|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
Ḥa giải ḥa hợp dân tộc và cuộc vận
động dân chủ hóa đất nước
bằng phương thức diễn biến
ḥa b́nh
TIÊU
DAO BẢO CỰ
* Ḥa giải ḥa hợp và giao lưu văn học.
Đây không phải lần
đầu tôi viết về ḥa giải ḥa hợp.
Trong cuốn tiểu thuyết tự truyện “Nửa
đời nh́n lại” viết từ 1988-1992 (Nhà xuất
bản Thế kỷ, Mỹ, 1994), ở phần kết
“Trầm tư từ thung lũng”, dưới dạng
thư gởi các bạn thân, có một câu hỏi mà nhiều
người cho là khá bất ngờ so với nội
dung tác phẩm:
“Gác qua bên mọi định kiến, ḥa giải
ḥa hợp dân tộc phải chăng là một con
đường tuy khó khăn nhưng là con đường
duy nhất đúng trong hoàn cảnh hiện nay?”
Sau khi có ư kiến của
một số nhà văn hải ngoại, như một
phản hồi, tôi viết bài “Ḥa giải ḥa hợp và
giao lưu văn học”. Bài này gần như
được đăng đồng thời trên báo
Thông luận (Pháp), số tháng 9-1994, báo Ngày nay (Houston, Mỹ)
số 304 ngày 1-9-1994 với tựa đề “Ḥa giải
ḥa hợp và giao lưu văn hóa” và tạp chí Thế kỷ
21 (Cali, Mỹ) số tháng 9-1994 với một tựa
đề khác: “Văn học không biên cương”. Sở
dĩ tôi biết rơ các số báo đó v́ có người
ưu ái đă chịu khó cắt gởi các bài báo này cho
tôi, một điều hoàn toàn không dễ dàng vào thời
điểm đó.
Những tờ báo
trên thời đó là báo giấy, dĩ nhiên không
được phổ biến rộng răi như báo
điện tử ngày nay. Sau đây là trích đoạn
những phần then chốt của bài viết trên,
hơi dài, v́ để thể hiện rơ quan điểm
của tôi về vấn đề một cách
tương đối đầy đủ. Chính v́ bài
viết này, cùng một số bài khác mà tôi đă bị
truy bức nhiều lần về vấn đề
quan điểm.
“Mặc dù dân tộc Việt Nam có một lịch
sử rất lâu dài với bao nhiêu bài học quư giá
nhưng có lẽ mỗi người, mỗi thế hệ
chỉ có thể nhận ra được điều
ǵ thật sâu sắc khi chính ḿnh có một độ lùi
lịch sử của chính thời đại ḿnh. Trong
những cuộc chiến gần đây của đất
nước, dù ai dùng ngôn từ nào, với bất cứ
lập luận nào, đứng trên bất cứ lập
trường nào, những cuộc chiến đó đều
mang tính nội chiến, v́ người Việt đă nổ
súng vào nhau trên chiến trường, đă hận thù
nhau trong tim óc. Đó là một giai đoạn lịch sử
phân ly và bi thảm.
Những người quốc gia đă kêu gọi
cộng sản "chiêu hồi, trở về với
chính nghĩa quốc gia". Những người cộng
sản đă hô hào những người quốc gia
"bỏ hàng ngũ địch, trở về với
nhân dân". Chưa kể những người quốc
gia với nhau, cộng sản với nhau, cũng
đă từng đấu tranh, hận thù, truy bức, hủy
diệt nhau.
Dấu mốc 30/4/75 dù quan niệm đó là
"ngày chiến thắng, giải phóng hoàn toàn Miền
Nam Việt Nam, thống nhất tổ quốc" hay
"ngày quốc hận" th́ đó cũng là một
việc đă có , đă rồi và là một dấu mốc,
một cơ hội lớn của dân tộc. Sau ngày
đó, người cộng sản đă tuyên truyền
một cách đại lượng: "Trong cuộc
chiến này, người Việt Nam
không có kẻ thắng người bại, chỉ có
dân tộc Việt Nam
chiến thắng". Dĩ nhiên câu nói đó những
người quốc gia khó ḷng chấp nhận.
Nhưng nếu câu nói đó được thực hiện
đúng tinh thần của nó , nghĩa là không có tước
đoạt, truy bức, cải tạo… mà thực hiện
ngay ḥa giải ḥa hợp dân tộc, rơ ràng dân tộc Việt
Nam đă chiến thắng và đất nước
đă đi lên mạnh mẽ trong 18 năm qua chứ
không phải vẫn c̣n là một trong những nước
nghèo đói nhất thế giới. Câu
nói đó không được thực hiện, dân tộc
Việt Nam chỉ
là kẻ chiến bại và chỉ có nhân dân Việt Nam là
đau khổ.
Có lẽ nhận thức
như thế nên đến nay nhiều người Việt
Nam đau ḷng v́ số phận dân tộc ḿnh, dù là quốc
gia hay cộng sản hay thuộc bất cứ thành phần
nào, đă nghĩ và nói đến ḥa giải ḥa hợp
dân tộc. Muộn c̣n hơn không. Muộn nhưng vẫn
vô cùng cần thiết.
…….
