|
DC&PT - Thời
Sự 2009
Sự khác nhau giữa Dân chủ và Tự do
HÀ
SĨ PHU
Hai khái niệm Tự do ( Liberty) và Dân chủ
(Democracy) xưa nay thường được hiểu là tương tự, hoặc ít ra thì cũng rất
gần nhau, theo hướng giải phóng con người. Quả thực, trong các nước dân
chủ phương Tây thì hai yếu tố ấy cũng bện chặt vào nhau để tạo nên một
nền Dân chủ - Tự do (liberal
democrcy). Hầu hết chúng ta đều hiểu Dân chủ và Tự do là hai yếu tố biến
thiên cùng chiều như một cặp bài trùng. Vì thế cũng không ai mổ xẻ tách
bạch sự khác nhau giữa hai khái niệm ấy làm gì.
Song thực tiễn chính trị đã khiến cho
hai từ Dân chủ và Tự do buộc phải được hiểu môt cách chính xác hơn (nhưng
vẫn cùng chiều), rồi thật bất ngờ, dưới bàn tay nhào nặn khéo léo của một
số nhà chính trị ở một số quốc gia, Dân chủ và Tự do không bện chặt vào
nhau nữa, chẳng những rời nhau ra mà có thể còn chống lại nhau. Từ đó
hình thành và phát triển những hệ thống chính trị Dân chủ- nhưng không Tự do (illiberal democracy).
“Nhiều
chính quyền được bầu lên một cách dân chủ, thậm chí các chính quyền được
bầu lại hoặc được tái xác nhận thông qua trưng cầu dân ý, lại càng bất
chấp các giới hạn quyền lực do hiến pháp qui định và thường tước đi các
quyền và những tự do căn bản của người dân”.
Sự phát hiện điều nghịch lý
và khái quát thành lý luận này của Fareed Zakaria, một nhà báo, nhà triết
học chính trị với vốn sống chính trị phong phú, thuộc số những nhà trí
thức hàng đầu có nhiều ảnh hưởng nhất hiện nay [1],
theo tôi là một phát kiến rất lớn, mặc dù nhiều học giả của thế kỷ 18 và 19 cũng đã bắt đầu “nhìn
thấy trong Dân chủ một sức mạnh
có thể gây tổn hại cho Tự do”.
Thật vậy, Dân chủ trước hết và chủ yếu
được hiểu là quyền làm chủ của dân, là sự can dự của dân vào quá trình
hình thành bộ máy cai trị. Khi một quốc gia tổ chức các cuộc bầu cử đa
đảng, có cạnh tranh, bộ máy cầm quyền do lá phiếu của người dân bầu ra,
không ai áp đặt, chúng ta gọi quốc gia đó là dân chủ.
Còn Tự do, theo nghĩa truyền
thống và thường được hiến định, là các quyền tự nhiên, bất khả nhượng nên
còn gọi là Tự do hiến định (constitutional
liberalism), nhằm bảo vệ tính độc lập tự chủ và nhân phẩm của con người
trước những chèn ép về chính trị, xã hội, tôn giáo và những cái khác.
Nếu muốn coi Dân chủ cũng là biểu
hiện của Tự do thì đó là Tự do
chính trị, còn quyền Tự do hiến định chính là Tự do dân sự; một đằng tạo ra chính quyền, một đằng không ngừng
chỉnh lý, khống chế chính quyền ấy. Vì Tự do là nền tảng, Dân chủ là thượng
tầng nên quan hệ giữa Tự do và Dân chủ là quan hệ hầu như một chiều : Chủ
nghĩa Tự do hiến định dẫn đến Dân chủ, nhưng Dân chủ thì dường như không
mang lại chủ nghĩa tự do hiến định. Gốc nào thì quả ấy, cho nên “Cái làm thành nét đặc trưng và tạo ra sự khác biệt giữa
các chính quyền tại châu Âu và Bắc Mỹ với các chính quyền khác trên toàn
thế giới không phải là dân chủ mà
chính là chủ nghĩa tự do hiến định. Biểu tượng tốt nhất của “Mô hình
phương Tây” không phải là hệ thống bầu cử đại chúng mà chính là vị quan
tòa không thiên vị” (Zakaria).
Nếu vội vàng tạo lập Dân chủ nơi
chính quyền trong khi chưa giành được những quyền tự do dân sự trong dân chúng thì đó là thứ Dân chủ không có gốc,
nó dễ dàng trở thành phản bội .
Chúng ta vẫn thường nghĩ một cách đạo
đức và đơn giản rằng: sự cảnh giác chỉ cần khi chính quyền đối lập với
nhân dân, chứ khi nhân dân đã tự gánh vác trách nhiệm thì sự thận trọng
là không còn cần thiết. Xin thưa, Alexandr Lukashenko sau khi được bầu
làm Tổng thống Belarus
một cách dân chủ với đa số phiếu áp đảo trong cuộc bầu cử tự do năm 1994,
khi được hỏi về việc giới hạn quyền lực của ông ta, thì chính nhà độc tài
này đã tuyên bố “Chế độ độc tài sẽ
không có ở đây. Tôi thuộc về nhân dân, vì vậy tôi sẽ cống hiến vì nhân
dân !”.
