|
(VietNamNet) - Trong 150 phút, tại
hai đầu cầu Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, các
chuyên gia Phạm Chi Lan, người rất tâm huyết
với phát triển DN Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn
Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát
triển IDS, Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long, giảng
viên môn Lịch sử, ĐH Maine, Mỹ đă cùng nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn xới lên những vấn
đề trăn trở trong năm qua và cần
được giải quyết trong năm 2008. Từ
câu chuyện b́nh đẳng giữa DN tư nhân và DN
nhà nước, giáo dục đào tạo, thu hút và sử
dụng người tài, cải cách hành chính, chiến
lược công nghệ quốc gia, xây dựng và ǵn
giữ bản sắc, cá tính dân tộc đến câu
chuyện về một vị thế mới trên
tư cách thành viên HĐBA Liên Hợp Quốc đă
được bàn thảo.
VietNamNet lược
thuật cuộc bàn tṛn trực tuyến chiều
27/12.
Công bằng
DN: Cần cải cách triệt để từ tư
duy
Chiếm 25% câu
hỏi bạn đọc gửi đến, vấn
đề b́nh đẳng thực sự giữa DN
Nhà nước và DN tư nhân đă được các
chuyên gia kinh tế cùng mổ xẻ. Theo bà Phạm Chi
Lan, người rất tâm huyết với phát triển
DN tư nhân, trong những năm qua, Nhà nước
đă có những cố gắng tạo môi trường
b́nh đẳng giữa DN nhà nước và tư nhân,
với Luật Đầu tư và Luật DN.
|

|
|
Trực tuyến tại
đầu cầu Hà Nội.
|
Tuy tư tưởng
lănh đạo và hệ thống pháp lư là như vậy
nhưng thực tế, Việt Nam sẽ c̣n mất một
chặng đường nữa. Riêng về pháp lư, tất
cả các thiết chế thực hiện luật cần
cải thiện nhiều, đặc biệt chính sách
kinh tế cụ thể. Hiện nay, trong định
hướng phát triển của các ngành cơ bản,
chủ trương đầu tư của nhà nước,
hướng sự tham gia mức độ nào của
các DN đều có sự bất b́nh đẳng, bà
Lan nói.
|
Cần cảnh
báo nghiêm túc và khẩn thiết về lạm phát
Lạm phát và
tăng trưởng đang là vấn đề hết
sức nóng bỏng. Có lẽ Việt Nam vẫn
hơi chủ quan về vấn đề lạm
phát, đặt tăng trưởng là ưu tiên hàng
đầu. Chính phủ cũng đăt mục
tiêu 9% tăng trưởng 2008, lạm phát dưới
mức tăng trưởng. Cần xem xét hết sức
cẩn trọng chuyện này, v́ lạm phát năm
nay, theo Tổng cục thống kê, chỉ số giá
tiêu dùng so với tháng 12 năm 2006 tăng hơn 12%.
Nếu so với trung b́nh năm ngoái, tăng 8,3% <
8,44% tăng trưởng GDP. Xem đó là một thành
công.
Năm 2007 là
1 trong 4 năm con số tháng 12 năm nay so với
năm trước là 2 con số. Tăng 20% về
thực phẩm, lương thực 15%... những
con số mệt mỏi, đánh trực tiếp vào
người thu nhập thấp. Không cẩn trọng,
có thể gây rất nhiều vấn đề.
Nếu lạm
phát vượt qua ngưỡng nhất đinh, sẽ
có thể vào ṿng xoáy. Nếu ṿng xoáy chuyển động,
dù hùng mạnh thế nào cũng chỉ có thể
đứng nh́n. Không thể đặt mục tiêu lạm
phát dưới tăng trưởng kinh tế là tốt
mà nếu tính năm nay tăng 8,3% th́ đặt 4,3%
so với trung b́nh, 6% so với tháng 12 năm trước.
Nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ là giảm
lạm phát. cần cảnh báo Chính phủ nghiêm túc.
Lạm phát có thể làm tiêu tan sự phát triển
trong 20 năm qua chỉ trong 1-2 năm thậm chí
trong 6 tháng.
(Tiến sỹ Nguyễn Quang A)
|
Sự mất cân bằng thứ
hai là phân bổ nguồn lực. Đây là điều
đáng lo ngại nhất. Thể chế, môi trường
kinh doanh chắc chắn sẽ tiếp tục
được cải thiện, phù hợp với cam
kết quốc tế. Nhưng phân bổ nguồn lực
vẫn c̣n thiên vị, hoàn toàn phụ thuộc vào câu
chuyện nội bộ. Sự bất b́nh đẳng,
rào cản vẫn biểu hiện rất cụ thể
đối với các DN.
Bà Phạm Chi Lan dẫn chứng số
liệu do ông Hồ Xuân Hùng, Phó ban Đổi mới
DN Chính phủ đưa ra năm 2006, hơn 2000 DN nhà nước nắm giữ
hơn 70% nguồn lực, vốn đầu tư của
Nhà nước 50%, vốn ngân hàng 60%, vốn ODA 70%
trong tay các DN Nhà nước. Đất
đai đến 70%. Con người, công nghệ, thị
trường và quyền kinh doanh đều ưu tiên
cho DN Nhà nước. Điều này gây khó
khăn cho DN vừa và nhỏ, hàng vạn, thậm chí
hàng triệu DN chia nhau nguồn lực nhỏ bé, khó khăn cho phát triển. Trong khi
đó, hiệu quả của DNNN
không cao, kéo theo sự hạn chế của toàn
bộ nền kinh tế hoạt động. Nhà
nước bù đắp chính bằng tiền thuế,
mồ hôi nước mắt của người nông
dân trên đồng ruộng. Người dân trở
thành người lănh đủ. Đất nước
khó cạnh tranh, phát triển.
|

|
|
Tiến
sĩ Nguyễn Quang A: Sự không b́nh đẳng c̣n
nằm trong đầu óc những người ra quyết
định.
|
Chia sẻ cách nh́n này, Tiến
sĩ Nguyễn Quang A cho rằng,
trên thực tế, từ trước và đến
giờ không có b́nh đẳng. Câu chuyện b́nh
đẳng DN cần nhiều công sức, thời
gian, không đơn giản chỉ là đưa ra một
luật.