Ḥa giải ḥa hợp
dân tộc chỉ có thể
được thực hiện khi đó là niềm thôi thúc, là sự
nghiệp của cả dân tộc chứ không phải
chỉ là vấn đề của một số cá
nhân. Nếu nhiều người cộng sản c̣n nghĩ
rằng: Ta đang nắm quyền lực (và quyền
lợi), tội ǵ phải ḥa giải ḥa hợp với
ai, lơ mơ sẽ bị lật đổ. Nếu
nhiều người quốc gia ở nước ngoài
c̣n nghĩ: Ta đang giàu có, sống thoải mái, đâu có thể
hạ ḿnh xin nói chuyện hay về nước để
lọt vào ṿng kềm tỏa của bọn cộng sản
độc tài. Nếu nhiều người khác c̣n nghĩ:
Ta chỉ cần yên ổn làm ăn sinh sống, dại
ǵ dính vào những chuyện chính trị… Nếu đa số
người Viêt Nam c̣n nghĩ như thế, rơ ràng khó
có ḥa giải ḥa hợp dân tộc.
Nhưng nếu đối với nhiều
người, đất nước nghèo đói là niềm
đau, nỗi nhục của
mọi người Việt Nam; sự phân ly, hận
thù là vết thương, căn bệnh nặng nề của cả
dân tộc; thiếu dân chủ tự do là sự phản tiến hóa,
bầu khí ngột ngạt nhiễm độc của
toàn xă hội… Đó vẫn
c̣n là cơ may cho ḥa giải ḥa hợp dân tộc.
Khó khăn và trở ngại lớn
nhất là nếu toàn bộ hay một bộ phận
chủ chốt những người đang cầm quyền
không muốn ḥa giải ḥa hợp, hay họ chỉ làm
theo những điều kiện mà họ bắt buộc
người khác phải chấp nhận.
Thực ra chưa có quyền lực chính trị,
quyền lực thế gian nào là vĩnh viễn, bất
khả chiến bại. Ư chí của một người
phát huy đến mức
cao nhất cũng rất mănh liệt và tác động
đến toàn xă hội, đè nặng lên số phận hàng triệu
người. Lịch sử thế giới đă chứng
minh điều đó. Dĩ nhiên, một ḿnh họ
không đủ, sau lưng họ c̣n là cả một tập
đoàn. Nhưng một tập đoàn không thể mạnh
hơn một dân tộc,
mạnh hơn cả nhân loại. Vậy th́ tại sao
đa số người cùng chung một nguyện vọng,
một ư chí lại sợ hăi, bất lực trước
một tập đoàn.
Những
người cầm quyền thường lộng hành
và chế ngự nhân dân bằng cách dùng bạo lực
gây ra nỗi sợ. Muốn chống lại cái ác, mỗi
người bằng cách nào đó của ḿnh, phải
vượt qua nỗi sợ để làm một cái ǵ
đó. Ư chí của đám đông lương thiện,
nếu được thể hiện và tập hợp
lại, dù dưới h́nh
thức bất bạo động, nhất định
sẽ gây sức ép, chuyển hóa và buộc thiểu số phải chấp
nhận ḥa giải ḥa hợp, dù thiểu số
đang nắm quyền lực, được tổ
chức và trang bị bằng bất cứ vũ khí
nào. Đó là ḥa giải ḥa hợp đi đôi với
việc chống lại
cái ác bằng những
phương tiện ḥa b́nh,
Nhận thức đó nhất định mở
ra nhiều con đường
mà văn học có thể là một trong những
con đường đầu tiên.
Văn học trong những hoàn cảnh bi thảm
của lịch sử không chỉ mô tả, phản ánh
số phận bị đày đọa của con
người, hàng triệu người, tạo nên sự
đồng cảm sâu sắc trong nỗi đau mà c̣n
khơi gợi khả
năng chống lại cái ác.
Chính trị chi phối tất cả nên dù không
thích ta cũng không thể từ chối chính trị.
Trong những hoàn cảnh
lịch sử đó, văn học đích thực có
thể không hề có những vấn đề chính trị,
người viết vẫn bị thôi thúc bởi một
điều ǵ khác hơn, vượt lên trên chính trị.
Viết một tác phẩm văn học đích thực không phải hay không chỉ là một hành động
chính trị mặc dù tác dụng đầu tiên của
nó đôi khi có thể là tác dụng chính trị. Chính trị
của tác phẩm văn học cũng không phải chỉ là chính trị thời
sự mà là một thứ chính trị mang tính lâu dài. Và tác phẩm
văn học đích thực nhất định phải
chuyên chở cái ǵ rộng hơn, sâu xa hơn, tinh tế
hơn trong mọi ngơ ngách tâm hồn và số phận
con người.
Văn học tự bản thân không biên
cương không gian và thời
gian nên dễ vượt qua mọi rào cản, ràng buộc,
hạn chế của những thế lực cầm
quyền và của cả ḷng người. Giao lưu
văn học là một giao lưu chiều sâu
đưa con người lại gần nhau, xóa dần
những dị biệt. Hiện nay, ở trong nước
người ta đă chính thức nói đến văn
học Việt Nam
hải ngoại là một bộ phận không thể
thiếu của văn học Việt Nam. Tác
phẩm bị cấm ở trong nước bắt
đâu xuất hiện ở nước ngoài. Văn học
Việt Nam
hải ngoại bằng nhiều cách đang t́m về
với độc giả trong nước. Nghĩa là
đă đến lúc văn học Việt Nam trước
hết phải dành cho mọi người Việt Nam,
không phân biệt v́ bất cứ lư do ǵ. Sự giao
lưu này nhất định sẽ mang lại một
cái ǵ tích cực trên con đường ḥa giải ḥa hợp
dân tộc.
