|
Ngày 12-1-2009, Chủ tịch Viện
Nghiên cứu phát triển IDS, GS. Hoàng Tụy đã gửi
kiến nghị giáo dục của IDS cho Trung Ương Đảng CSVN,
Quốc Hội, Chính phủ và nhiều báo.
Để đảm bảo tính thông tin đa
chiều, Tuần Việt Nam xin tóm lược những nội dung chính của
bản kiến nghị này, giúp độc giả tham khảo.
Phần 1: Những sai lầm chủ yếu làm tha hóa giáo dục
Chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống!
Vài
năm nay, nhận thấy giáo dục vẫn tiếp tục sa lầy trong suy thoái, nhiều
nhà giáo, nhà khoa học, nhiều thức giả trong và ngoài nước cũng đã góp
thêm tiếng nói tâm huyết kêu gọi cải cách giáo dục. Đặc biệt Đại Tướng
Võ Nguyên Giáp đã bày tỏ lo lắng sâu sắc trước sự suy thoái của giáo
dục. Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có sự đồng thuận cao như hiện
nay về sự cần thiết phải cải cách giáo dục.
Thật
ra không phải chỉ gần đây khủng hoảng giáo dục mới được báo động, mà ngay
từ năm 1995, trong một hội nghị ba ngày do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy
triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy
kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này. Nghị quyết TƯ
II khóa 8 đã đúc kết những nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong
hội nghị đó và trong một số hội thảo tiếp theo. Tiếc rằng từ bấy đến
nay đã 13 năm giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế
trì trệ triền miên.
Trong thời gian ấy biết bao cơ hội đã mở ra, và cũng có biết
bao thách thức xuất hiện ở phía trước! Nếu tới đây sức ỳ này vẫn tiếp
tục chi phối giáo dục thì mục tiêu Việt Nam cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất ít hy vọng có thể thực
hiện được.
Hiển
nhiên, cũng như bất cứ ai có ý thức trách nhiệm với đất nước, các nhà
quản lý giáo dục không phải không nhận ra những vấn nạn đã gây bức xúc
thường xuyên trong xã hội. Nhưng do tư duy
cũ kỹ và trình độ hạn chế nên trong suốt hai mươi năm trời từ khi công
cuộc đổi mới bắt đầu, ngành giáo dục đã loay hoay không tìm được hướng
đổi mới đúng đắn, chỉ cải sửa từng phần vụn vặt, chắp vá, gặp đâu sửa
đó.
Mấy năm gần đây, lãnh đạo của Bộ ngày càng nghiêng về xu hướng
phiêu lưu muốn lái giáo dục theo chiều hướng tự do hóa cực đoan như
thể hiện trong đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai
đoạn 2006-2020” đã trình lên Chính Phủ thông qua hai năm trước. Sức ỳ
và tinh thần ngại thay đổi lớn (đòi hỏi đầu tư cao về trí tuệ), tiến
vài bước lùi vài bước, có khi quay ngược 180 độ, chứng tỏ tư duy
lãnh đạo của giáo dục còn rất lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng
đổi mới, ngay cả khi đổi mới giáo dục đã là đòi hỏi bức thiết
của cả xã hội.
Hơn
một năm nay, Bộ GD-ĐT bắt tay xây dựng “Chiến lược phát triển giáo dục
2008-2020”. Xin lưu ý rằng, trước đây đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020” đã được thông qua trong lúc bản
“Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2010” trên nguyên tắc
còn 4 năm nữa mới hết hiệu lực.
Bây
giờ, trong lúc vừa mới thông qua đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục đại học giai đoạn 2006-2020” được hai năm, và “Chiến lược phát
triển giáo dục 2000-2010” còn hiệu lực hai năm nữa thì đã có “Chiến
lược phát triển giáo dục 2008- 2020”, rồi 2009-2020. Mỗi bản dự thảo
chiến lược là công trình cả năm trời hay hơn của một viện hàng mấy trăm
người, sửa đi sửa lại nhiều lần (bản này sửa đến lần thứ 14), sau mỗi
lần sửa, bản dự thảo lại được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong các cuộc
hội thảo mà nhiều vị tham gia thiếu sự nghiên cứu nghiêm túc thấu đáo
cũng mạnh dạn phát biểu về “đại học đẳng cấp quốc tế”, “đại học top
200”, v.v.