Ông nhấn mạnh, "sự
không b́nh đẳng ấy nằm ở trong đầu
óc của những người ra quyết định
rất lớn".
Nhiều người nghĩ đó
là DN nhà nước, chắc chắn Nhà nước phải
hỗ trợ này khác. Chừng nào chưa thật
thoáng trong tư duy, th́ c̣n rất khó, không chỉ là nguồn
lực mà c̣n nhiều nhân tố khác. Ví dụ như vấn
đề tín dụng, nguồn lực quan trọng là
vốn. Đầu tư của nhà nước dồn
cho họ mà cả khoản vay của Nhà nước
cũng dồn cho họ. Hơn 20 năm qua, nhà nước
mệt mỏi trong việc giải quyết nợ của
DNNN với hàng chục tỷ đồng.
"Chừng nào không có thay đổi
tư duy tận gốc rễ, có giải quyết tạm
vài năm th́ c̣n chưa giải quyết. Chừng nào
ràng buộc ngân sách c̣n mềm, không bị ràng buộc
cứng như tư nhân, chừng ấy, hiện
tượng kém hiệu quả, kêu gào tiếp cận
bầu sữa ngân sách nhà nước vẫn c̣n là chuyện
khó giải".
TS. Nguyễn Quang A phân tích, việc
b́nh đẳng DN chỉ làm được khi quá
tŕnh cổ phần hoá, chuyển đổi DN quốc
doanh thực hiện tốt, thiết thực hơn
nữa. Nhiều DN, lĩnh vực
Nhà nước không cần phải giữ bao nhiêu
nhưng trên thực tế, có cổ phần hoá DN,
h́nh thức, Nhà nước vẫn chiếm 80%. Muốn
thực sự cải thiện t́nh h́nh, việc cải
tổ, sắp xếp lại khu vực kinh tế
tư nhân là quan trọng.
Hiện Việt Nam
đang tiến hành chuyện cổ phần hoá,
nhưng cần cổ phần hoá triệt để.
Cổ phần hoá mà vẫn giữ một phần
ưu thế th́ không giải quyết được
ǵ. Cần phải kiên quyết thiết
chặt kỷ luật tài chính, có ràng buộc ngân sách
cứng hơn. Có như thế mặt bằng cạnh
tranh thực sự mới ngang bằng với nhau.
"Tư duy quản lư,
tư duy cải tổ cần thay đổi triệt
để".
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn đặt
vấn đề: Nói thay đổi tư duy c̣n chung
chung quá. Cụ thể là phải thay đổi tư
duy ǵ, như thế nào? TS. Nguyễn Quang A cho rằng,
thay đổi tư duy phải bằng thực tế,
sờ mó được, chứ không phải nói không
và thực tế làm ngược lại. Hiện nay, Việt Nam chỉ đổi
mới tư duy trên lời nói chứ không phải là
đổi mới tư duy thực sự.
Không tham vọng đưa ra những
kiến nghị cụ thể, nhưng Viện Nghiên
cứu phát triển sẽ thẳng thắn nêu những
hiện tượng, căn bệnh được
cho là nền kinh tế đang phải
đương đầu và đưa ra khuyến
nghị. Ví dụ với phân bổ quyền lực,
từ chuyện 1 tập đoàn theo quy định của
NHNN, cho một khách hàng không được vay quá 15%
dư nợ tín dụng của họ, nhưng lại
có ai đó bật đèn xanh được làm. Thực
tế và những ǵ ghi trên giấy là có vấn đề.
Viện sẽ nêu thẳng thắn và khuyến nghị
sự thay đổi.
Sức cạnh tranh của mở
cửa gấp 10 lần mệnh lệnh
|

|
|
Bà
Phạm Chi Lan: B́nh đẳng thực sự giữa
DNNN và tư nhân c̣n mất một chặng đường
dài nữa.
|
Trước ư kiến của
bạn Hồ Viết Hoàng (Hà Nội): Phải
chăng Nhà nước nên có yêu cầu, sức ép cụ
thể đối với DNNN, buộc họ hoạt
động hiệu quả hơn, bà Phạm Chi Lan
cho rằng, yêu cầu đầu tiên là tính công khai
minh bạch.
2 lần Kiểm toán Nhà nước
đưa ra công bố, tuy không đầy đủ
nhưng vài con số đă đủ gây giật ḿnh. Các con số chứng
minh phần lớn DNNN lỗ lớn, tỉ suất
rất thấp so với bên ngoài. Những cái
đó cần minh bạch hơn, công bố rộng
răi hơn với DN. Khi đó, phía cơ quan quản lư
nh́n rơ yếu kém của DN, tăng kiểm soát và trách
nhiệm. C̣n bản thân DN thấy rơ bức tranh thực,
không ảo tưởng. Chính các DNNN cần nhớ họ
được giao trọng trách với những ngành
then chốt. Đồng thời, những con số
giúp xă hội có cách nh́n đầy đủ về thực
tế, đảm bảo làm tốt hơn.
Chưa cần đặt ra yêu cầu,
sức ép ǵ lớn, các DN cần đạt tiêu chí tối
thiểu là tính minh bạch trong hoạt động,
bà Lan nói.
Tiến sĩ Quang A bổ sung, xét
trên một góc độ, bản thân toàn bộ công dân
Việt Nam
là chủ của DN quốc doanh. Ông chủ phải có
quyền đ̣i xem DN hoạt động như thế
nào.
