|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
Thị Trường
Chứng Khoán Việt-Nam:
Nguyên Nhân và
Hậu Quả của Sự Bất Ổn (*)
(12/09/2007)
Nguyễn Quốc Khải
Thị trường chứng khoán là một phần
của khu vực tài chánh của một quốc gia. Đây
là một nguồn vốn dài hạn quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế
của một nước. Người Việt
trước đây có tiền thường theo thói quen
mua vàng, ngoại tệ, hoặc bất động
sản để tiết kiệm và kiếm lời đồng
thời giảm ảnh hưởng của lạm
phát. Số tiền này là tiền chết, không lưu
hành được trong thị trường, không
sản xuất ǵ được. Ngày nay người
dân Việt Nam có thêm một môi trường để đầu
tư Thị trường chứng khoán thu hút một
phần nào món tiền chết khổng lồ kia và làm
giảm bớt gánh nặng của hệ thống ngân hàng
về nguồn vốn.
Bài phân tách dưới đây có ba phần. T́nh trạng
bất ổn của thị trường chứng
khoán được bàn trong phần đầu. Tiếp
theo là phần tŕnh bầy về nguyên nhân của
sự bất ổn. Sau cùng là phần hậu quả.
T́nh trạng bất ổn
Chỉ số của thị trường chứng
khoán Việt-Nam tăng 85% trong hai năm 2004-2005 và
tăng vọt 145% vào năm 2006. Nhưng trong 6 tháng
đầu của năm 2007 chỉ số này chỉ
tăng được 35%. Phân tách kỹ lưỡng
hơn, người ta thấy rằng vào cuối tháng
1 và đầu tháng 2, 2007, chỉ số của thị
trường chứng khoán Việt-Nam trong ṿng một
tuần lễ đă tăng gần 100 điểm
từ 974.76 vào ngày 26-01-2007 nhẩy vọt lên
đến 1,074.55 vào ngày 02-02-2007. Đây là một
mức gia tăng cao nhất từ khi thị
trường chứng khoán được thiết
lập vào tháng 7, 2000 với chỉ số đầu
tiên là 100.
Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (State Securities Commission
– SSC) tiên đoán rằng trị giá chứng khoán
liệt kê trên thị trường trị giá khoảng
4.5 tỉ Mỹ kim hay khoảng 30% của tổng
sản phẩm nội địa (gross domestic products –
GDP) vào năm 2007 và sẽ gia tăng đến 30-40
tỉ Mỹ kim tương đương vào khoảng
30-40 % của GDP vào năm 2010.
Vào đầu tháng 8-2007 Việt-Nam có 110 loại
chứng khoán liệt kê trên thị trường, 367
loại trái phiếu mà phần lớn là công phiếu,
và 2 quỹ đầu tư, tổng cộng trị
giá 5.11 tỉ Mỹ kim. Số người tham gia vào
việc đầu tư chứng khoán ở
Việt-Nam hiện nay vào khoảng 80,000. Vào năm 2010,
con số này có thể tăng gấp 3-4 lần.
Số công ty trung gian mua bán chứng khoán mọc lên
như nấm, từ 16 vào năm 2006 đă tăng lên
đến 56 cuối tháng 2, 2007. Công ty dệt may Vinatex
vừa mới đây tuyên bố sẽ mở một
phân bộ chuyên về chứng khoán. Số
chương mục chứng khoán cũng tăng
gần 4 lần từ 32,000 lên đến 120,000.
Tuy nhiên đến giữa năm nay của thị
trường chứng khoán đă nguội bớt. Chỉ
số vẫn tăng nhưng mức tăng ít hơn.
Người ta không thấy hiện nay thị
trường có khả năng vượt lên quá xa
mức tâm lư 1,000 điểm. Trong khi đó vào tháng 5 và
tháng 6, chỉ số chứng khoán của Việt-Nam
đă có lúc giảm dưới 1,000 điểm. Chỉ
số này xuống c̣n 883.9 vào ngày 6-8-2007.
Người ta hi vọng kế hoạch cổ
phần hóa một số công ty quốc doanh lớn
sẽ có thể làm cho chỉ số của Việt-Nam
lên cao trở lại. Nhưng v́ trạng thị
trường chứng khoán suy yếu, nhà nước
đă xếp kế hoạch này lại.