Việc trao đổi bước đầu vừa
qua chung quanh tác phẩm "Nửa đời nh́n lại"
phải chăng là một dấu hiệu đáng mừng
không phải chỉ cho riêng tác giả mà là cho t́nh h́nh
chung khi những khái niệm về "quốc gia - cộng
sản, kẻ thù, đối cực" đă
được hóa giải một cách nhẹ nhàng và những
người đă từng
ở trong thế đối nghịch nhau lại có thể
nói với nhau, về nhau một cách hết sức mở
ḷng và thân ái.
Tôi vẫn nhớ những giọt lệ chảy
dài trên má ḿnh lúc c̣n bé đọc "Tâm hồn cao
thượng" của E.D. Amicis và cả về sau mỗi
khi đọc lại. Tôi vẫn không sao quên được
cảm giác đau đớn lạ lùng khi ở trong tù
thời sinh viên đọc "Giờ thứ 25" của
C.V Gheorghiu mà tác phẩm chảy dạt dào trong tôi
như một cơn
nước lũ. Bây giờ và chắc cả về
sau này nữa, tôi vẫn ứa nuớc mắt khi đọc
một trang sách, xem một cảnh phim cảm động,
không sao cầm giữ và cũng không muốn cầm giữ.
Điều ǵ đó của phận người đă
rung lên trong tôi như một sợi tơ đàn tạo
nên ḥa điệu. Đằng sau những giọt
nước mắt là cái ǵ sâu xa hơn giúp tôi đi suốt
cuộc làm người một cách mạnh mẽ, tốt
đẹp và hạnh phúc hơn.
Tôi hiểu như thế nên
khi viết về một tác phẩm, tôi ước ao
và mong chờ một điều ǵ đó tương tự
nơi người đọc tác phẩm của ḿnh,
những người đọc "có tâm hồn"
và tự do đối với bất cứ tù ngục
tinh thần và cụ thể nào.
Tôi tin tưởng giao lưu văn
học sẽ tạo nên sự đồng cảm và nối
kết có vẻ mong manh
nhưng lại hết sức bền vững và có khả
năng công phá được cả những bức
tường sắt thép, kẽm gai hay những rào cản
của hận thù và ư thức hệ.”
* Ḥa giải ḥa hợp với người cộng
sản và bất cứ thành phần cực đoan nào,
trên thế mạnh của dân tộc.
Đó là những ḍng
tôi viết từ 13 năm trước. Mới đây,
trong bài “Nan đề nào? Nan đề cho ai?” (đăng trên nhiều
trang web như talawas, Thông luận, Cánh én, Diễn
đàn, Đối thoại…) tôi có dịp đặt lại
vấn đề này:
“Khi đă nói hoà giải hoà
hợp dân tộc, nghĩa là vấn đề
được đặt ra giữa mọi thành phần
dân tộc. Không thể nói đến vấn đề
này nếu không chấp nhận thế đứng của
3 triệu người Việt ở nước ngoài cũng
như 3 triệu đảng viên cộng sản.
Vấn đề gây trở
ngại lâu nay là sự khác biệt trong quan điểm
có chấp nhận hoà giải hoà hợp hay không, hoà giải
hoà hợp với ai, như thế nào ?
Nếu có người
đă kinh qua cuộc chiến, bây giờ vẫn chống
cộng đến cùng, ở nước ngoài nói rằng
không chấp nhận hoà giải hoà hợp với
người cộng sản trong mọi trường hợp,
chỉ về nước sau khi đă quét sạch những
người cộng sản cuối cùng th́ e rằng những
người đó suốt đời sẽ phải sống
ly hương.
Nếu chính quyền cộng
sản chỉ hoà giải hoà hợp trên thế mạnh,
v́ họ đang cầm quyền, buộc các thành phần
khác phải chấp nhận mọi điều kiện
của ḿnh th́ đó không phải là hoà giải hoà hợp,
không có kết quả tốt và dĩ nhiên không tạo
được sức mạnh dân tộc cần có.
Nhà cầm quyền có thế
mạnh nhưng không phải là mạnh nhất và vĩnh
viễn. Dân tộc đoàn kết mới là thế lực
mạnh nhất và trường tồn. Như thế
chỉ khi đại khối dân tộc có được
hoà giải hoà hợp, tạo ra sức mạnh áp đảo
th́ nhà cầm quyền không c̣n ở trên thế mạnh
nữa, lúc đó sẽ có hoà hợp hoà giải thực
sự.”
Cùng
với đoạn viết về những cuộc gặp
gỡ văn nghệ tự do trong bài trên, quan điểm
của tôi về ḥa giải ḥa hợp dân tộc là nhất
quán từ trước đến nay. Điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh,
tôi xem ḥa giải ḥa hợp dân tộc là phương thức
tối ưu sau chiến tranh để lấy lại,
củng cố và phát huy sức mạnh dân tộc trên
đường phát triển, trong đó văn học
nghệ thuật đóng vai tṛ đặc biệt v́ sự
thẩm thấu, tạo đồng cảm và sức
lan tỏa của ḿnh. Công việc này có nhiều trở
lực v́ có một số thành phần, trong đó quan
trọng nhất là một
số người cầm quyền, v́ quyền lực
và quyền lợi, không chấp nhận hay không có thực
tâm. Tuy nhiên nếu đa số những thành phần
c̣n lại trong đại khối dân tộc, kể cả
những người cộng sản thức tỉnh,
có được ḥa giải ḥa hợp, tạo nên sức
mạnh tuyệt đối, thiểu số cầm quyền
này buộc phải khuất phục. Sự diễn
đạt quan điểm trong cả hai bài trên như
thế có lẽ đă khá rơ ràng.
