|
Sức Mạnh Để Bảo Vệ
Bờ Cơi
Phạm
Hồng Sơn
Viết tặng các
bạn sinh viên tham gia cuộc biểu t́nh
trước Đại
sứ quán và Lănh sự quán Trung quốc
ngày 09 tháng 12 năm 2007
Hiếm có lịch
sử lập quốc của dân tộc nào trên
thế giới không liên quan tới các cuộc xung
đột, xâm lấn, chống đỡ vũ trang
với các lực lượng ngoại giới. Dân
tộc Việt ngày nay sống trên dải đất
h́nh chữ S gọi là Việt nam có lẽ hiểu rơ
cái qui luật khắc nghiệt đó hơn ai hết
khi từng có 10 thế kỷ liên tiếp phải
sống dưới sự cai trị của
cường quyền phương Bắc và liên
tục phải chống đỡ các cuộc xâm
lấn, “bài học” đến từ các triều
đại, chính quyền tiếp sau đó từ
phương Bắc. Dù đă lấy lại
được nền độc lập và từng
tạc nên những trận thắng oanh liệt,
thậm chí có cả những ư nghĩ táo bạo
lấy lại đất Lưỡng Quảng , dân
tộc Việt cần phải nh́n nhận trường
lịch sử chống đỡ đă nói lên sự
thụ động và yếu thế thuộc về
dân tộc Việt. Cho dù nhân loại ngày nay đă
tạo dựng được những thiết
chế tầm cỡ quốc tế và khu vực
như Liên hợp quốc (UN), Tổ chức an ninh và
hợp tác châu Âu (OSCE), Diễn đàn an ninh khu vực
ASEAN (ARF),… để giải quyết xung đột,
ngăn chặn các hành vi xâm lấn, kiến tạo
ḥa b́nh giữa các lănh thổ, nhưng sức mạnh
nội tại quốc gia vẫn là yếu tố
cốt yếu để ngăn chặn mọi
đe dọa, nguy cơ xâm lấn từ bên ngoài
bất kể tầm mức lănh thổ hay dân số.
Sự tự tin đàng hoàng của ḥn đảo
nhỏ bé Đài loan nằm cạnh Trung hoa lục
địa khổng lồ, của thành phố
quốc gia Sinh-ga-po nằm cạnh các nước to
lớn át hẳn về dân số và diện tích,
cũng như các quốc gia bé nhỏ nằm lọt
ở trung và tây Âu như Mô-na-cô, Lúc-xăm-bua, Áo là minh
chứng cho sức mạnh, thế chủ
động quốc gia không đến từ quá
khứ hay độ lớn về nhân lực, lănh
thổ. Sự xâm lấn, đe dọa từ
phương Bắc suốt mấy ngàn năm qua
đối với dân tộc Việt chỉ là
hậu quả tất yếu của một vị
thế chưa đủ sức tạo nên sự tôn
trọng từ ngoại bang. Việc lên án hay căm
hận truyền thống xâm lấn của
phương Bắc không nên được coi là
giải pháp căn cơ, mà phải coi là nguy cơ
gợi lại những hận thù đối với
dân tộc Việt khi những ẩn ức quá
khứ của người Chăm cũng trỗi
dậy. Nguy cơ này có thể là một giả
thuyết xa xôi, nhưng nó nhắc nhở thế
hệ ngày nay không thể xây dựng một
tương lai ḥa b́nh bằng những kư ức
hận thù hay mặc cảm. Ḥa b́nh chỉ
được kiến tạo và duy tŕ khi sức
mạnh được cân bằng trong mối quan
hệ giữa các quốc gia trên một tinh thần hữu
nghị, b́nh đẳng và hiểu biết lẫn
nhau.
Để tránh mầm
chiến tranh từ ngoại bang và ước
vọng một tương lai thịnh vượng,
dân tộc Việt dứt khoát phải tạo
dựng cho được sức mạnh nội
tại và chủ động trong phát triển.