Thật
ít thấy cách làm việc nào tùy tiện, thiếu khoa học, thiếu chuyên nghiệp
hơn mà lại tốn kém như vậy, trong lúc Chính Phủ đang kêu gọi tiết kiệm,
chống lãng phí, để góp phần khắc phục các khó khăn kinh tế nghiêm trọng.
Khác với hai văn bản trước, dự thảo “Chiến lược phát triển giáo dục
giai đoạn 2009-2010” xuất phát từ ý tốt muốn mau chóng thay đổi cục
diện giáo dục của đất nước ngay trong nhiệm kỳ 10 năm, nhưng chủ
quan, không thực tế.
Phần
quan trọng của dự thảo nói về thực trạng giáo dục của ta và bối cảnh trong
nước và quốc tế chưa phân tích được sự không thành công của giáo dục
như nhận định trước đây của nguyên Thủ Tướng Phan Văn Khải, mà thiên
về chứng minh điều ngược lại.
Hai
phần tiếp theo nói về các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và các
mục tiêu chiến lược, thể hiện một triết lý giáo dục tuy có được một số
yếu tố cấp tiến trên lý thuyết, nhưng về căn bản vẫn chưa thoát ra khỏi
tư duy giáo điều trước đây, lại được bổ sung thêm những yếu tố mở đường
cho quan điểm thị trường cực đoan phiêu lưu sai lầm (quan điểm 5, phần
III)(1) mà nếu thực
hiện sẽ có tác dụng đẩy giáo dục càng suy thoái xa hơn.
Phần
V, trên thực tế mới là phần trọng yếu, thực ra chỉ là một bản kế hoạch
dài hạn 12 năm, xây dựng duy ý chí theo tư duy và phương pháp kế hoạch
hóa tập trung quan liêu thời bao cấp đã phá sản từ những năm đầu 80 thế
kỷ trước. Chúng ta đang sống trong thời đại đầy biến động khó lường, năng
lực dự báo kinh tế của ta lại rất yếu, dự báo ngắn hạn đã khó, huông
hồ dự báo cho 12 năm tới. Mà khi đã không có dự báo kinh tế tin cậy
được thì căn cứ vào đâu có thể tính toán chi tiết các chỉ tiêu phát
triển giáo dục trong 12 năm tới như trong bản dự thảo? (1*) Có chăng
đây chỉ là một bảng uớc muốn tốt đẹp của lãnh đạo, thể hiện phần nào
tâm huyết đối với giáo dục, nhưng không thể coi là đã có tính toán
cân đối khả năng, nguồn lực và yêu cầu. Hơn nữa, các chỉ tiêu, biện
pháp chỉ nặng về phát triển qui mô dễ gây ấn tượng mà không tính hết
các khó khăn và thách thức, xem nhẹ chuyển biến về chất, trong
khi cuộc khủng hoảng giáo dục hiện nay trước hết là khủng hoảng về đường
lối, triết lý, khủng hoảng về chất.
Cần ghi nhận những tiến bộ hai năm qua đã tạo được một số
chuyển biến tích cực, bước đầu kéo giáo dục ra khỏi một số điểm trì trệ
lâu ngày. Nhưng đồng thời cũng cần thấy rằng, những tiến bộ ấy chỉ mới
ở ngoại biên, chưa động tới chiều sâu các vấn đề cốt lõi. Chẳng hạn, tiêu
cực trong thi cử chỉ là một mảng nhỏ, thậm chí chỉ là thứ yếu, mà cái
gốc là bệnh giả dối thâm căn cố đế của giáo dục, làm sao chỉ bằng phong
trào “hai không” mà khắc phục được.
Ngay trong thi cử thì cái tiêu cực nhất không chỉ là chuyện
quay cóp, gian lận, mà ở chứng bệnh hư học và những lãng phí to lớn nó
gây ra cho xã hội. Còn bệnh thành tích thì không chỉ ở thói xấu báo
cáo không trung thực kết quả các kỳ thi, mà như đã phân tích ở trên,
nghiêm trọng nhất là xu hướng từ trên xuống dưới chạy theo số lượng,
bất chấp chất lượng, bất chấp chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn mực quốc tế,
chạy theo những hoạt động phô trương tốn kém, những thành tích giả tạo.