Trong
bài viết “Ḥa giải ḥa hợp dân tộc, ước
vọng và cạm bẫy” (talawas ngày 1-9-2007) Định
Nguyên có đặt câu hỏi về quan điểm của
tôi: “Có hai loại hoà hợp
hoà giải dân tộc: trá h́nh và thật sự. Không hiểu
ông Tiêu Dao Bảo Cự nói đến loại hoà hợp
hoà giải dân tộc nào, loại cùng nhau quy phục
dưới trướng chính quyền cộng sản
Việt Nam hay loại b́nh đẳng dân tộc? Và loại
nào th́ chính quyền cộng sản Việt Nam
“được thêm rất đông đồng minh trong
khi người chống cộng lại thêm thù bớt
bạn”?
Tôi có thể
trả lời: Đó là loại thứ ba, ḥa giải ḥa hợp với
người cộng sản và bất cứ thành phần
cực đoan nào, trên thế mạnh của dân tộc.
Và như tôi đă phân tích, dân tộc phải tạo
được sức mạnh tuyệt đối
đó trên cơ sở ḥa giải ḥa hợp với nhau
giữa các thành phần trong đại khối dân tộc.
Nếu những người chống cộng ở
nước ngoài c̣n công kích nhau, nếu những người
đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước c̣n
phỉ báng nhau, nếu những người thành tâm với
đất nước vẫn c̣n bị nghi ngờ khi
phát biểu chính kiến của ḿnh, nếu đa số
nhân dân vẫn c̣n thờ ơ với dân chủ, vẫn
c̣n mải lo kiếm sống, làm giàu, hưởng thụ…,
dân tộc vẫn c̣n thiếu sức mạnh để
có thể chiến thắng cái ác.
Có
người nói chỉ cần ḥa giải giữa những
người cộng sản với nhân dân chứ giữa
nhân dân với nhau không có vấn đề ǵ cần phải
ḥa giải. Thực tế không phải như vậy.
Ngay những người chống cộng ở nước
ngoài cũng đă phê phán, công kích nhau kịch liệt
khi bất đồng. Hiện tượng biểu
t́nh chống Viet Weekly hay chuyện liên quan đến Trịnh
Hội, Nguyễn Cao Kỳ Duyên vừa qua nói lên điều
ǵ? Bao nhiêu tổ chức đấu tranh cho dân chủ ở
hải ngoại mấy chục năm rồi có thống
nhất được không dù ai cũng thấy việc
đó cần thiết? Ngay giữa nội bộ những
người đấu tranh cho dân chủ trong nước
hay giữa trong và ngoài nước đă có bao nhiêu lần
lời qua tiếng lại đưa đến chia rẽ…Rồi
đối với những người dân b́nh thường:
Vấn đề về nước thăm thân nhân,
đầu tư làm ăn kinh tế, làm từ thiện…cũng
có nhiều ư kiến trái ngược, đưa đến
phê phán, chỉ trích. Ư kiến của những người
đọc bài trên mạng, với lập trường
thân cộng và chống cộng đối nghịch,
tranh luận hay phê phán lẫn nhau là một hiện
tượng xảy ra trên mọi trang web (không thể
đổ thừa hết mọi chuyện cho công an mạng)…Vậy
th́ nhân dân có cần ḥa giải ḥa hợp với nhau
không trước khi nói đến đấu tranh với
chế độ độc tài toàn trị?
Ca
sĩ trong nước ra hát ở nước ngoài hay ca
sĩ ở nước ngoài về tŕnh diễn trong
nước có ǵ đáng phê phán? T́nh h́nh trong nước,
ngoài vấn đề tham nhũng, dân oan, phụ nữ
lấy chồng ngoại..., những vết nhơ của
chế độ, thể hiện sự sai lầm của
chính sách, dĩ nhiên cần phải tiếp tục phê
phán nhưng c̣n có ǵ khác
đáng thấy, đáng nghe, đáng bàn, đáng nghiền
ngẫm nữa không? Có phải toàn bộ trí thức và
những người cầm bút trong 600 tờ báo trong
nước đều là những kẻ hèn nhát khi không
đề cập đến vấn đề dân oan
hay những vấn đề chính trị khác? Hoàn cảnh
sống, làm việc của họ như thế nào và họ
đă làm được ǵ cho dân, cho nước? (Nên nhớ
rằng các tờ báo lớn trong nước có số
lượng xấp xỉ nửa triệu bản in mỗi
ngày, chưa kể báo điện tử, tác động
rất lớn đến nhận thức nhân dân và dân
VN rất thích đọc báo, kể cả giới lao
động b́nh dân. Báo chí trong nước luôn bị kềm
kẹp gắt gao nhưng không phải lúc nào họ cũng
làm theo chỉ đạo.) Trước áp lực của
Mỹ và cộng đồng quốc tế, chính quyền
thả hai người tù chính trị nhưng lại
ngang nhiên bắt thêm 20 người khác, sự kiện
này nói lên điều ǵ?... Cần phải nh́n t́nh h́nh
toàn cục một cách tỉnh táo, thực tế để
đánh giá chứ không thể nói theo cảm xúc hay
tư tưởng cục bộ, phiến diện
được.
