợ kinh tế của Trung Quốc
cho Lào đã lên tới hơn 1 tỷ NDT, tương đương tổng số tiền của Trung Quốc
viện trợ cho Lào trong cả 12 năm trước đó. Những dự án viện trợ tiêu biểu
như Cung văn hóa quốc gia Lào, nhà máy xi măng Wanrong II, dự án khơi
dòng sông Mekong, bệnh viện hữu nghị Lào-Trung Luang Phrabang, công
trình mở rộng mạng viễn thông giai đoạn hai, công trình 1/3 đoạn đường
bộ Côn Minh-Bangkok, các chương trình vay tín dụng ngân hàng như dự án
thuỷ điện Nanmeng, công trình truyền tải biến áp điện năng Pakse... Những dự án này chủ yếu do người Trung Quốc đảm nhận
với nhân công đưa từ Trung Quốc sang.
Từ
giữa thập niên 1980, di dân Trung Quốc mới đến Đông Nam Á có thể chia
làm ba đợt, với quy mô tương đối lớn bắt đầu từ nửa cuối những năm
1980, liên tục cho đến nay.
Đợt
đầu tiên chủ yếu là người Triều Châu, Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông đến Thái
Lan và người Nam Phúc Kiến đến Philippinnes. Trước khi Thái Lan mở cửa
cho khách du lịch Trung Quốc vào năm 1988, với sự giúp đỡ của người
thân ở Thái Lan, người Triều Châu, Sán Đầu đã đến Thái Lan trên danh
nghĩa người thân bạn bè mời. Sau khi chính quyền Thái Lan mở rộng visa
du lịch cho người Trung Quốc, việc giúp đỡ di dân sang Thái Lan nhanh
chóng trở thành một nghề ở khu vực Triều Châu, Sán Đầu, do các hãng
kinh doanh chủ yếu là các công ty du lịch địa phương. Vào mùa Hè năm
1995 ở Bangkok, mấy vị lãnh đạo tổ chức đồng hương quê Triều Châu, Sán
Đầu ước tính di dân mới quê Triều Châu, Sán Đầu lúc đó có gần 20 vạn
người. Năm 1994, quan chức Cục di dân Thái Lan thừa nhận, khoảng 10 vạn
người Trung Quốc náu mình ở Thái Lan để được chuyển đi nước thứ ba, một
bộ phận vẫn ở lại Thái Lan. Những năm gần đây, kinh tế khu vực ven biển
Trung Quốc phát triển mạnh, thu nhập của dân Triều Châu, Sán Đầu tăng
lên, làn sóng di cư sang Thái Lan có phần giảm bớt, thay vào đó là di
dân ở các khu vực khác của Trung Quốc. Di dân Trung Quốc lợi dụng quan
hệ truyền thống với khu người Hoa cũ để đến Đông Nam Á tương đối sớm
còn có người Nam Phúc Kiến. Sau thập niên 1980, với sự giúp đỡ của người
thân, bạn bè ở Philippinnes, người Tấn Giang lũ lượt di cư sang nước
này. Gần 10 năm trở lại đây, rất nhiều di dân từ các khu vực nội địa
Trung Quốc đến mưu sinh ở Philippinnes.

Sự hiện diện của Trung Quốc đang gia tăng tại Lào
Đợt
di dân mới thứ hai đến Đông Nam Á xuất hiện vào giữa thập niên 1990,
kéo dài liên tục cho đến nay, chủ yếu đến Singapore, Malaysia và
Indonesia. Đợt này bao gồm những thương nhân và người thân của họ lâu đời
ở Đài Loan. Hàng vạn thương nhân Đài Loan đã rất năng động tại các nơi ở
Đông Nam Á. Thời kỳ cuối thập niên 1990, thương nhân Đài Loan và những
người gốc Đài Loan liên quan đến các công ty đầu tư của Đài Loan ở cả
Đông Nam Á lên tới 100 nghìn người. Năm 2002, Trung Quốc xuất khẩu lao
động đến Singapore gần 100 nghìn người, tuyệt đại bộ phận làm trong
ngành xây dựng. Sau năm 1994, để thúc đẩy ngành du lịch phát triển,
chính phủ Malaysia từng bước mở cửa cho người Trung Quốc Đại lục sang
Malaysia, đông đảo người Đại lục đã sử dụng visa du lịch để vào Malaysia,
sau đó ở lại không về, trở thành di dân. Tư liệu điều tra di dân mới của
Văn phòng Hoa Kiều tỉnh Phúc Kiến cho thấy, phần lớn di dân mới người
Phúc Kiến ở Malaysia đều đến Malaysia sau năm 1996. Hôn nhân cũng trở
thành một trong những con đường cho một bộ phận di dân Trung Quốc đến Malaysia.