Sức mạnh nội tại của một dân
tộc không thể có khi những cá nhân của dân
tộc đó không thể tiếp cận, truyền
đạt, trao đổi những suy nghĩ, tư
tưởng một cách tự do. Sức mạnh luôn đến
từ trí tuệ. Mọi sức mạnh của
cộng đồng đều xuất phát từ trí
tuệ cá nhân, có thể chỉ là những suy tư,
băn khoăn, bức xúc đơn lẻ. Sự
kiềm chế, cách ly tư duy cá nhân bất kể lư
do hùng hồn nào cũng đồng nghĩa với
tiêu diệt sức mạnh dân tộc. Một dân tộc chỉ mạnh khi
biết nâng niu và tôn dưỡng những con
người có phẩm cách và tài năng. Phẩm cách
và tài năng của một con người phải
cốt ở tư tưởng, học thức,
chứ không phải ở tiền của hay chức
vị. Sự đúng
đắn của tư tưởng không phụ
thuộc vào tuổi tác hay quyền tước. Khi dân
tộc có đủ tự do về trí tuệ, khi
đó mọi tài năng của dân tộc sẽ
được huy động đầy đủ,
tránh được mọi nguy cơ bỏ sót, trù
dập mà bất cần đến những khẩu
hiệu, những lời hiệu triệu to tát. Con
đường phát triển của một dân
tộc có tự do về trí tuệ sẽ là con
đường chủ động để
đủ mẫn cảm và sáng suốt tránh khỏi
những lừa mỵ ngọt ngào nhất hoặc
nhanh chóng rút khỏi những bước hụt
lịch sử. Sự tự
do về trí tuệ sẽ giúp dân tộc biết
khước từ mọi ngụy biện về
độc quyền chân lư, độc quyền lẽ
phải, độc quyền về “ thiên tài” lănh
đạo và độc quyền về ḷng yêu
nước. Khi đó dân tộc sẽ tự tạo
được sức mạnh đủ tạo nên
sự b́nh đẳng, tôn trọng trong quan hệ
với mọi thế lực ngoại bang kể
cả những thế lực thiếu thiện ư
nhất.
Sức mạnh dân
tộc không thể hiện ở tốc độ
tăng trưởng GDP đạt hai hay nhiều con
số, nếu có, điều đó chỉ thể
hiện qui mô nền kinh tế so với dân số c̣n
rất thấp. Không có quốc gia phát triển nào dám
kỳ vọng tốc độ tăng GDP
đạt hai con số. Không có một quốc gia có
môi trường sống xanh và an lành lấy tốc
độ tăng GDP làm mục tiêu quan trọng.
Sức mạnh dân tộc không thể hiện ở
mức độ tăng vốn ODA, nếu có,
điều đó chỉ nói lên nợ nần mà dân
chúng phải gánh càng trĩu nặng. Sức mạnh
dân tộc làm sao có được khi hệ thống
giáo dục khước từ những tư
tưởng học thuật đa dạng của
nhân loại. Sức mạnh dân tộc không thể có
khi trí thức bị trù dập, tù đày chỉ v́ có
quan điểm khác giới cầm quyền. Sức
mạnh dân tộc không thể có khi những tấm
ḷng yêu nước xa xứ bị cho là “ khủng
bố” chỉ v́ mong muốn sự chuyển
đổi chính trị ḥa b́nh cho đất
nước. Sức mạnh dân tộc càng không
thể có khi tiếng kêu oan của dân chúng ngày càng
thống thiết, vô vọng. Không
có tự do, không thể có sức mạnh dân tộc
đúng nghĩa. Sự huy động dân chúng trong t́nh
trạng mất tự do để giành chiến
thắng trong cuộc chiến gần đây nhất
đă rút cục chỉ là một “ nỗi buồn”
cho chính những người đă xả thân.
Nếu chúng ta biết
bức xúc, căm phẫn trước hành
động thôn tính bờ cơi của ngoại bang,
chúng ta không thể im lặng trước cách hành
xử bất công của chính quyền người
Việt đối với người Việt. Hành
động xâm lấn bờ cơi ngoại bang hay
sự ức hiếp của chính quyền đối
với chính đồng bào của ḿnh đều
thể hiện của cường quyền, bất
công. Một chính quyền
đối kháng với người dân cũng sẽ
là một chính quyền có khả năng quị
gối trước ngoại bang. Bờ cơi, đất nước
chỉ có ư nghĩa khi những con người
sống trên đó được tôn trọng,
được đối xử công bằng và thân
ái. Quốc gia chỉ có ư nghĩa, dân tộc chỉ
có sức mạnh khi cộng đồng con
người sống trên đó biết nương
tựa vào nhau, biết chia xẻ vui buồn và giúp
nhau thăng tiến với sự tôn trọng mọi
khác biệt. Con đường nhận thức có
thể không thẳng tắp nhưng không thể
bỏ qua những vấn đề nền tảng.
Nhiều phần bờ cơi của tổ tiên đă
mất ,nguy cơ tiếp tục bị mất
đang hiển hiện. Dân tộc Việt nếu thực
sự hiểu được sự thiêng liêng
của từng tất đất tổ tiên
để lại không thể không cùng nh́n lại
để vực dậy sức mạnh nội
tại của dân tộc, đó chính là nguyên nhân sâu xa
của mọi âm mưu xâm lấn của ngoại
bang hoặc sự pḥng thủ chủ động
thành công của dân tộc.
Phạm Hồng
Sơn
Hà nội 10/12/2007
|