Những
cạm bẫy về ḥa giải ḥa hợp với cộng
sản mà Định Nguyên phân tích là đúng, có thực
tiễn lịch sử, trong vấn đề này,
người “quốc gia” đă thua nhưng dân tộc
Việt Nam không thể thua cộng sản. Trước
mắt, trong một giai đoạn nào đó, dân tộc
có thể thua cộng sản nhưng về lâu về
dài nhất định dân tộc sẽ thắng. Trong lịch sử, dân tộc Việt
Nam đă thắng tất cả mọi thế lực
ngoại bang xâm lược, đă đồng hóa, Việt
hóa tất cả mọi chủ thuyết và tư
tưởng ngoại lai nên
trong tương lai, và ngay cả hiện nay, cộng
sản nếu không đồng hành cùng dân tộc, nhất
định sẽ bị dân tộc gạt ra ngoài ḍng sống
của ḿnh.
* Cách mạng màu và diễn
biến ḥa b́nh.
Quan
niệm trên có ảo tưởng không, mức độ
khả thi như thế nào và có chỉ ra con đường
thực sự đúng đắn không? Ta thử đối
chiếu với thực tế và những con đường
khác.
Có
thể dùng bạo lực vũ trang để lật
đổ chính quyền cộng sản hiện nay
không? Câu trả lời ngay có thể được
đa số đồng t́nh là không. Trong trường hợp
giả dụ có thể làm được, đa số
cũng không chấp nhận giải pháp này v́ nó
đưa đến đổ máu, hận thù mà nhân dân
Việt Nam đă quá chán ngán. C̣n ai mơ mộng hăo huyền
rằng sẽ có một thế lực ngoại bang nào
đó giúp làm việc này th́ đó chỉ là điều
vớ vẩn, nếu không phải dùng một từ nặng
nề là ngu xuẩn.
C̣n
bạo lực quần chúng theo kiểu “cách mạng
màu” ở các nước Đông Âu? Vấn đề
này nhiều người đang nghiên cứu và tranh luận,
kể cả nhà cầm quyền. Nói bạo lực quần
chúng nghĩa là phải có số đông có ư thức,
hành động phản kháng và được tổ chức.
Hăy xem xét kỹ lực lượng gọi là quần
chúng ở Việt nam hiện nay. Trong các tầng lớp
lao động nghèo đói bị áp bức, chỉ có những
người gọi là “dân oan” có nhiều khả
năng nổi dậy v́ họ phẫn uất và không
c̣n ǵ để mất. Tuy nhiên dù với tiếng vang
gây nên qua những cuộc biểu t́nh khiếu kiện,
trước mắt, họ cũng chỉ là con số
nhỏ trong hơn 80 triệu dân. Rơ ràng “dân oan” là một
vấn đề chính trị, nhưng khi đi khiếu
kiện, dù dưới h́nh thức biểu t́nh, đa số
trong họ bức xúc về vấn đề dân sinh chứ
không phải dân chủ (dĩ nhiên cũng có người
ư thức về công bằng, dân chủ), nếu
được đáp ứng đ̣i hỏi, họ sẽ
từ bỏ đấu tranh để trở về
lo cuộc sống đời thường là mục
đích chính khi khiếu kiện. Mặt khác, nhà cầm
quyền cũng thấy đây là nguy cơ nên sẽ bằng
nhiều cách ra sức gỡ ng̣i nổ, trong đó việc
chính là cô lập, đàn áp những người có ư
định và khả năng tập hợp quần
chúng, đồng thời cố gắng đáp ứng
yêu cầu của người khiếu kiện. Do
đó khi có người nói “trong giai đoạn đầu
đừng chính trị hóa vấn đề dân oan” là một
cách nói về chiến thuật vận động quần
chúng “từ dân sinh đến dân chủ, từ tự
phát đến tự giác” để từng bước
giành thắng lợi chứ không phải không hiểu
khía cạnh chính trị trong vấn đề “dân oan”.
Dân oan, rộng ra là nông dân và những người
lao động khác, trong cơn lốc kinh tế thị
trường, với sự chênh lệch giàu nghèo ngày
càng sâu rộng, cộng với sự tham ô hà hiếp của
một số quan chức nhà nước xấu xa, rất
có khả năng trở thành ng̣i nổ và động lực
cho những bất ổn lâu dài. Nếu chính quyền không có thực tâm
hay không có khả năng giải quyết, t́nh h́nh này sẽ
là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế
độ. Hơn ai hết, những người cộng
sản hiểu rơ rằng “có áp bức tất có đấu
tranh”. Chính quyền muốn tồn tại, nhất
định phải đáp ứng yêu cầu của
nhân dân. Khi làm được như thế, chính quyền
đă thực sự chuyển hướng về phía
dân chủ. Trong t́nh h́nh hiện nay, cả hai khả
năng đều có thể tồn tại trong thời
gian dài, khó có đột biến.