Đến cuối năm 2005, cô dâu Trung Quốc lấy chồng người Malaysia
đã lên tới 6.000 người. Những năm gần đây, học sinh Trung Quốc đến du học
tại Malaysia
tăng lên nhanh chóng. Theo số liệu của Bộ Giáo dục Malaysia, từ năm
1997 đến 2002, khoảng 20 nghìn học sinh Trung Quốc Đại lục đã đến
Malaysia du học. Chỉ riêng năm 2003, có 10.884 học sinh Trung Quốc đến
du học tại Malaysia.
Một số di dân mới lấy danh nghĩa du học, thực chất là đến làm thuê tại
nước này. Sau năm 2003, một số ngành nghề của Malaysia
sẽ mở cửa cho người lao động Trung Quốc. Đến cuối năm 2003, số nhân
công lao động xuất khẩu sang Malaysia
hợp pháp qua các công ty giới thiệu việc làm có 5.582 người. Cuối thời
kỳ cầm quyền của Suharto, với sự giúp đỡ của họ hàng giàu có ở
Indonesia, di dân Trung Quốc đến từ Phúc Kiến bắt đầu từng đợt đổ đến
Indonesia, trong đó chủ yếu từ khu vực Phúc Châu, một số ít đến từ vùng
Tuyền Châu. Theo tài liệu điều tra của tỉnh Phúc Kiến, đến năm 2005, chỉ
riêng di dân mới gốc Phúc Châu ở Indonesia đã lên tới 51.311 người.
Làn
sóng di dân mới lần thứ ba đến Đông Nam Á bắt đầu từ những năm đầu của
thế kỷ 21, chủ yếu đến các khu vực đất liền ở Đông Nam Á như: bắc
Mianmar, Campuchia, Lào và Bắc Thái Lan..., số lượng người trong đợt di
cư này vượt xa hai đợt trước, trong đó đông nhất là ở Mianmar. Đáng chú
ý là những tập thể người Trung Quốc đến bắc Mianmar, Lào và Campuchia
làm nghề trồng trọt. Năm 2006, một nhà quan sát phương Tây quan tâm đến
di dân cho rằng, di dân Trung Quốc đổ vào Campuchia những năm gần đây
khoảng từ 5 đến 30 vạn người, rải rác khắp nơi ở Campuchia, cả những
nơi xa xôi, hẻo lánh, khó tới nhất vẫn thấy dấu chân của di dân Trung
Quốc mới.
Hiện
đang diễn ra một làn sóng người di cư từ tỉnh Vân Nam
và các tỉnh khác của Trung Quốc tới Lào, tìm kiếm cơ hội tại đây với sự
hỗ trợ bởi sự hiện diện kinh tế hùng mạnh của Trung Quốc. Dòng
người Trung Quốc di cư ngày càng nhiều nhờ mạng lưới đường xá khu vực
được mở mang.
Năm 2000, Hoa kiều và người Hoa ở Lào có 160 nghìn người,
khoảng 2/3 là di dân mới. Đến năm 2006, di dân Trung Quốc mới ở Lào có
thể trên 100 nghìn người. Con số này tiếp tục tăng lên với cấp số nhân
cùng các chương trình hợp tác, đầu tư và viện trợ cuả Trung Quốc cho Lào./.
Nguyễn Nguyên (Tổng hợp
)
Trích:
Tổ quốc 24.9
|