Do đó, còn chưa động tới những vấn đề cốt lõi đó thì chưa thể nói có
chuyển biến gì đáng kể về chất.(2)
Tóm
lại, bài học kinh nghiệm hai chục năm qua là không thể chấn
hưng giáo dục chỉ bằng những cải cách nửa vời, chắp vá, tùy tiện, hay
những giải pháp cục bộ, bề nổi, có tính phong trào. Đó không chỉ
là ý kiến lẻ tẻ của các nhà giáo dục, khoa học trong nước mà còn là ý
kiến chung, kiên trì, kết quả nhiều năm suy nghĩ trăn trở của rất đông
các nhà khoa học, giáo dục trong nước, Việt Kiều và nước ngoài đã từng
quan tâm, tìm hiểu và gắn bó sâu sắc với nền giáo dục của đất nước ta
trong suốt thời kỳ đổi mới.
Vì những lẽ trên, một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại lời thỉnh
cầu khẩn thiết: đã đến lúc cần thực hiện một cuộc cải cách giáo dục
toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến
tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển
chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế
thành công.
Đây
thật sự là mệnh lệnh cuộc sống, không thể chần chừ. Người dân đã
quá mỏi mệt với những vấn nạn kinh niên về học phí, thi cử, sách giáo
khoa, chương trình quá tải, v.v… năm nào cũng bấy nhiêu chuyện lặp đi
lặp lại mà đến nay vẫn chưa thấy lối ra có thể tin tưởng được. Nhiều nước
tuy giáo dục đang phát triển tốt vẫn thấy cần cải cách để đáp ứng các
đòi hỏi mới của thời đại, huống chi chúng ta đã không thành công trong
một phần tư thế kỷ qua.
Tuy
nhiên, như đã nói rõ trong bản điều trần, cải cách giáo dục là công việc
hệ trọng, không thể làm vội vã tùy tiện mà cần phải được chuẩn bị chu
đáo, nghiên cứu cẩn trọng để thực hiện từng bước, từng bộ phận, theo
một kế hoạch được Quốc Hội thông qua nghiêm túc.
Sau
một thời gian dài im lặng trước mọi đề nghị cải cách, nay Bộ GD-ĐT
thông báo “Thủ Tướng Chính Phủ sẽ ban hành vấn đề cải cách hệ thống
giáo dục quốc dân trong quý 1/2009 để xóa đi tất cả những yếu kém,
bất cập trong hệ thống”.(3) Đây
là một tin vui, cho biết vấn đề cải cách giáo dục cuối cùng đã được đặt
chính thức lên bàn nghị sự của Chính Phủ. Song những tin tức cụ thể
kèm theo bản dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 khiến
dư luận chưa thể yên lòng. Chúng ta có Hiến Pháp, có Quốc Hội, thiết
tưởng một công cuộc có tầm quan trọng lớn lao đối với quốc dân như cải
cách giáo dục cần phải được nghiên cứu cẩn trọng và thông qua Quốc Hội.
Trong tình hình hiện nay, tốt nhất xin đề nghị Chính
Phủ thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD-ĐT, chịu trách nhiệm
trước Chính Phủ xây dựng trong thời hạn tối đa 12 tháng một đề án cải
cách giáo dục toàn diện kèm theo một kế hoạch và lộ trình cụ
thể để đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trong nhân dân trước khi
trình Chính Phủ và Quốc Hội.
Để
công việc thuận lợi và có hiệu quả thiết thực, tổ đặc nhiệm cần có một
nòng cốt gồm một số không nhiều những chuyên gia thật sự có năng lực và
thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian. Bên cạnh đó
có môt hội đồng rộng hơn, làm việc nửa thời gian, gồm có đại diện Bộ
GD-ĐT, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân, do Thủ Tướng Chính
Phủ chỉ định, để hỗ trợ tổ đặc nhiệm trong quá trình soạn thảo đề án.
Thành bại của sự nghiệp cải cách giáo duc phụ thuộc phần lớn ở sự lựa
chọn đúng đắn thành phần tổ đặc nhiệm và hội đồng này.
Một
số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách
Việc
chuẩn bị cải cách có thể mất một vài năm. Trong thời gian đó, cần chú
ý một số vấn đề cấp bách cần giải quyết để tạo cơ sở và mở đường chuyển
dần sang cải cách một cách thuận lợi. Chúng tôi kiến nghị tạm dừng việc
thông qua Chiến lược phát triển Giáo dục 2009-2020 và một số Dự án, Đề
án khác có liên quan. Bản điều trần 2004 có đề nghị 3 vấn đề về giáo dục
phổ thông và 7 vấn đề về giáo dục đại học.