Giả
dụ cuộc cách mạng màu có thể xảy ra, cái
giá phải trả cho dân tộc chắc chắn là khá
đắt, ít nhất là sự xáo trộn trong hàng chục
năm, chưa kể máu vẫn có thể đổ.
T́nh h́nh Việt Nam khác với các nước Đông Âu
là do cuộc chiến tranh mang mầu sắc nội chiến
kéo dài quá lâu nên đến nay vẫn c̣n tiềm ẩn
nhiều hận thù giữa các thành phần dân tộc
và đảng cộng sản bắt rễ rất sâu
rộng trong quần chúng, có kinh nghiệm đấu
tranh cách mạng và đàn áp “phản cách mạng”, không
thể một sớm một chiều bị cô lập
và mất đi sức mạnh.
Con
đường “cách mạng màu” như thế vẫn
c̣n là một dấu hỏi lớn, tiềm ẩn nhiều
hiểm nguy và khó ai có thể có câu trả lời chính
xác, trong khi đó ḥa giải ḥa hợp dân tộc kết
hợp với vận động dân chủ hóa đất
nước cũng rất khó khăn và lâu dài nhưng
chắc chắn đó là con đường an toàn nhất
cho dân tộc. Con đường, nghĩa là
phương tiện đi đến đích, đồng
thời cũng là một phương thức đấu
tranh. Có thể gọi đây là một cách “diễn biến
ḥa b́nh” trong đó mọi người, mọi hoàn cảnh
đều có thể làm được điều ǵ
đó, ít hay nhiều, cho đại sự. Không thể
có chuyện “vô vi nhi vô bất vi” hay “bất chiến tự
nhiên thành” như Nguyễn Trọng Văn đă nêu lên
để phê phán trong bài “Trí thức làm dáng” (Diễn
Đàn online ngày 3-9-2007). T́nh h́nh sẽ chuyển biến,
lịch sử sẽ đi theo con đường riêng
của ḿnh nhưng chắc chắn sự thức tỉnh
và tác động của từng người dân, nhất
là những người trong bộ máy cầm quyền,
sẽ làm cho nó nhanh lên hay tốt hơn.
Người
Việt ở nước ngoài tại sao không “diễn
biến ḥa b́nh” đối với những “văn công
Việt cộng” ra ngoài tŕnh diễn, những du học
sinh (nhất là con em các quan chức) và ngay cả nhân
viên các ṭa đại sứ Việt Nam…, làm cho họ hiểu
thế nào là dân chủ, đa nguyên? Với nghị quyết
36, tại sao không “tương kế tựu kế” ồ
ạt về nước để t́m hiểu t́nh h́nh
tại chỗ, tuyên truyền người dân trong
nước về giá trị của tự do, nhân quyền,
xây dựng cơ sở làm ăn kinh tế để hỗ
trợ cho các hoạt động chính trị sau này?
Đây là những việc người Việt hải
ngoại hoàn toàn có thể làm được, có hiệu
quả thực tế mà không cần nhờ đến
sức mạnh ngoại lai nào. Nhà nước dĩ
nhiên đă dùng đủ mọi cách để có thể
lôi kéo, tuyên truyền khuyến dụ các tầng lớp
nhân dân trong và ngoài nước chấp nhận, thực
hiện chủ trương, chính sách của ḿnh. Đó
cũng là một dạng “diễn biến ḥa b́nh”,
chưa kể kiểu “tự diễn biến” của
một số phần tử cấp tiến trong đảng.
Vậy th́ cứ “diễn
biến ḥa b́nh lẫn nhau”, để đôi bên cùng thắng
theo kiểu “win-win” trong kinh doanh, cho đến lúc t́nh
h́nh chuyển biến và cuối cùng nhân dân thực sự
là kẻ thắng.
Mặt
khác cần phải cảnh giác trước những lời
kêu gọi hi sinh cá nhân cho tập thể, hi sinh thiểu
số cho đa số, hi sinh hiện tại cho
tương lai. Mới nghe, tưởng chừng những
lời kêu gọi này và sự thực hiện chúng là rất
cao cả nhưng thực chất chúng rất phi nhân và
độc ác. Bao nhiêu cuộc cách mạng với lư
tưởng ngời sáng ban đầu đă tắm máu
nhân dân để lên ngôi thống trị, bao nhiêu vị
tướng đă “công thành” nhờ “vạn cốt khô”. Trừ những trường
hợp hết sức đặc biệt, cực
đoan, thí dụ để chống lại tội ác
man rợ hay đày đọa phi nhân, mà sự hi sinh trở
thành tự nguyện đích thực, c̣n ngoài ra, không có
ǵ đáng quư hơn sinh mạng và hạnh phúc của cá
nhân, của bất cứ tập thể nhỏ lớn
nào, trong giây phút này, ngày hôm nay. Trong rất nhiều
trường hợp, những tuyên truyền nhồi sọ,
những lời kêu gọi hoa mỹ thúc đẩy
người khác hi sinh, rút cục chỉ là sự lừa
bịp thâm hiểm của những kẻ đầu
cơ tội ác. Lịch sử Việt Nam và thế giới
trong quá khứ và hiện tại đă cho thấy rơ
điều đó.