Mặt khác, dù Nhà nước có
đ̣i họ có ǵ chăng nữa th́ chỉ chừng
nào họ buộc phải làm mới mong có sự thay
đổi. Chừng nào họ được ưu
ái như đứa trẻ con được nuông chiều,
không thể lớn được. Nhà nước phải
để các DN có thể bị thua lỗ, phá sản
nếu không có đủ khả năng, buộc nó phải
cạnh tranh khốc liệt với môi trường
quốc tế và trong nước. Trong toàn cầu hoá,
DN buộc phải xen vào một vài khâu mạnh nhất
trong chuỗi cung toàn cầu này. Cách làm co lại, từ
A đến Z, tạo độc quyền trong thế
giới này là không phù hợp.
Nhà nước có yêu cầu DN tạo
thương hiệu cũng không thể làm được.
Đó phải là quá tŕnh dần dần, nhảy xuống
sông, xuống biển, tập bơi, nổi lên giành
điểm mạnh, điểm hơn mới đạt
được.
Cách để DNNN cạnh tranh thực
sự là phải mở cửa. Sức cạnh
tranh của mở cửa c̣n mạnh hơn 10 lần
lệnh từ trên xuống là phải làm này, làm nọ.
Việc sợ mở cửa sẽ khiến DN yếu
chết, nhưng thực ra càng khép cửa, DN càng yếu,
càng chết bấy nhiêu.
"Phải làm sao để DNNN thực
sự tự chủ, xiết chặt kỷ luật
tài chính của nó, buộc nó minh bạch, cạnh tranh
khốc liệt trên thị trường", đó
là giải pháp mà TS. Nguyễn Quang A đưa ra.
Theo bà Phạm Chi Lan, song song với
việc này, Nhà nước cần khuyến khích sự
tham gia của DN dân doanh. DN dân doanh Việt Nam
hiện đă đủ mạnh, miễn là Nhà nước
để cho họ làm và tạo điều kiện
cho họ.
Cải cách giáo dục: cẩn trọng
nhưng không thể đợi lâu
Cải tổ giáo dục không thể
chậm trễ hơn nữa, đặc biệt
trong giáo dục ĐH. Một bạn đọc đặt
vấn đề, giáo dục Việt Nam cần cải tổ
như thế nào trong khi bản thân giáo viên chưa
đủ chất lượng?
|

|
|
GS Ngô Vĩnh
Long: Việt Nam
vừa phải rà soát để có biện pháp tức
thời, gần như chữa cháy nhưng cũng
phải tính giải pháp lâu dài để cải tổ
toàn bộ hệ thống giáo dục.
|
Theo Giáo sư Ngô Vĩnh Long, cải
cách giáo dục cần qua nghiên cứu kỹ lưỡng,
tính toán cẩn trọng, làm thí điểm. Sẽ rất
khó nếu làm tràn lan. Ví dụ, có thể thí điểm
bỏ một số môn học. Từ kinh nghiệm
các nước, học sinh chỉ học 6-8 môn là
cùng, không nên học tới 20 môn như hiện nay. Áp
lực học tập với các em hiện nay quá lớn.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A chia sẻ
bài toán giáo dục rất phức tạp và khó, cần
nghiên cứu thấu đáo, t́m biện pháp khả thi
thực hiện được ngay, cần kế hoạch
dài để làm. Cải cách giáo dục không thể
tính 1-2 năm mà giải quyết được. Thậm
chí, không thể vài ba hay năm năm v́ hệ thống
rất lớn, phức tạp, làm không khéo rất rắc
rối.
Cải cách giáo dục đụng
đến hàng chục triệu con người nên phải
làm hết sức thận trọng. Việt Nam vừa
phải rà soát lại xem có biện pháp tức thời,
gần như chữa cháy đáp ứng yêu cầu
trước mắt của DN, đồng thời,
tính giải pháp lâu dài để cải tổ toàn bộ
hệ thống giáo dục.
Ví dụ, một mặt, ngành
ĐH và dạy nghề, trong vài ba năm có thể
chuyển ngay thành người lao động, do
đó, cần hướng dạy nghề nên tập
trung hơn và mở rộng tiếp cận thị
trường, để tư nhân, nước ngoài
tham gia đào tạo, huấn luyện công nhân kỹ
thuật nhanh chóng, để học sinh trong vài
năm có thể bổ sung kỹ năng cần thiết
cho lực lượng lao động. Việt Nam
có thể cải tiến sớm chuyện về
ĐH, v́ sau 4 năm có thể đổi toàn bộ hệ
thống.
Bà Phạm Chi Lan lại cho rằng,
đây là chuyện bức xúc của toàn xă hội,
được quan tâm không chỉ của người
lớn mà cả trẻ em. "Cháu nội tôi 10 tuổi
c̣n bức xúc v́ áp lực lớn trong học hành".
"Xă hội không thể đợi
quá lâu như vậy, v́ cọ xát đang đến
càng ngày càng dồn dập, là bức xúc trước mắt",
bà Lan nhấn mạnh. Bà cho rằng, có những việc
có thể giải quyết ngay được, như
chuyện giảm tải ở trường phổ
thông. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói khi
làm, người lớn khi làm, cần có thể tra cứu,
tại sao trẻ nhỏ lại phải học thuộc
tất cả mọi thứ. Trẻ con từ cấp
1 đă phải quá vất vả với chương
tŕnh học. Nh́n các nước xung quanh, nhiều
người đi học bên ngoài, nhiều thứ
chúng ta học thừa so với nước ngoài. Để
các cháu tập trng học những ǵ cần, tập
thói quen ham học. Hiện nay, giáo dục gây tâm lư sợ
đến trường cho các em nhiều hơn. Cái
đó có thể làm được ngay cũng không quá
khó.
"Nếu đợi để
ra giải pháp th́ quá trễ, quá muộn cho nền kinh
tế".
Tiến sĩ Nguyễn Quang A dẫn
lời ông Phạm Toàn cho rằng, trẻ em Nhật Bản,
Trung Quốc học 5-7 năm mới học thông, viết
thạo, nhưng Việt Nam 1-1,5 năm, thậm chí 6
tháng đọc thông viết thạo. Tại sao Việt
Nam
lại cần học 12 năm phổ thông? Nếu có
thể, chúng ta vừa tiết kiệm được
vài năm, làm những việc có ích hơn.