Gần bốn năm qua, tuy các vấn đề này có
tiến triển ít nhiều, nhưng đến nay hầu hết vẫn chưa được thật sự giải
quyết, do đó vẫn cần được tiếp tục quan tâm. Mặt khác, tình hình kinh
tế khó khăn với nhiều thách thức trước mắt đòi hỏi ngành giáo dục cần
có những nổ lực đặc biệt góp phần cùng toàn xã hội vượt qua thách
thức, khó khăn, biến thách thức thành cơ hội tạo chuyển biến mạnh mẽ
chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng giáo dục về lâu dài.
Trên
tinh thần ấy chúng tôi xin kiến nghị ba giải pháp lớn sau đây, vừa để
ngăn chặn xu hướng tha hóa, bước đầu khôi phục lại phẩm chất giáo dục
trên ba mặt: đạo đức, thực học, chuẩn mực, vừa để góp phần tiết kiệm,
chống lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư trong giáo dục.
Cải
thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương/thu
nhập, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với
trách nhiệm cao cả của mình.
Sự
thật, phần lớn giáo viên nay đã có mức sống không đến nỗi khó khăn như
cách đây mấy năm, thậm chí một bộ phận còn có thu nhập khá. Song cái
nghịch lý lương/thu nhập vẫn còn y nguyên, mà nguồn thu nhập bù lương
vẫn là nguyên nhân gây nhiều tiêu cực nhức nhối. Cần giải quyết vấn đề
này một cách minh bạch, qua việc chấn chỉnh quản lý tài chính ngay
trong nội bộ ngành giáo dục, rà soát lại để kiên quyết bỏ hay giảm bớt
mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm
lương đủ sống và là thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương,
đạo đức trong giáo dục.
Trong
các tính toán kế hoạch, hãy đặt vấn đề trước hết bảo đảm đồng lương hợp
lý cho mọi giáo viên và công nhân, viên chức trong ngành, sau đó mới xét
đến các khoản chi tiêu khác.
Nếu
ngân sách được cấp cộng các khoản thu khác (do đóng góp của dân, hay do
viện trợ, vay mượn quốc tế) không đủ thì mới xin bổ sung ở mức tối thiểu
cần thiết nhất. Làm như vậy không cần đợi giải pháp chung cho tất cả
các ngành, mà nhân đó còn có thể chống tham nhũng và lãng phí một cách
thiết thực hơn.
Theo
tính toán sơ bộ (4), nếu bỏ
đi những khoản chi không thật sự cần thiết (hội họp, thi đua hình thức,
thi dạy giỏi các kiểu, các khoản chi “nâng cao năng lực quản lý”,
v.v.) thì hoàn toàn có thể trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo để họ
sống được bằng tiền lương. Nếu cần Nhà Nước chi phụ thêm thì cũng chỉ
cần phụ thêm một khoản hoàn toàn trong khả năng hiện thực.
Ai
cũng hiểu đây là việc rất khó, vì tuy khả thi về điều kiện vật chất khách
quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại tư tưởng rất lớn, vì đụng chạm đến
những thói quen đã hình thành và cắm rễ quá lâu trong thời gian qua.
Song không làm bây giờ thì sẽ ngày càng khó hơn và có thể chẳng bao
giờ có hy vọng trả lại được lòng tự trọng cho giáo dục.
Dù
thế nào, trong khi chính sách đối với người thầy còn quá bất cập, nếu
chưa làm được gì để cho thầy, cô giáo an tâm thì không nên đưa ra sớm
quá những chủ trương gây thêm bất ổn lòng người, như cái tin vừa mới loan
báo trong bản dự thảo chiến lược: “xóa bỏ biên chế, chuyển sang hợp đồng
trong đội ngũ giáo viên”. Nếu đây chỉ là thực hiện một nghị định đã
có của Chính Phủ thì không nên đưa ra như một sáng kiến của ngành, mà
ngay trong trường hợp này cũng nên nghiên cứu cách thực hiện như thế
nào cho thích hợp với các đặc thù của giáo dục.
Trong
khi tiêu cực, tham nhũng còn nặng, mà đồng lương của giáo viên lại quá
thấp, việc xóa biên chế khó tạo nên được cạnh tranh lành mạnh mà còn
có thể gây thêm bất ổn, có hại nhiều hơn lợi. Ở một số nước phát triển,
mọi điều kiện đều thuận lợi hơn ta nhiều, mà chính sách này cũng chỉ
mới được đưa ra mấy năm gần đây đối với giảng viên đại học công lập
(và cũng không phải áp dụng đồng loạt cho mọi người) vì trong giáo dục
và khoa học không phải kiểu cạnh tranh nào cũng tốt cả.