Cũng đừng tưởng rằng khi người
cầm quyền do dân bầu ra mà chống lại tự do của dân thì dân sẽ không bầu nữa.
Trái lại có thể dân vẫn bầu, mà còn bầu với số phiếu cao nữa kia !. Bởi nếu
những quyền tự do hiến định không được thực hiện thì những thủ thuật để
chiếm lòng dân, để tạơ sức mạnh của số đông, để dân lại tiếp tục bầu là điều
không khó khăn gì.
Đối với pháp trị, lòng tin dễ thành
thuốc độc, bởi tinh thần căn bản của luật pháp là dựa trên sự nghi ngờ.
Khi đã cố xây dựng lòng tin làm cẩm nang, làm tiên đề để điều hành xã hội
thì luật pháp sẽ bị vận dụng méo mó, sẽ mất hiệu năng và đó là mầm mống bành
trướng của quyền lực tuyệt đối.
Sau một diễn tiến Dân chủ thường tạo được lòng tin, nhưng lòng tin lại
gây mất cảnh giác nơi dân chúng và là mảnh đất phát sinh lạm quyền, rồi sự
lạm quyền sẽ quay lại chống Tự do. Con
đường Dân chủ chống lại Tự do cứ
khép một đường vòng như vậy. Đừng bao giờ quên rằng khi có quyền
trong tay người ta có thể biến thành một người hoàn toàn khác. Chỉ trong
một xã hội có Tự do dân sự vững
chắc thì sự tha hoá của quyền lực mới được kiềm chế và đường vòng phản hồi
chống dân chủ kia mới có khả năng ngăn chặn. Biết đặt sự nghi ngờ lên trước
để xử lý thì lòng tin sẽ đến theo sau.
Bằng con mắt tinh tường và với một
quan điểm lý luận có hệ thống, Zakaria đã điểm mặt những vùng địa lý
chính trị, nơi nào có Dân chủ-Tự do điển hình, nơi nào tuy chưa thật dân
chủ nhưng lại có Tự do, ngược lại nhiều nơi chưa có Tự do nhưng lại được
xếp vào nước có Dân chủ…
Đặc biệt ông đã nhận ra sự
trỗi dậy mạnh mẽ của xu thế Dân chủ
phi Tự do (illiberal democracy), như một lối thoát được ngụy trang rất
khôn ngoan của những chính quyền cố giữ cho được sự cai trị độc đoán trước
một trào lưu dân chủ toàn cầu không thể chống lại. Những chính quyền ở
Peru, Palestin, Sierra Leon, Slovakia, Kazakstan, Kyrgystan, Pakistan, Belarus,…
và những nhân vật chính trị như Boris Yeltsin, Alexandr Lukashenko,
Alberto Fujimori, Carlos Menem, … là những ví dụ điển hình (khi ấy là năm
1997, sau này phải kể thêm Vladimir Putin ). Theo Zakaria thì lúc ấy một
nửa số các quốc gia đang dân chủ hoá lại là các chế độ Dân chủ phi tự do (illiberal
democracy).
Trước sự trỗi dậy của xu thế có Dân chủ nhưng không có Tự do như
thế dân Việt Nam
phải làm gì để khỏi sa vào?
Chính trị cũng như thị trường, chẳng
qua cũng một Quy luật cung cầu
chi phối cả. Có “cầu’ ắt có “cung”, và thế nào cũng xuất hiện bọn
“cung đểu” (bọn làm hàng giả),
quy luật cạnh tranh sinh tồn vốn
tiềm tàng tính “bất thiện” như thế. Nhân dân cần Dân chủ và Tự do ư ? (và
nghĩ rằng hai thứ đó giống nhau), thì sẽ có giới cầm quyền đứng ra nhận
thoả mãn nhu cầu ấy. Nhưng đối với giới cầm quyền thì món hàng Dân chủ có
“giá thành” rẻ hơn lại ít nguy hiểm hơn so với Tự do, nên họ cứ trưng cái
nửa Dân chủ ra trước đã. Nếu dân là người tiêu dùng hồn nhiên, gặp kẻ tiếp
thị có nghề là “bập” vào ngay. Thế là dân hoan nghênh, dân bầu ngay, tín
nhiệm ngay, rất tự giác, rất dân chủ.
Nhưng như thế là “thượng đế”
bị sa bẫy rồi, cái bẫy có tên là Dân
chủ phi Tự do!. Khi cái ghế quyền lực đã “đúc bê tông” thì số phận
cái nửa Tự do kia sẽ thế nào là
chuyện “hạ hồi phân giải” !
Chỉ khi nào dân trí đã khôn,
đã từng trải, mới biết “nắm đằng chuôi”, mới biết khước từ món “mì chính trị ăn liền” thường rất đậm
đà màu sắc địa phương, mà đòi cho được quyền Tự do hiến định, tức Tự
do dân sự như dân các nước văn minh được hưởng. Điều tưởng như rất bình
dị này mới chính là sản phẩm quốc tế chất lượng cao, đã được lịch sử kiểm
định ! Người khôn ngoan không đòi ngay con cá mà cố giành lấy chiếc cần
câu chính là như vậy.