Nguồn nhân lực: Nói nhiều
nhưng làm chưa nhiều
Song song với câu chuyện giáo dục,
vấn đề khai thác và sử dụng nguồn lực
quốc gia, đặc biệt là con người
được thảo luận chi tiết tại buổi
trực tuyến. Bà Phạm Chi Lan cho rằng, đây
thực sự là nút quan trọng nếu chúng ta muốn
phát triển tiếp.
Tầm quan trọng của nguồn
nhân lực, quan điểm lấy con người là
trung tâm được nói nhiều, nhưng thực tế
việc làm được chưa nhiều, chưa
như mong muốn.
Vấn đề nổi lên nhất
năm 2007 chính là thiếu hụt nguồn nhân lực
có chất lượng trong tất cả các ngành, lĩnh
vực và cấp, từ quản trị nhà nước,
quản trị DN, quản trị trường học…
đến nguồn lao động có kỹ năng. Thiếu
hụt của 2007 cho thấy rơ những năm qua
chúng ta nói nhiều nhưng chưa có những việc
làm cần thiết cụ thể để giải
quyết.
Theo bà Lan, Cái chốt không chỉ là
giáo dục đào tạo mà là tuyển dụng và sử
dụng. Hiện c̣n nhiều bất cập, đặc
biệt là chưa minh bạch về chuẩn mực.
Thời gian qua, trong cải cách hành
chính tập trung sắp xếp bộ máy, nhưng con
người - vấn đề cốt lơi lại
chưa được đụng chạm đến
bao nhiêu. Bộ máy nhà nước cần cải thiện
nhiều nhất. Đối với DN tư nhân, họ
buộc cạnh tranh, phải lựa chọn người
thực sự có năng lực.
Với hơn 80 triệu dân, 40 triệu
lao động, số người giỏi không thiếu,
vấn đề là nhà nước có tuyển dụng,
sử dụng thích đáng hay không. Có chế độ
đích đáng, người lao động làm việc
tốt hơn, đồng thời thúc đẩy
người trẻ học thực, làm việc thực.
Việc này cũng sẽ thúc đẩy giáo dục
đào tạo đến nơi đến chốn, sản
phẩm đưa ra được xă hội thừa
nhận.
Theo Tiến sĩ Nguyễn
Quang A, trong khu vực nhà nước, người ta vẫn
nói nhân lực là quan trọng nhưng không làm như vậy.
Tiêu chí để chọn không phải chọn người
có năng lực, người tài mà chọn theo tiêu
chí ǵ, không cần nói ra nhưng ai cũng biết.
Chuyện nguồn nhân lực theo
ông là cái lo của Nhà nước. "Đó là căn
bệnh trầm kha của Nhà nước". Theo
ông, nguyên tắc cơ bản trong quản trị nhân
sự giống nhau, dù nhà nước hay tư nhân. Nguyên
tắc chung là giống, nhưng quy định cụ
thể lại tạo khuyến khích ngược
để học giả bằng thật, mua bằng,
chạy chọt phát triển lên.
Giải pháp để giải quyết
vấn đề này không khó, nhưng phải thực
sự đổi mới tư duy. Đổi mới
tư duy nhưng có làm hay không là chuyện mấu chốt.
Cách hay nhất là nhà nước nên bỏ một số
tiền không nhỏ để cải tổ thực
sự vấn đề này, chọn đúng được
người, có được quy tŕnh rạch ṛi về
tuyển chọn, bằng cấp chỉ là tham khảo,
có quy tŕnh cất nhắc từng người, kết
quả minh bạch, dựa trên kết quả công việc
cụ thể. Nó là một thủ tục minh bạch,
bàn dân thiên hạ đều biết cả.
Chuyện chương tŕnh Fulbright
là một ví dụ của chất lượng đào
tạo và câu chuyện sử dụng người. Theo
bà Phạm Chi Lan, những người học
chương tŕnh Fulbright chưa được cấp
bằng chính thức, nhưng về cơ quan phát huy
rất tốt, được cơ quan đánh giá có
chất lượng. Mô h́nh phối hợp như vậy
cần học hỏi và nhân rộng ra. Coi trọng chất
lượng người được đào tạo.
C̣n văn bằng ǵ th́ ở Việt Nam có nghịch lư là
không thiếu văn bằng ǵ nhưng không biết
sâu chuyên môn. Những người này, theo bà, "không
chỉ khu vực tư mà cả khu vực công cũng
không thể sử dụng được".
Giáo sư Ngô Vĩnh Long lại cho
rằng, t́m người có kỹ năng đă khó
nhưng quan trọng là cho những người này
cơ hội để thể hiện ḿnh. Trong công
việc, kỹ năng là quan trọng chứ không phải
là tấm bằng. Thị trường sẽ là
người tuyển chọn và đào thải người
lao động.
Bà Chi Lan chia sẻ cảm nhận
không phải Việt Nam không có người
giỏi, kể cả với hệ thống tuyển
dụng hiện nay. Đoàn đàm phán WTO là một
điển h́nh, ngay cả Pascal Lamy đă khen ngợi.
Chúng ta có người giỏi trong bộ máy. Nhưng
nhà nước phát triển kinh tế không chỉ dựa
vào bộ máy của ḿnh, mà cần cho toàn dân hiểu bộ
máy của ḿnh. Phát triển kinh tế gắn với
vận mệnh của từng người dân, do
đó cần huy động toàn dân, sẽ có đội
ngũ chuyên gia rộng răi, không chỉ trong bộ máy.
Cũng cần tạo điều
kiện cho họ phát huy hơn nữa trí tuệ trong
bộ máy của ḿnh.
Tham gia HĐBA: c̣n là câu chuyện
đối nội
2008, Việt Nam trở thành thành
viên không thường trực HĐBA Liên Hợp Quốc.