Trong
giáo dục phổ thông càng nên thận trọng, vận dụng máy móc cơ chế thị trường
vào đây có thể đưa đến thảm họa. Sự cạnh tranh lành mạnh ở đây nên được
thực hiện chủ yếu qua khâu tuyển dụng, còn sau khi tuyển dụng thì điều
cần thiết là tạo điều kiện, môi trường, để giáo viên an tâm phục vụ,
vì khác với ở đại học, ngoài việc dạy chữ họ còn phải quan tâm đến
nhiều việc mà thiếu an tâm thì không thể làm tốt.
Cũng
như vậy, trong điều kiện quản lý và sử dụng cán bộ như hiện nay, chủ trương
để hiệu trưởng quyết định lương của giáo viên là một việc phiêu lưu,
có thể đẻ ra nhiều bất ổn, tiêu cực mới.
Trước
hết chúng ta hãy nên khiêm tốn làm những điều bình thường nhất mà ở mọi
nước văn minh đều đã thành nề nếp (ví dụ: bỏ độc quyền của Bộ về sách
giáo khoa), đồng thời cải cách và tăng cường hệ thống đào tạo và bồi dưỡng
giáo viên, để giúp cho giáo viên không những đủ năng lực truyền thụ
kiến thức mà còn có khả năng rèn luyện cho học sinh tư duy phê phán,
đầu óc sáng tạo và những kỹ năng mềm cần thiết trong đời sống hiện đại.
Đổi
mới căn bản việc học và thi ở THPT, khắc phục giáo dục đồng loạt và xóa
bỏ khổ dịch thi cử
Hiện
nay từ mẫu giáo đến THCS đã có hệ thống thực nghiệm giáo dục được xây
dựng từ gần ba mươi năm nay trên cơ sở những nghiên cứu khoa học nghiêm
túc, và đã hoạt động có hiệu quả trên nhiều vùng đất nước. Đã đến lúc
cần chính thức mở rộng thực hiện hệ thống đó trong cả nước. Đồng thời
để dần dần khôi phục lại thực học trong toàn bộ hệ thống giáo dục, cần
một giải pháp đột phá cho việc học và thi ở THPT. Có những lý do sau đây
để chọn THPT:
1)
THPT là cấp cuối của giáo dục phổ thông, chất lượng ở đây thể hiện chất
lượng toàn cấp, đồng thời là chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước
và du học ở nước ngoài; điều này rất quan trọng đối với việc đào tạo đại
học, cả trong nước và ngoài nước;
2)
việc học và thi ở THPT căng thẳng nhất trong cả hệ thống giáo dục, do
hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ quá tốn kém bất hợp lý,
giải quyết tốt khâu này chẳng những nâng cao thiết thực chất lượng học
tập mà còn xóa được một nguồn lãng phí lớn về nhân, tài, vật lực;
3)
trong cả đời người, tuổi 15-18 là giai đoạn dò dẫm con đường phát triển
về cả sinh lý, tâm lý, tình cảm, trí tuệ, là tuổi bắt đầu suy nghĩ về
tương lai nghề nghiệp, hình thành xu hướng, sở thích, ước mơ, hoài bão,
…, cho nên giáo dục THPT không tốt sẽ để lại cho từng cá nhân cũng
như cho cả xã hội dấu ấn nặng nề.
Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn. Lãng
phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không
qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng
lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm
đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ
thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS.
Trong
khi đó nếu tổ chức tốt hơn hệ thống giáo dục thì chỉ cần 12 năm học tập,
thêm một thời gian 6-12 tháng tập việc, cũng hoàn toàn đủ để có được một
văn hóa cơ bản và việc làm có nghề. Tình trạng đó vừa gây ra lãng phí
lớn cho xã hội vừa tạo tâm lý bất ổn cho thanh niên. Lãng phí lớn thư
hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc
hậu ở THPT gắn liền với nạn hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc
điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh
hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một
số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội.(5) Ngoài ra
chương trình và nội dung từng môn học quá cũ kỹ, chưa giúp rèn luyện
cho học sinh khả năng tự học, tự tìm kiếm kiến thức và sáng tạo.