Dĩ
nhiên, hạnh phúc cá nhân cũng như tự do, dân chủ,
nhân quyền, phồn vinh của một dân tộc không
phải từ trên trời rơi xuống mà là thành quả
của các cuộc đấu tranh lâu dài. Ai nói rằng
mọi chuyện sẽ đâu vào đó, cái ǵ phải tới
sẽ tới, không cần phải làm ǵ cả chỉ
là một thái độ ngụy tín và né tránh đấu
tranh. Tuy nhiên đấu
tranh bằng những phương tiện ḥa b́nh, từ
chối bạo lực, để khỏi gây tổn thất
cho con người là phương thức tối ưu
mà con người có thể chọn lựa, trừ những
trường hợp bất khả kháng.
Lâu
nay, những người cộng sản hay nói đến
nguy cơ “diễn biến ḥa b́nh” nhưng phải
chăng diễn biến ḥa b́nh chính là phương thức
tốt nhất để đạt đến sự
đồng thuận, ḥa giải ḥa hợp từ nhiều
phía. Diễn biến ḥa b́nh lẫn nhau nhất định
tốt hơn đối kháng hay đấu tranh bằng
bạo lực.
Ở
Việt nam, đối với những người
đă trải qua cuộc chiến, nay đă lớn tuổi,
điều đáng giá nhất có thể làm là thực
hiện ḥa giải ḥa hợp dân tộc để giảm
bớt sự thù hận và phân ly đă làm suy yếu dân
tộc, phần c̣n lại là trách nhiệm của thế
hệ trẻ đang lên. Mỗi thế hệ có sứ
mạng riêng của ḿnh trong lịch sử và những
người trẻ hiện nay, chiếm hơn 2/3 dân số,
không bị chi phối bởi quá khứ chiến tranh,
có đủ tri thức và nhiệt huyết sẽ biết
ḿnh phải làm ǵ cho đất nước. Dĩ nhiên
những người trẻ cũng phải giải
quyết vấn đề ḥa giải ḥa hợp, tuy ở
mức độ nhẹ hơn, v́ khác biệt, mâu thuẫn
vốn là bản chất của cuộc sống, đồng
thời vẫn cần học hỏi kinh nghiệm của
những người lớn tuổi trong những thành
công cũng như thất bại của họ. Lịch
sử không bao giờ đứt quăng mà luôn là một sự
tiếp nối không ngừng.
* Đột biến hay tiệm
tiến.
Ai
cũng mong muốn t́nh h́nh nhanh chóng trở nên tốt
đẹp hơn, dân chủ hơn nhưng thực tế
cho thấy t́nh h́nh đă rất tiệm tiến. Từ
20 năm nay, khi diễn đạt những t́nh cảm
và tư tưởng của ḿnh, một số người
bạn của tôi đă bộc lộ sự bức
xúc, sốt ruột, mong những điều dân chủ
trong sáng sớm được thực hiện.
Bùi
Minh Quốc năm 1988 với bài thơ “Những ngày
thường đă cháy lên” đă từng bày tỏ:
Không có ai
Không có ai
Có thể ngẩng nh́n trời
B́nh tâm mỗi sáng
Khi những thằng đểu c̣n trong Đảng
…..
Con xin nói
với tất cả tấm ḷng và lương tri cộng
sản
Mẹ chẳng
phải đảng viên
Nhưng mẹ
có tấm-thẻ-đỏ-trái-tim ṛng máu ứa
Chính mẹ
chứ không ai - mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội
những thằng thẻ đỏ tim đen.
Năm
1993 Bùi Minh Quốc cũng đă “một ḿnh một phiếu”
viết thư gởi Quốc Hội yêu cầu bỏ điều
4 của Hiến pháp trong khi c̣n rất ít người
dám đề cập vấn đề này.
Cùng
thời gian trên, Hà Sĩ Phu phân tích những nghịch
lư của chủ nghĩa xă hội, kêu gọi “dắt tay nhau đi dưới
những tấm biển chỉ đường của
trí tuệ” rồi sau đó là “chia tay ư thức hệ”. Tôi nghĩ trong một
số bài viết gần đây, Hà Sĩ Phu khi tự
nhận tư thế “người quan sát” chỉ là một cách nói khiêm tốn
và nhấn mạnh sự khách quan trong nhận định
chứ không phải chọn lựa thái độ bàng
quan, đứng bên lề một cách vô trách nhiệm.
Đứng bên lề cớ ǵ phải nặng ḷng, lao
tâm khổ tứ và chịu nhiều trù dập đến
thế trong bao nhiêu năm.
Mai
Thái Lĩnh là một trong những người đặt
vấn đề “tách
đảng ra khỏi quyền lực” sớm nhất
và hiện nay đang cùng với Hà Sĩ Phu nghiên cứu
gợi ư về con đường dân chủ xă hội
như một lối thoát tốt nhất cho t́nh h́nh.
Bản
thân tôi, trong một lần góp ư cho Đại hội
Đảng năm 1996, đă
nêu hàng loạt vấn đề về đa nguyên
đa đảng, ḥa giải ḥa hợp dân tộc, chống
thần thánh hóa lănh tụ và yêu cầu thực hiện
trưng cầu dân ư về sự tín nhiệm của
nhân dân đối với đảng trong “Thư ngỏ gởi những người cộng
sản Việt Nam”.