Nguyên nhân của sự
bất ổn
Vào đầu năm nay Ủy Ban Chứng Khoán Nhà
Nước đă thi hành một số biện pháp
để minh bạch hóa thị trường chứng
khoán, đồng thời hạn chế việc
đấu cơ bừa băi một cách vô trách nhiệm,
hăm bớt đầu tư và làm giảm con sốt
của thị trường này.
Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước tiếp tục duy
tŕ mức đầu tư ngoại quốc tối
đa là 49% của tổng số cổ phần
của mỗi công ty. Trong khi đó Ngân Hàng Nhà
Nước chỉ cho phép các ngân hàng được
sử dụng tối đa 20% vốn để mua
chứng khoán. Đối với tư nhân muốn vay
tiền để mua cổ phiếu họ phải dùng
tích sản như đất, nhà hoặc dụng
cụ để bảo đảm món tiền nợ. Những
biện pháp này nhắm làm giảm sức mua trên
thị trường chứng khoán.
Những quyết định này là những dấu
hiệu của một chính sách quản trị thị
trường vá víu, thiếu chặt chẽ, làm giảm
sự tin cậy. Đây cũng là một trong những
lư do khiến cho tập đoàn tài chánh Hoa-Kỳ Merrill
Lynch phải đổi hướng đi 180 độ.
Vào đầu năm 2006, Merrill Lynch công bố một
bản phúc tŕnh về tài chánh nói rằng, Việt-Nam là
ưu tiên hàng đầu của công ty ở vùng Á châu. Từ
đó, chi số cuả thị trường chứng khoán
Việt-Nam đă tăng 212% so với 45% cho cả vùng
Á châu và Thái B́nh Dương. Vào đầu tháng 7, 2007
công ty Merrill Lynch phổ biến một phúc tŕnh mới
nhất, và công bố quyết định rút ra khỏi
thị trường chứng khoán Việt-Nam đang
bị xoi ṃn v́ giá cao quá trị giá thực để
đầu tư vào thị trường Trung Quốc
và khuyến cáo khách hàng cũng nên làm như vậy. Một
trong những lư do Merrill Lynch quyết định
chuyển qua thị trường Trung Quốc là
tại Việt-Nam tỉ lệ P/E (price/earnings) tức
là giá của chứng khoán trên tiền lời thu về
vào khoảng 40% trong khi đó tại Trung Quốc
tỉ lệ này khá hơn gấp đôi là 18.9%. Nhiều
chứng khoán ở Trung Quốc có tỉ lệ P/E
dưới 19% và tỉ lệ EPS (earnings per share)
tức là lợi nhuận cho mỗi cổ phần,
trên 20%.
Phần đông những tư nhân mua chứng khoán
lại không hiểu biết về thị
trường và chỉ nhắm vào lợi nhuận trong
ngắn hạn, chưa thể tính đến việc
đầu tư dài hạn. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân làm giá cả lên xuống thất
thường. Họ chạy theo đám đông (yếu
tố bầy đàn) chứ không có một quyết định
tính toán sâu xa của những người chuyên môn trong
nghề. Mặt khác, những báo cáo tài chánh của các
công ty cổ phiếu vừa dài vừa phức tạp
với những danh từ chuyên môn khó hiểu và
mức tin cậy không bảo đảm c̣n rất xa
lạ với quần chúng Việt-Nam.
Nhiều người đầu tư cả Việt
lẫn ngoại quốc đổ tiền vào thị
trường chứng khoán v́ muốn kiếm lời
nhanh chóng. Nhân viên của nhà nước và các công ty
ở thành thị bỏ sở đi mua bán chứng khoán
trong giờ làm việc khiến cho nhà nước
phải ban hành luật lệ cấm nhân viên dùng giờ
làm việc để mua bán chứng khoán.
Mặt khác, các công ty môi giới mua bán chứng khoán thường
lại dấu diếm tin tức về các công ty và
thị trường tài chánh và c̣n cố t́nh tŕ hoăn
việc mua bán. Do đó gây bất lợi cho
người đầu tư.
Ngoài ra, những công ty ghi danh bán chứng khoán chỉ
đệ nap phúc tŕnh tài chánh cho UBCHNN. Phải mất
vài ngày những phúc tŕnh này mới được
phổ biến ra ngoài. Trong thời gian chờ
đợi những nhân viên phụ trách môi giới chứng
khoán này có thể sử dụng tin tức trong các
bản phúc tŕnh để mua bán chứng khoán cho chính
ḿnh. Trên thực tế đây chính là một h́nh
thức mua bán nhờ thông tin nội bộ (insider trading).