Cùng thời gian đó, Việt Nam
sẽ có 6 tháng là chủ tịch HĐBA. Theo Giáo
sư Ngô Vĩnh Long Việt Nam phải đưa ra sắp
xếp hợp lư, để có thể giải quyết
các vấn đề lớn trên thế giới,
tăng vị thế Việt Nam, tại HĐBA và
trên thế giới.
"Phải nghiên cứu kỹ những
vấn đề liên quan đến HĐBA, không chỉ
an ninh ḥa b́nh mà c̣n nhiều vấn
đề lớn khác như an toàn con người,
trong đó có quyền con người. Theo GS. Ngô Vĩnh
Long, tất cả các nước đều nghiên cứu,
đưa ra những lợi ích ở HĐBA để
có thể tranh căi vấn đề một cách dễ
dàng. Không thể đợi vấn đề
đưa lên, đợi ư kiến thảo luận
trong nước mới đưa ra bàn luận. Việc
đó sẽ khó cho Việt Nam.
"Vấn đề lớn không
phải là thế giới làm khó cho chúng ta. Vấn
đề là trong nước thống nhất với
nhau, và trao cho các các cơ quan đại diện ở
nước ngoài như thế này, tại ASEAN,
HĐBA, có thể quyết định tin cậy ngay
tại chỗ".
Chia sẻ góc nh́n về vị thế
mới này, bà Phạm Chi Lan cho rằng, tham gia HĐBA
trong bối cảnh thế giới đang biến
động và thay đổi sâu sắc, Việt Nam phải
tự trang bị cho ḿnh hiểu biết và nghiên cứu
đầy đủ, vững chắc về các vấn
đề lớn trên thế giới. Đặc biệt
vấn đề khu vực, vấn đề an ninh,
sức ép của mối quan hệ với nhiều
cường quốc trên thế giới muốn có vị
trí, đ̣i Việt Nam có bản lĩnh tốt hơn,
đóng vai tṛ tích cực trong các vấn đề khu
vực và toàn cầu.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A,
với vai tṛ này, nếu Việt Nam ứng xử một
cách khéo và chững chạc, uy tín của Việt Nam sẽ
lên rất cao nhưng làm không khéo sẽ rất tai tiếng.
Ví dụ, xảy ra vấn đề ǵ trên thế giới,
là chủ tịch HĐBA nhưng Việt Nam không
để ư đến, mà đợi sức ép của
ai đó mới lên tiếng.
Việt Nam cần chủ
động hơn. Đây là việc không đơn giản
nhưng phải rất bản lĩnh trong ứng xử
như một đối tác đường hoàng trong
thế giới ngày nay.
Hơn nữa, theo ông Quang A, Việt
Nam cần đặt vấn đề ứng xử
với thế giới, và với trong nước
như thế nào, kể cả những chuyện
như với DN trong nước, nước ngoài,
giáo dục đào tạo và những câu chuyện nhạy
cảm khác. Đó là cơ hội thể hiện
tư thế của ḿnh.
"Việt Nam có thể làm
được rất nhiều thứ trong câu chuyện
đối nội của ḿnh, đồng thời thể
hiện được vai tṛ của ḿnh tại
LHQ".
Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói thêm, nhiều
nước trên thế giới, nhất là nước
lớn đang chờ xem các hành động của Việt
Nam
như thế nào hiện nay. Nhiều lần, sau khi
vào ASEAN, nước lớn quan sát Việt Nam, thử xem phản ứng
của Việt Nam
như thế nào. Ngày nay vào HBĐA, "nắn
gân" xem phản ứng ra sao, xem họ có thể ép
ta như thế nào.
Vấn đề đặt ra với
Việt Nam
không chỉ đối ngoại mà cả đối nội,
v́ đối nội hỗ trợ đối ngoại.
Cư xử không tốt, không thức thời về
một vấn đề nào đó, nước ngoài có
thể đánh giá bản lĩnh của ta.
Vào HĐBA, vận hội
lớn nhưng nếu không tận dụng t́nh h́nh,
tăng uy tín Việt Nam, mở cửa ra thế giới,
mở rộng xă hội Việt Nam, chúng ta có thể
sẽ mất uy tín về sau. Chưa
bao giờ trong lịch sử Việt Nam có vận hội
lớn như thế này, đặc biệt từ
1945 đến nay. Nhưng nếu ta làm không khéo, h́nh ảnh
Việt Nam
sẽ không tốt. Đây là vấn đề 1-2
năm tới có tác động lớn. Nhưng cũng
là vấn đề lâu dài mai sau. Làm không tốt,
người lớn không chỉ làm mất cơ hội
của hiện nay mà làm mất cơ hội cho mai sau
nếu không làm tốt. Cái giá phải trả sẽ rất
đắt.
Năm đột phá về cải
cách hành chính chưa tạo được đột
phá
Năm 2007 được xem là
năm đột phá về cải cách hành chính của
Việt Nam, tuy nhiên, theo bà Phạm Chi Lan, năm qua, nền
hành chính Việt Nam vẫn chưa có đột phá
đáng kể. Việc cải cách hành chính có tiến
độ chậm chạp, tác động hạn chế.
"Không thể để ghi nhận
măi là khâu đột phá nhưng thực tế vẫn
chưa có đột phá ǵ trong bản thân nó, chưa
nói đến tác động đột phát lên toàn xă
hội".
Không ai tự đập
niêu cơm của ḿnh, chờ bộ máy tự chuyển
động tất cả rất khó khăn. Để
làm tốt hơn, cần tăng thêm giám sát, tham gia của
người dân để làm thực sự hiệu
quả.
Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng và các lănh đạo dù quyết liệt, kêu gọi
sự tham gia giám sát rộng răi, nhưng vẫn chủ
yếu dừng ở lời kêu gọi của người
đứng đầu Chính phủ. Theo bà Lan, lời
kêu gọi, ư tưởng của Thủ tướng
chưa thấm xuống cấp dưới. Trong khi đó, để có sự thay
đổi, bản thân Bộ máy của Thủ tướng
cần phải làm thấm những điều
đó. Đây là điều Việt Nam chưa làm
được.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn đặt
vấn đề, lănh đạo rất nhiệt huyết,
đưa chỉ đạo quyết liệt cho cấp
dưới. Tuy nhiên, có những cái mục tiêu chưa
hoàn thành đúng thời hạn. Vấn đề nằm
ở con người hay cơ chế ở cấp
dưới? Bà Phạm Chi Lan cho rằng, cả con
người và cơ chế là nguyên nhân.
Mọi vấn đề phải
được xem xét theo tŕnh tự, phân cấp. Dù
đă phân cấp, nhưng lại phân công quá nhiều
người tham gia vào việc đó. Nhiều bộ
đưa ra hỏi ư kiến chung ở toàn cơ
quan, quần chúng tín nhiệm
người này nhưng cuối cùng phân công lại là
người khác. Dù kêu gọi sự đóng góp của
dân nhưng đóng góp không được tôn trọng,
người ta không tin và tham gia nữa.
Hiện nay, cơ chế của Việt
Nam
không rành mạch về phân cấp phân quyền. Nếu
Thủ tướng, bộ trưởng, lănh đạo
tỉnh có quyền nhận thấy công chức làm sai
th́ sẽ khác. Hiện nay, dù thấy công chức sai
nhưng lại cần tham vấn từ nhiều
cơ quan. Một người quyết liệt
nhưng nhiều người lại muốn dĩ
hoà vi quư khó làm được.
Theo bà Lan, vấn đề chính là
cần xem xét thanh danh, uy tín chung của Nhà nước,
không v́ một vài cá nhân mà ảnh hưởng đến
uy tín chung của cơ quan cầm quyền. Không cần
cơ quan điều tra t́m ra chứng cứ, nếu
là người bổ nhiệm, có thể đặt
người ta ra bên ngoài bộ máy, th́ ḷng tin sẽ
tăng.
TS. Nguyễn Quang A khá bi
quan với nhận định, cải cách hành chính mới
chỉ dừng ở quyết tâm, cách làm chưa
được để ư.
Cải cách hành chính có bài bản của
nó. Nếu có lập một ban hay cơ quan nào đấy
thực sự lo chuyện này th́ hay hơn, đầu
tiên rà soát Nhà nước chỉ nên làm việc ǵ? Việc
ǵ Nhà nước đang làm mà thực sự không nên
làm th́ phải chuyển giao cho xă hội dân sự và
tư nhân? Xác định việc ǵ Nhà nước nhất
định phải làm? Giải quyết như thế
nào? Đầu tiên là phải phân quyền rơ ràng. Các bộ
làm ǵ, địa phương làm ǵ. Khi phân quyền phải
phân luôn trách nhiệm, không có chuyện bên trên can thiệp
rất chi tiết. Có chuyện ở dưới không
làm được, đẩy lên, thậm chí lên tới
Thủ tướng. Ở trên cũng dứt khoát từ
chối việc ở dưới đẩy lên, phân
rơ chức năng mới tính chuyện làm như thế
nào cho hợp lư. Từ đó, đào tạo lại
đội ngũ công chức phù hợp với quy
định mới. Nếu làm bài bản như vậy,
cải thiện được thực tế, c̣n nếu
không, khó giải quyết được bài bản.
Các chuyên gia đều thống nhất,
cải cách hành chính là công việc cấp thiết,
ḍng chảy liên tục, không ngừng nghỉ, ngay cả
khi đă có được cơ chế và con người
lư tưởng nhất.
Quy hoạch đô thị: Chỉ cần
học kinh nghiệm láng giềng
Câu chuyện quy hoạch đô thị,
bảo vệ môi trường là vấn đề
nóng bỏng được xới lên tại buổi
trực tuyến. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng,
lăng phí lớn nhất là lăng phí trí tuệ, chất
xám. Làm ǵ quy hoạch sai th́ nhiều thế hệ gánh
chịu. Ví dụ, chuyện úng lụt của TP.HCM,
Hà Nội hay kẹt xe là chuyện đau đầu,
hoàn toàn do lỗi quy hoạch. Nếu ḍng chảy tự
nhiên nghiêng về phía biển, nếu xây dựng nhiều
khu dân cư gần biển, cản trở ḍng chảy
tự nhiên, tất nhiên… sẽ úng khi mưa.
Khu đô thị xây dựng 10
năm trước, tư duy đường ta rộng
thênh thang 8 thước c̣n sâu lắm. Chuyện quy hoạch
nóng bỏng, cần sự tham gia của nhiều
người, có thể góp ư được điều
ǵ đấy.
Nh́n vào dân số và diện tích, có
thể thấy rơ, Việt Nam có mật độ
cao nhất thế giới. Việt Nam đất chật,
người đông. Đáng lẽ, mặt bằng
đất là tài sản quư phải sử dụng cho
khéo. Nếu ta đứng cao, xa, nh́n dài hơn một
chút, có thể tránh được nhiều trục trặc
của bây giờ. Không chỉ tốn kém nguồn lực
tiền của đă đầu tư mà để sửa
chữa, đồng thời, cản trở chuyện
phát triển tiếp theo.
Theo bà Lan, điều cần chốt
nhất là tầm nh́n xa hơn, dài hơn. Trước
đây, chúng ta chỉ có kế hoạch 5 năm, chiến
lược, quy hoạch 10 năm. Ngay việc
đưa ra chiến lược biển 10 năm,
nhưng thực tế Việt Nam chỉ có có chuỗi
cảng biển lít nhít nhưng không có một cảng
đủ lớn.
Ta chưa đủ có đội
ngũ có tầm nh́n tốt th́ có thể học
như các nước, mời chuyên gia quốc tế
tư vấn. Trung Quốc mời chuyên gia Pháp sang quy
hoạch lại Hải Nam, dùng quy hoạch
cho nhiều năm sau. Việt Nam hoàn toàn có thể
áp dụng bài học này, huy động chất xám bên
ngoài.