Để
khắc phục những bất hợp lý trên cần cải cách việc học và thi trên cơ sở
tổ chức lại hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: trung học nghề,
hay trung học phổ thông, học xong nếu không học lên cao hơn (cao đẳng
hay đại học) được thì đều có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm
một việc làm có nghề. Theo hướng đó nên cấu trúc lại chương trình và
cách học ở THPT để “tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ trên cơ
sở bảo đảm một mặt bằng văn hóa chung thích hợp, đồng thời đủ mềm dẻo
để cho phép điều chỉnh những sự lựa chọn chưa phù hợp” (bản điều trần
2004, trang 5).
Cụ
thể là bãi bỏ cách phân ban cứng nhắc như hiện nay (6) để tổ chức
lại việc học ở THPT như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có
một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao,
theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa
chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều
chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Chỉ với cách học đó học sinh mới
không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học
quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến (như chương trình
toán THPT hiện nay có quá nhiều phần hoàn toàn không cần thiết sau
này cho đại đa số học sinh).
Hơn
nữa, về những môn hợp xu hướng sở thích thì có cơ hội được học đủ sâu
để đến khi tốt nghiệp THPT có đủ hiểu biết để tìm được việc làm có nghề,
và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp,
tiết kiệm thời gian.
Tuổi
15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá
nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm
cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở
THPT.
Đồng
thời với cách học, thì cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi. Trong
một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun)
ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng
bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và
thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học
môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc môn đó, phần đó,
đến cuối cấp không thi lại nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc
qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích kiểm tra trình độ văn hóa phổ
quát thu nhận được (giống như chất lượng lắp ráp các môđun).
Hơn
nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà
có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với
những ai muốn vào học ĐH, CĐ. Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả
lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST)
và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo
đặc biệt.
Với
cách học và thi ở THPT được tổ chức lại hợp lý, sẽ bỏ được kỳ thi THPT
tốn kém (tiết kiệm ít ra hàng nghìn tỉ đồng cho một kỳ thi), đồng thời
việc tuyển sinh cũng được hợp lý hóa để giảm bớt chi phí và đỡ căng
thẳng cho thí sinh. Chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước hay chất
lượng học sinh VN gửi đi du học các nước ngoài sẽ nhờ đó được nâng
cao đáng kể.
Xây
dựng mới một hay hai đại học đa ngành hiện đại, đạt các chuẩn mực
quốc tế về mọi mặt, làm hoa tiêu thúc đẩy toàn ngành đại học hội nhập
với thế giới
Mối
nguy hại của việc phát triển giáo dục bừa bãi bất chấp chuẩn mực đã quá
rõ khi hội nhập, buộc chúng ta phải thay đổi nhận thức và tìm mọi cách
khắc phục tình trạng đó. Song cái khó là vì đã bỏ qua chuẩn mực một
thời gian quá lâu, không chỉ trong giáo dục mà cả trong khoa học, nên
chúng ta rât thiếu những nhà quản lý thật sự am hiểu các chuẩn mực phát
triển giáo dục, khoa học hiện đại.
Thời gian qua cho thấy nhận thức của phần đông các nhà quản lý ở lĩnh
vực này có nhiều mặt phiến diện, xa thực tế, nói chung rất chủ quan trong
hàng loạt vấn đề quan trọng liên quan việc đào tạo tiến sĩ, công nhận
các chức vụ GS, PGS, đánh giá các công trình khoa học, đánh giá chất
lượng đại học nói chung.
Chỉ
xem trong vấn đề đại học đẳng cấp quốc tế, đại học thuộc top 200, cũng
đủ thấy rõ sự hiểu biết của cơ quan quản lý của chúng ta về giáo dục
đại học hiện đại trên thế giới còn quá thô sơ, quá xa thực tế. Trong
tình hình đó, khó có thể khắc phục tình trạng phát triển bừa bãi và
khó khôi phục được trật tự, chuẩn mực chỉ bằng công tác kiểm định và
xếp hạng. Bằng chứng là trong ba năm 2005-2008 đã tiêu tốn một số tiền
không nhỏ (gần 1,5 triệu Euro) cho dự án đảm bảo chất lượng đại học,
nhưng đến nay công tác này vẫn rất lúng túng chưa có kết quả gì rõ
ràng.