Theo những nhà phân tách thị trường, những
bản phúc tŕnh của nhiều công ty Việt-Nam
vẫn thiếu minh bạch và sai lệch.
Trầm trọng hơn là hiện tượng lũng
đoạn thị trường chứng khoán bởi
những “đại gia” từ cuối năm 2005. Ủy
Ban Chứng Khoán Nhà Nước chỉ ghi nhận
sự kiện này mà không đưa ra biện pháp nào
cả. Như ai cũng có thể tiên đoán
được, việc vi phạm luật chứng
khoán này đă lặng lẽ qua đi như không có ǵ cần
phải thắc mắc cả.
Một yếu điểm khác của thị
trường chứng khoán Việt-Nam là các công ty
Việt Nam có thói quen phát hành quá nhiều cổ
phiếu làm cho tỉ lệ EPS thấp xuống
đến 10% mà không cân nhắc lợi hại. Nguyên
tắc là các công ty chỉ nên phát hành thêm cổ
phiếu, khi việc kinh doanh phát triển tốt đẹp.
Trái lại các công ty Việt-Nam trên thực tế
thường vội vă phát hành thêm cổ phiếu khi mà
công việc kinh doanh không khả quan như mong
đợi. Các công ty này làm như thế để
không phải trả thuế trên số vốn thu vào. Nhưng
làm sao để tiêu thụ số tiền này có lời
lại là một vấn đề gai góc khác. Trong
nhiều trường hợp các công ty cổ phiếu
chỉ tách cổ phiếu ra làm nhiều cổ
phiếu nhỏ hơn chứ không phải v́ lợi
nhuận tăng.
Quan trọng không kém là việc cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước. Sau nhiều năm tŕ
trệ, Việt-Nam đă phải thi hành kế
họach này sau khi gia nhập Tổ Chức
Thương Mại Quốc Tế (World Trade Organization
– WTO). Việt-Nam dự trù ghi danh thêm 30 công ty quốc
doanh lớn vào thị trường chứng khoán. Với
số cổ phiếu của những công ty này dự
trù phát hành, mức cung cầu chứng khoán sẽ thay
đổi và số vốn của thị
trường chứng khoán sẽ gia tăng 100%,
tức là vào khoảng 10 tỉ Mỹ kim. Người ta
ước đoán rằng giới đầu tư
sẽ bán cổ phiếu của các công ty nhỏ và
chuyển qua những công ty lớn như Vietcombank.
Như đă đề cập ở phần trên,
kế hoạch cổ phần hóa các công ty quốc doanh
lớn đă bị tạm hoăn lại. Hai Ngân Hàng Thương
Mại Việt-Nam (Vietcombank) và Ngân Hàng Đầu
Tư và Phát Triển Việt-Nam (BIDV) công bố đ́nh
hoăn lại việc bán cổ phiếu dự trù vào
cuối năm nay. Thủ Tướng Nguyễn
Tấn Dũng cũng ra chỉ thị cho các doanh
nghiệp nhà nước, kể cả các ngân hàng
quốc doanh, nghiên cứu lại kế hoạch
cổ phần để làm giảm số cổ
phiếu trên thị trường. Do đó, nhiều nhà
phân tách thị trường cho rằng sẽ không có
một cơ sở kinh doanh lớn nào của nhà
nước sẽ bắt đầu cổ phần hóa
trong thời gian c̣n lại của năm 2007 và có thể
kể cả 2008.
Hiện nay tại Việt-Nam không một công ty nào ghi
danh với thị trường chứng khoán
được kiểm toán bởi một công ty
quốc tế. Việt-Nam chỉ có 11 công ty kiểm
toán địa phương được phép hoạt
động mà phần lớn c̣n yếu kém và mức
tin cậy và minh bạch của những báo cáo tài chánh
do những công ty soạn thảo c̣n là một vấn
đề cần được bàn thảo.
Để mở một công ty chứng khoán cần có 3
triệu Mỹ kim trong đó có 2 triệu Mỹ kim dành
cho phần mềm. Nhưng trên thực tế, các công ty
này chỉ đầu tư vài chục ngàn Mỹ kim vào
hệ thống thông tin.