Chỉ dựa vào những người
đang ngồi trên các ghế, được giao làm
hiện nay mà không đủ tŕnh độ, thế hệ
sau sẽ phải dọn dẹp những ǵ ḿnh để
lại. Hiện nay, bản thân thế hệ chúng ta cũng
đang phải dọn dẹp.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long tâm sự,
là người nghiên cứu Á Đông, ông thường
xuyên nhấn mạnh việc học bài học của
Thái Lan, Trung Quốc. Theo ông Long, người quy hoạch
đô thị, công tŕnh không cần học đâu xa, chỉ
cần học kinh nghiệm của các nước
láng giềng.
Từ trước đến
nay, quy hoạch bị xem là bí mật quốc gia, của
thành phố và bây giờ là bí mật của một
nhóm nào đấy, ông A phân tích. Quy hoạch có nhiều
tầng. Ở tầng lớn, chỉ là định
hướng, cần minh bạch những chuyện
đó, để nhiều người có thể góp. Nếu
không, bàn quy hoạch ở một số những
người đang có quyền chức, họ quyết
định mà người dân, kể cả giới
chuyên môn không biết được bao nhiêu, mà giả
sử có biết cũng chỉ nói vuốt đuôi v́
đă được tầng nấc phê duyệt.
Việt Nam cần thay đổi
cách làm, cách đặt vấn đề. Hiện nay,
dù Chính phủ nói lấy ư kiến nhân dân nhưng thực
tế đă quyết định trước đó
5-7 tháng. Điều đó là không nên.
Góp ư là một chuyện nhưng những người
có quyền quyết định ra quyết định
chính trị phải đưa quyết định,
nhưng có rồi phải cho người dân biết
để dựa vào đó mà làm việc. Có phản ứng
của giới chuyên môn, có thể làm được
điều ǵ đó tạo sự thay đổi.
Theo bà Lan, hiện nay, các viện của
Việt Nam
đang nghiên cứu đề xuất chiến lược
phát triển dài hạn. Theo bà, rất nên chiến
lược được đưa ra cần
được công bố rộng răi, lắng nghe quan
điểm của chuyên gia trong nước, nước
ngoài, nhân dân, để có chiến lược thống
nhất.
"Quyết định rồi
mới đưa ra hỏi ư kiến th́ quá chậm".
Trong chiến lược, theo bà
Lan, cần nêu tầm nh́n dài hạn hơn là
đưa ra con số cụ thể. Đưa ra con
số cụ thể, Việt Nam dễ bị lệ
thuộc, chạy theo nó. Nếu đạt được,
có thể chỉ là thành tích ảo, phụ thuộc
vào nó. Đồng thời, phải đặt Việt
Nam
trong bối cảnh khu vực và toàn cầu.
Theo bà Phạm Chi Lan, riêng 2008, tại
Hà Nội và TP. HCM, tất cả các dự án dư luận
đang bức xúc các thành phố này dừng ngay lập
tức, không tiếp tục. Ví dụ dự án biến Hồ Gươm thành một
cái ao... v́ sẽ là có tội với một quyết
định sai lầm với lịch sử. Vấn
đề dư luận có ư kiến phải quyết
ngay. Hà Nội và TP.HCM cần học hỏi Đà Nẵng
từ chối 2 dự án lớn v́
có nguy cơ ảnh hưởng môi trường. Nếu
làm sai th́ cần phải trả lại như cũ,
không để sự đă rồi và bỏ qua cho
nhau.
Chiến lược công nghệ quốc
gia: Không thể ngồi dưới đất mà
mơ tới trời
Trước vấn đề bạn
Đức Thắng, TP.HCM đặt ra về chiến
lược công nghệ quốc gia, Tiến sĩ Nguyễn
Quang A cho rằng, chiến lược công nghệ rất
mông lung. Nhà nước không nên có một chiến
lược như vậy mà tạo điều kiện
cho DN hoạt động một cách đỡ rắc
rối, rào cản, tạo mọi điều kiện
cho DN hoạt động.
"Chính DN là người tạo
ra hay hấp thu công nghệ, làm được cái ǵ mang
đặc biệt của Việt Nam".
Ví dụ, các trang trại cá không phải
công nghệ Việt Nam
mà của thế giới thay đổi hoàn toàn bộ
mặt nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam.
Việt Nam
có tiềm năng để thay đổi như vậy.
Nếu tạo điều kiện để DN,
người dân có khả năng tích tụ tư bản,
thậm chí cả về đất, v́ muốn phát triển
công nghệ cần đạt điểm tới hạn
nào đó về quy mô, đủ sức tiếp thu,
phát triển thêm công nghệ nội địa. Khi nào
một ngành nào đó Việt Nam
có thể chiếm lĩnh 10% thị trường thế
giới, lúc đó may ra mới có chuyện một công
nghệ nào đó của Việt Nam. Ví dụ chuyện
nuôi trồng thuỷ sản, cà phê… c̣n đặt ra chỉ
tiêu về công nghệ th́ hơi viển vông. Công nghệ
khó nói nó là cái ǵ.
Đặt ra và hy vọng là có thể
làm được cái ǵ, nhưng đừng đặt
quá cao về một cái ǵ khó, v́ công nghệ là cái khó có
thể kế hoạch khác.
Định hướng chắc chắn
là nên. Việt Nam
cũng có những cái như vậy, như khuyến
khích phát triển công nghệ phần mềm. Nhưng
liệu có tạo được cái ǵ đó không th́
không dễ. Việt Nam dân số cao,
nhưng GDP th́ hiện vẫn là nền kinh tế nhỏ
trên thế giới. Việt Nam không thể ngồi
dưới đất mà mơ lên tới trời
được, phải thực tiễn. Cách thực
tiễn hay nhất là tạo điều kiện cho
giới trẻ, khoa học, DN hoạt động
suôn sẻ, có thể tạo ra điều ǵ đó
đặc sắc cho Việt Nam.