Trong
nước, đó là những ư kiến táo bạo
được đưa ra công khai, với tên và địa
chỉ rơ ràng, gần như sớm nhất nên đă bị
coi là “cầm đèn chạy
trước ô tô” và chịu nhiều trù dập, bị
quy các tội danh như “xâm
phạm an ninh quốc gia, xung kích chống cộng, phản
động, cơ hội chính trị”, thậm chí “phản bội tổ quốc”.
Rơ ràng chúng tôi là những người “sốt ruột”, không muốn “tiệm tiến” chút nào nhưng không thể
duy ư chí, bi quan hay lạc quan không có cơ sở mà bắt
buộc phải chấp nhận tính chất tiệm tiến
của thực tiễn. Nhận thức về tiệm
tiến không phải là chờ thời mà chính là đánh
giá thực chất với đầu óc lư trí lạnh
lùng dù con tim nóng bỏng. Đă có nhiều trường
hợp cho thấy người chủ trương “trường kỳ kháng chiến”
(không phải muốn tiệm tiến mà v́ thực tiễn
của t́nh h́nh) là người chiến thắng, đến
trước trong khi người chủ trương “tốc
chiến tốc thắng” lại thất bại, không
về được đích ḿnh mong muốn.
Với
tâm trạng của các tầng lớp nhân dân, với
t́nh h́nh dân trí hiện nay, có lẽ khó ḷng có đột
biến. Dân trí ở đây không phải chỉ là tŕnh
độ học vấn mà bao gồm toàn diện tŕnh
độ văn hóa, ư thức chính trị, ư thức về
dân chủ và nhận thức về khả năng
định đoạt số phận ḿnh. Nhân dân
như thế nào th́ chính phủ và cả đất
nước như thế ấy. Ai có thể làm khác
hơn? Nếu có người, có lực lượng
nào đó có thể thúc đẩy t́nh h́nh trở nên tốt
đẹp nhanh hơn, dĩ nhiên nhân dân sẽ hoan
nghênh nhưng rơ ràng không phải những lời hô hào
suông, dù hùng hồn đến mấy, có thể mang lại
kết quả.
Muốn
có “cách mạng màu”, dù là cam, nhung, hay hoa hồng, nhất
thiết phải có những điều kiện rất
quan trọng không thể thiếu: Lực lượng
quần chúng hàng vạn, hàng triệu người bất
măn và dám xuống đường đấu tranh. Tổ
chức chính trị với mạng lưới cán bộ
ṇng cốt đông đảo tại chỗ được
đào tạo chu đáo, biết kỹ thuật vận
động quần chúng, biết nắm bắt thời
cơ và dũng cảm dấn thân, đi đầu
lănh đạo quần chúng. Nhà cầm quyền hoàn toàn
mất chính nghĩa và không c̣n chỗ dựa trong quần
chúng… T́nh h́nh hiện nay đă đáp ứng được
những điều kiện này chưa?
Không có h́nh thức đấu
tranh cho dân chủ nào là vô ích nhưng không nên ảo
tưởng hay tạo ra những t́nh huống có khi bất
lợi cho t́nh h́nh, trái ngược với ḷng mong mỏi
của mọi người, kể cả của chính
những người trong cuộc.
Riêng cá nhân người viết bài này, tôi chỉ
là một người cầm bút tự do, không tham gia tổ
chức nào, không hoạt động chính trị chuyên
nghiệp, mà với tư cách một người Việt
Nam yêu nước, không thỏa hiệp với cái ác và
bất cứ chủ trương nào làm tổn
thương đến con người, thẳng thắn
nói lên suy nghĩ của ḿnh dù những điều nói
ra có thể đúng hay chưa đúng cần tranh luận,
có thể làm vừa ḷng hay không vừa ḷng phe này, tổ
chức khác nhưng không v́ thế mà bẻ cong ng̣i bút.
Trên
một b́nh diện khác, về mặt tâm trạng, tôi
có rất nhiều đồng cảm với một
nhà thơ là người lính của Quân đội Việt
Nam Cộng Ḥa Miền Nam, có bố là sĩ quan Quân
đội Nhân Dân Miền Bắc:
…
Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung
sướng
Và thế là ông từ tuổi thanh xuân
Cùng bạn bè đi làm cách mạng
Ông càng làm cách mạng chừng nào
Th́ loài người càng thêm sặc máu
Tôi ước mơ cơi đời tốt đẹp
Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người
Tôi càng ca tụng chừng nào
Th́ loài người càng xấu xa chừng nấy
…..
Bố ơi bố đă ra về
Con ở lại làm thơ và chữa bệnh
Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm
ḷng son
Thành hay bại chỉ là chuyện vặt
(Nguyễn Bắc Sơn, Chuyện
hai bố con tôi)
Đây
là tâm trạng của con người lạc quan trong ư
nghĩa của kiếp nhân sinh, vượt lên trên b́nh
diện thời cuộc và cả lịch sử, không
phải là chủ nghĩa thất bại. C̣n dĩ
nhiên đối với những người dấn
thân trong cuộc đấu tranh cho những điều
tốt đẹp, điều quan trọng là phải
thành công và khi thành công tất sẽ thành nhân. “Không thành công th́ thành nhân”
hay “chớ đem thành bại
luận anh hùng” cũng là những điều đẹp
đẽ nhưng đó cũng lại chính là bi kịch
của lịch sử !
Đà Lạt tháng 10-2007
Tiêu
Dao Bảo Cự
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|