Cùng
với những khoản chi tiêu về khảo thí, các khoản chi tiêu về kiểm định
và xếp hạng đã ngốn hết bao nhiêu phần ngân sách và đã đưa lại những kết
quả gì thiết thực giải quyết vấn đề chất lượng đại học Việt Nam, có lẽ
đây là lúc cần nhìn lại tỉnh táo hơn trước khi lao vào những dự án đầu
tư mới.
Tốt
hơn nên tập trung cố gắng xây dựng cho mỗi bậc học, ở mỗi địa phương,
một số đơn vị thật sự đáp ứng các chuẩn mực, lấy đó làm hoa tiêu, cung
cấp kinh nghiệm phổ biến rộng dần ra.
Về giáo dục phổ thông, từ mẫu giáo đến
THCS đã có hệ thông thực nghiệm giáo dục, còn THPT thì sắp tới nên
xúc tiến từng bước đổi mới như trên đã nói. Riêng về đại học, vấn đề
phức tạp hơn, phải mất nhiều năm mới chấn chỉnh được tình trạng rối
ren hiện nay. Một mặt cần nâng cấp một số đại học lớn sẵn có, việc
này đòi hỏi phải có thời gian, vì nếu làm tốt cũng phải mất không ít
hơn mươi lăm năm mới có thể nâng được một đại học hiện có lên đẳng cấp
quốc tế (kinh nghiệm ĐHQG Hà Nội thành lập đã mười mấy năm rồi nhưng
còn kém xa các đại học loại tốt trong khu vực).
Mặt
khác, cần bắt tay xây dựng mới một hai đại học đa
ngành thật hiện đại, theo các chuẩn mực quốc tế, có tính chất
làm “hoa tiêu” cho toàn bộ công cuộc hiện đại hóa đại học. Ý kiến này
đã được đề xuất trong bản điều trần 2004, và đã được Thủ Tướng Phan Văn
Khải chấp thuận, nhưng đến nay chưa làm được bao nhiêu. Ngay đến quan
niệm cơ bản về mục tiêu “đại học đẳng cấp quốc tế” hay “đại học lọt
vào top 200 trên thế giới” hiện cũng còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng,
chưa xác định, chưa ổn. Với tác phong làm việc lề mề như vậy, chúng
ta dễ để vuột hết mọi cơ hội.
Để
hiểu rõ những việc cần làm, và làm như thế nào, điều đầu tiên là cần xác
định đúng đắn yêu cầu, chuẩn mực của một đại học “đẳng cấp quốc tế”. Còn
chuyện đại học thuộc top 200 thì xin đề nghị tạm gác lại, vì mục tiêu
quá mơ hồ hoặc không thực tế, dễ đánh lạc hướng cố gắng của chúng ta,
làm chúng ta sao nhãng những nhiệm vụ cần kíp, thiết thực khác.
Cũng
giống như khái niệm “chuyên gia tầm cỡ quốc tế” khái niệm “đại học đẳng
cấp quốc tế” tuy không thể định nghĩa hoàn toàn chặt chẽ, chính xác, nhưng
cũng không phải quá mập mờ, tùy tiện. Điều không may là chúng ta
không có nhiều chuyên gia tầm cỡ quốc tế, cho nên khái niệm đại học đẳng
cấp quốc tế dễ bị dung tục hóa.
Với
tình hình đó, dễ có quan niệm quá đơn giản về chuẩn mực một đại học đẳng
cấp quốc tế, nên dễ coi thường các khó khăn và dễ đặt mục tiêu xa vời,
thiếu thực tế. Cần xác định rõ một đại học đẳng cấp quốc tế là một đại
học đạt các chuẩn mực vào loại trung bình ở các nước phát triển về các
phương diện chủ yếu: cơ sở hạ tầng (khuôn viên, giảng đường, thư viện,
phòng thí nghiệm, sân vận động, ký túc xá, …), tỉ lệ giảng viên/sinh
viên, trình độ khoa học của tập thể giảng viên(7), trình độ
sinh viên nhập học, trình độ sinh viên tốt nghiệp và thành tựu trong
công tác của họ khi vào đời, thành tựu khoa học của từng cá nhân và của
cả tập thể giảng viên trong mươi năm gần đây nhất, mức độ hợp tác quốc
tế, mức độ tham gia của tập thể giảng viên vào các hoạt động học thuật
quốc tế (tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, …).