Theo GS. Ngô Vĩnh Long, hiện nay
chưa thấy Việt Nam
có công nghệ ǵ mà nước ngoài thấy đặc
trưng của Việt Nam. Ví dụ,
ngay cà phê nhiều hăng cà phê nước
ngoài rất phát triển ở Việt Nam. Nếu so với
Đài Lan 1950s, Việt Nam c̣n sa vào lạc
quan trong lĩnh vực này. Hiện nay, Việt Nam chỉ cần mong có công nghệ
chế biến tốt, khỏi bán hàng hoá Việt Nam
ra bên ngoài rất rẻ.
Cùng chia sẻ cảm nhận này,
bà Chi Lan cho rằng, vấn đề của Việt
Nam là làm sao ứng dụng công nghệ bên ngoài có, sáng
tạo ra để nâng hiệu quả trong các lĩnh
vực khác nhau của Việt Nam. Việt Nam
cần tiếp tục học hỏi, tiếp thu những
cái bên ngoài có. Trước mắt chưa ứng dụng
nổi cái thế giới đă làm, làm sao có đột
phá công nghệ riêng để nước ngoài học
hỏi. Tự dành thời gian, để bước
đột phá riêng sau. Cần phát huy cái đang có, phổ
biến và nâng dần lên về mặt xă hội.
Nhân cách dân tộc trong hội nhập:
Câu chuyện cơ chế
Trước những
băn khoăn của độc giả Nguyễn Phú
Vinh, Hoàng Văn Hải về t́nh trạng xói ṃn đạo
lư, nhân cách dân tộc trong bối cảnh hội nhập
hiện nay, các chuyên gia đều quay trở lại
với câu chuyện cơ chế.
TS Nguyễn Quang A cho rằng, e sợ
về mặt trái của hội nhâp có cái lư của
nó. Nhưng trong hội nhập, dù việc giữ giá
trị tốt của người dân Việt Nam
rất quan trọng nhưng cũng cần thu nhận
những giá trị tốt của thế giới vào.
Có như thế mới phát triển được,
không chỉ phát triển cái riêng của ḿnh.
Theo ông Quang A, bản thân việc cải
cách hành chính cũng nhằm tạo dựng những
điều đó. Mọi tranh chấp dân sự giải
quyết rơ ràng, nhanh chóng, bộ máy có thể tạo
niềm tin giữa con người, đối tác với
nhau, chi phí giảm, hiệu quả tăng, bớt
căng thẳng, cải thiện cuộc sống, bảo
tồn và tạo ra các giá trị. Đó là một ṿng
tṛn của cơ chế.
Người ta kêu nhiều về sự
băng hoại đạo đức nhưng nhiều
cái do chính cơ chế gây ra. Chuyện phong b́… không phải
lỗi của người A, B, C cụ thể, mà phải
ngó lại thể chế, cơ chế, t́m cách sửa
đổi những vấn đề đó. Nếu sửa
được, góp phần bảo tồn giá trị
tốt, thu nhập những cái hay của bên ngoài.
Bà Phạm Chi Lan cho rằng, Việt
Nam
không thể quá tự măn với những ǵ chúng ta có
mà phải không ngừng học hỏi ra bên ngoài.
Nhiều cái đổ lỗi
do cơ chế thị trường nhưng đó là
cơ chế tự ḿnh. Nhà nước thấy quan
liêu, tham nhũng, lăng phí là vấn đề trong
nước. Tham nhũng là quốc nạn, xuất
phát từ những người trong bộ máy. Cần
xem xét, quan tâm đến các giá trị cần thiết.
"Nhà dột từ trên nóc dột xuống",
"trên bất chính, dưới tất loạn".
Cần phải giữ nghiêm minh từ trên xuống nếu
muốn ǵn giữ và phát triển nhân cách dân tộc.
TS Nguyễn Quang A cho rằng,
những vấn đề hiện nay hoàn toàn có thể
thay đổi được, dù không đột ngột.
Chúng ta có thể quay lại, nh́n ra trong cơ chế của
chính ḿnh tạo ra những khuyến khích ngược.
Tại sao có bằng giả, học giả có bằng
thật…? Chính v́ những quy định của Nhà
nước khuyến khích người ta làm chuyện
đó. Muốn lên chức này th́ nhất định
phải có bằng này, khuyến khích việc làm xấu.
Trong quản lư xă hội, ngó lại quy định của
ḿnh, thấy quy định nào khuyến khích người
ta giả dối, khiến người ta làm ngược.
Nếu hệ thống pháp luật nghiêm minh, tranh chấp
dân sự, kinh tế giải quyết đường
hoàng, ḷng tin về tính chính trực con người
được đảm bảo. Việc này sẽ
giúp nhân lên giá trị dân tộc.
Nếu cái ǵ cũng phải bôi
trơn sẽ làm băng hoại nền đạo
đức. Tác hại vô cùng với dân tộc. Đă
đến lúc Việt Nam cần
rung hồi chuông mạnh mẽ, cảnh báo sự
sửa đổi.
Trong 10 vấn đề được
đặt ra, các chuyên gia cùng chia sẻ cách nh́n về
ưu tiên số 1 cho năm 2008. Bà Phạm Chi Lan cho rằng,
giáo dục đào tạo là trung tâm, tất nhiên gắn
với sử dụng con người sau đó. Ông
Quang A lại cho rằng cải
cách hành chính quan trọng nhất, v́ nếu làm
được thực sự thổi vào không khí, cách
làm ăn mới. Ngay trong mỗi DN, thay đổi,
làm lại quy tŕnh, sốc lại được. Việc
này sẽ đẩy lại nhanh mọi thứ. Giáo
sư Ngô Vĩnh Long tán thành quan điểm của ông
Nguyễn Quang A và bổ sung, thể
chế rất quan trọng. Thể chế không thay
đổi th́ khó giải quyết vấn đề
khác.
Trích:
VNNet 27.12.
|