Trong lúc tôi đang băn khoăn, thai
nghén những ý tưởng về chủ đề này thì may mắn thay, cùng một lúc tôi được
đọc hai tài liệu cùng của Fareed Zakaria. Một cuốn Tương lai của Tự do
(The Future of Freedom) do trang mạng
X-café dịch và đăng nhiều kỳ. Một bài tiểu luận “Sự trỗi dậy của các chế độ Dân chủ phi
tự do” do Phạm Hồng Sơn dịch và Mai Thái Lĩnh hiệu đính (và được phép
chính thức của tạp chí Foreign Affairs) . Bài tiểu
luận này viết năm 1997 chính là nòng cốt để tác giả phát triển thành cuốn
The Future of Freedom năm 2003.
Với những độc giả không có nhu cầu tìm hiểu rộng và chi tiết, chỉ
cần nắm được luận điểm chính và những ví dụ điển hình, tôi nghĩ đọc bài
tiểu luận Sự trỗi dậy của các chế độ
Dân chủ phi tự do là thích hợp, trong đó tác giả trình bày ý tưởng một
cách ngắn gọn, xúc tích và sắc xảo.
Xin chân thành cảm ơn cả hai dịch giả của hai tác phẩm nói trên .
[1] Fareed Zakaria là một nhà báo Mỹ gốc Ấn Độ. Ông
sinh năm 1964 tại thành phố Mumbai (tên cũ là Bombay)
thuộc bang Maharashtra - Ấn Độ, trong
một gia đình Hồi giáo. Cha ông là Rafiq Zakaria (1920-2005), một học giả
Hồi giáo và là một chính trị gia của Đảng Quốc Đại Ấn Độ (Indian National
Congress). Mẹ ông, Fatima Zakaria, đã có thời là biên tập viên của tuần
báo Times of India
(Thời báo Ấn độ). Sau khi học trung học tại Ấn Độ, Zakaria du học tại Hoa
Kỳ, tốt nghiệp Cử nhân (B.A.) tại đại học Yale và lấy bằng tiến sĩ chính
trị học (Ph.D. in Political Science) tại đại học Havard – nơi đây ông
được hướng dẫn bởi các vị giáo sư chính trị học nổi tiếng như Samuel P.
Huntington và Stanley Hoffmann. Ông nhập quốc tịch Hoa Kỳ vào năm 2001.
Sau khi tham gia một công trình
nghiên cứu của Đại học Havard về chính sách đối ngọai của Hoa Kỳ, Zakaria
trở thành biên tập viên điều hành (managing editor) của tạp chí Foreign
Affairs (Các vấn đề đối ngọai) và giữ chức vụ này trong 7 năm (từ năm
1993 đến năm 2000). Tạp chí này là một tập san chuyên đề bàn về các quan
hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, được phát hành hai tháng
một lần bởi Hội đồng về Các quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations,
CFR) . Tháng 10 năm 2000, ông được bổ nhiệm làm tổng biên tập (editor)
của tạp chí Newsweek International (tức ấn bản quốc tế của tạp chí Newsweek).
Với chức vụ này, ông chịu trách nhiệm trông nom các ấn bản tiếng Anh ở
hải ngọai của tờ tạp chí nổi tiếng này, được phát hành khắp châu Âu, châu
Á, châu Phi và vùng Trung Đông với trên 3 triệu ruỡi độc giả. Ngoài nhiệm
vụ đó, ông còn thường xuyên viết bài cho các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ như
New York Times, Wall Street Journal, Washington Post, và New Republic, v.v…Ông
còn cộng tác với nhiều đài truyền hình nổi tiếng như PBS (2005-2007), ABC
(2002-2007) và CNN (từ tháng 6 năm 2008). Không chỉ là nhà báo, Zakaria
còn là tác giả của một số cuốn sách nổi tiếng như: The Future of Freedom (Tương
lai của Tự do, 2003) và The
Post-American World (Thế giới hậu - Hoa Kỳ, 2008).
Năm 1999, tạp chí Esquire vinh
danh ông là «một trong 21 nhân vật quan trọng của thế kỷ 21». Năm 2007
ông được các tạp chí Foreign Policy và Prospect xếp vào danh sách 100 nhà
trí thức hàng đầu được nhiều người biết đến của thế giới. Tháng 1 năm
2009, tạp chí Forbes xếp Zakaria vào danh sách 25 nhà tự do (liberals) có
ảnh hưởng nhất trong giới truyền thông Hoa Kỳ.
Bài báo “Sự trỗi dậy của nền dân chủ phi-tự do”
(The Rise of Illiberal Democracy) công bố trên tạp chí Foreign Affairs
vào tháng 11 năm 1997 là tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất của Zakaria.
(Tư
liệu do nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh cung cấp)
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|