Hơn
nữa, về mỗi chuyên ngành phải có ít ra 3-4 chuyên gia tầm cỡ quốc
tế làm nòng cốt (8). Như vậy ngay
một lúc không thể xây dựng hết tất cả các khoa (chuyên ngành) mà lúc
đầu chỉ nên mở một số ít chuyên ngành lựa chọn rồi sau mở rộng dần.
Điều quan trọng là mở ngành nào nhất thiết đều phải hội đủ tiêu chuẩn
quốc tế một cách nghiêm túc. Ban đầu có thể chỉ có cấp thạc sĩ, tiến
sĩ, sau đó dần dần có cả cấp cử nhân, kỹ sư. Quy mô ban đầu có thể chỉ
cần mấy trăm sinh viên, rồi tăng dần đến khoảng 10 nghìn. Chỉ nên tập
trung khả năng và phương tiện xây dựng một hai đại học đẳng cấp quốc
tế từ nay đến 2020. Không nên tham vì nếu thất bại một lần thì không
chỉ lãng phí tiền của mà còn gây khó khăn về sau.
- GS
Hoàng Tụy - Viện Nghiên cứu phát triển IDS
1)
Một số biện pháp quản lý doanh nghiệp trong cơ thế thị trường có thể
vận dụng vào quản lý các đại học để nâng cao hiệu quả hoạt động,
nhưng phần lớn các biện pháp đó cũng đòi hỏi một môi trường giáo dục
lành mạnh mà ta chưa có và chưa thể có trong mấy năm tới. Quan điểm 5
này quá ngây thơ.
1*) Ví dù có thông tin dự báo chính xác thì do nguồn
lực có hạn, các chỉ tiêu đều phụ thuộc lẫn nhau, không dễ gì tính
toán khoa học được một kế hoạch khả thi theo dự báo đó. Còn nếu chỉ bấm
độn để tính toán thì càng xa thực tế.
(2)
“Bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử” sau hai năm chống có kết
quả bước đầu, nay đang có chiều hướng quay trở lại, như đã thấy rõ
qua kêt quả tổng kết các kỳ thi 2008.
(3) Theo tin http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818768/
(4) Theo “Đề án cải cách giáo dục” của
nhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam, đã dẫn.
(5) Sinh viên ta du học ở các nước ngoài thường học giỏi những
năm đầu, nhưng những năm sau, khi đòi hỏi sáng tạo và chủ động nhiều
hơn thì mau đuối sức. Nguyên do là lối học nhồi nhét ở THPT trong nước
đã làm họ mệt mỏi, không bền sức, kém chủ động, sáng tạo khi lên học
đại học. Trong nước, có hiện tượng nhiều sinh viên khi lên đại học
không chăm chỉ, say sưa học tập như lúc ở THPT, một phần do cách dạy ở
đại học nhưng phần khác cũng do những năm ở THPT đã phải cố gắng quá
sức.
(6) Cách phân ban từ 2007 đến nay tuy có mềm dẽo hơn trước (nhờ
có ban cơ bản) nhưng vẫn còn rất cứng nhắc đối với hai ban KHTN và
KHXH và không hiệu quả đối với ban cơ bản.
(7) Để tham khảo có thể lấy ví dụ về chuyên ngành toán: nói
chung (không kể ngoại lệ) trợ giảng phải là tiến sĩ giỏi, có ít nhất
5-7 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín trong
chuyên ngành, PGS đã từng là trợ giảng giỏi khoảng 5 năm, có ít nhất
15-20 công trình, GS đã từng là PGS giỏi, có khoảng 30-40 công trình.
Đó là nói về định lượng, còn phải xét định tính từng trường hợp cụ thể,
dựa trên sự thẩm định khách quan của các chuyên gia giỏi trong chuyên
ngành.
(8) Chuyên gia tầm cỡ quốc tế được hiểu là người có uy tín quốc
tế trong chuyên ngành của mình. Trái với quan niệm phổ biến hiện nay,
ta hiện chưa có nhiều chuyên gia như vậy trong từng chuyên ngành. Nhiều
nhà khoa học trong nước rất nổi tiếng rồi được coi như chuyên gia tầm
cỡ quốc tế, nhưng tên tuổi trên quốc tế lại ít được biết đến. Dù
không có tiêu chí thật chính xác, nhưng một chuyên gia tầm cỡ quốc tế
phải có những thành tựu khoa học được biết đến rộng rãi trong cộng đồng
quốc tế về chuyên ngành đó, thể hiện ở mức độ được trích dẫn trên các
tạp chí quốc tế.
|