Hàng ngàn người ở Việt-Nam đầu tư
vào chứng khoán của các công ty bán tư nhân trong
một thị trường bán chính thức qua Internet
và các mạng lưới mà tiếng Anh gọi là over-the-counter
(OTC) market. Tại Việt-Nam thị trường hoàn toàn
tự do, không có luật lệ nào chi phối. Ngay
cả người môi giới cũng không cần
giấy phép. Phần lớn các vụ mua bán chứng khoán
OTC xẩy ra ở ngoài đường phố.
Mặt khác mức lạm phát của Việt-Nam
hiện nay khá cao. Vào tháng 7-2007, chỉ số giá tiêu
thụ ở Việt-Nam tăng 8.4% so với năm
ngoái, cao hơn mức tăng trưởng GDP hàng
năm 8.1% trong 6 tháng đầu của 2007. Điều
này tạo sức ép trên lăi suất. Ngân Hàng Trung
Ương có thể tăng lăi suất để
ngăn chặn lạm phát hoặc bắt buộc các
ngân hàng tăng quỹ dự trữ để giảm
khối lượng tín dụng gia gia tăng trên
thị trường. Trong trường hợp này giá
chứng khoán sẽ giảm xuống.
Hậu quả của
sự bất ổn
Vào cuối tháng 2, 2007, Ông Il Huong Lee, đại diện
Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tại Hà Nội
nhận xét rằng “Chính phủ Việt-Nam lo ngại
một cách rơ rệt rằng, giá chứng khoán trên
thị trường tiếp tục tăng, và
nhiều quan sát viên cho rằng giá cao hiện nay là
giả tạo. Điều nay sẽ dẫn
đến một số vấn đề nếu có
sự điều chỉnh giá chứng khoán quá nhanh v́
hiện nay có rất nhiều người địa
phương đầu tư vào thị trường
chứng khoán.”
Thật vậy vào giữa tháng 4-2007, khi chỉ số
chứng khoán của Việt-Nam giảm xuống
dưới mức 1,000 điểm, người ta
bắt đầu lo ngại rằng thị
trường sẽ bị khủng hoảng. Trong
trường hợp này hàng ngàn người sẽ
bị phá sản và dẫn đến bất ổn xă
hội v́ nhiều người vay nhiều tiền
của ngân hàng hoặc cầm nhà để vay nợ
mua chứng khoán.
TS Marc Faber, người đă tiên đoán sự
khủng hoảng tài chánh vào năm 1987, vào đầu
năm 2007 đă nhận xét rằng chứng khoán
của Việt-Nam có thể giảm 50% để
phản ảnh trị giá thực tế. Tại
Hội Nghị về tài chánh ở Hà Nội vào tháng
3-2007, các nhà phân tách đă cảnh báo rằng thị
trường Việt-Nam giảm 30% trong năm nay là một
điều khá rơ ràng.
Tuy nhiên một số người lạc quan không tin
như vậy. Dragon Capital, một công ty quản
trị vốn đầu tư ở Việt-Nam,
nhận định rằng Merrill Lynch phân tách sai lầm
về thị trường chứng khoán Việt-Nam v́
công ty này không có văn pḥng ở Việt-Nam nên không
hiểu rơ thị trường Việt-Nam. Merrill Lynch
chỉ dùng dữ liệu của một vài công ty
chứng khoán. Thật vậy, tỉ lệ P/E sẽ
là khoảng 20% hay cao hơn một chút nếu công
thức bao gồm nhiều chứng khoán. Cũng theo
công ty Dragon Capital, chỉ số P/E của Việt-Nam
sẽ là 26% trong năm 2007, và 22% trong năm 2008. Như
vậy, đầu tư vào Việt-Nam là một
việc hợp lư.
Việt-Nam có một ưu điểm là thị
trường chứng khoán c̣n trong giai đoạn
đầu của tiến tŕnh phát triển. Do đó,
ở Việt-Nam có nhiều cơ hội để mua
những chứng khoán ít rủi ro với giá thấp.
hơn là ở Trung Quốc, nơi mà thị
trường chứng khoán đă phát triển mạnh. Rất
khó t́m mua được cổ phiếu của các công
ty lớn tại Trung Quốc với giá cả hợp
với túi tiền.
Một số người lập luận rằng kinh
tế Việt-Nam đang phát triển tốt
đẹp, đầu tư nước ngoài tiếp
tục đổ vào Việt-Nam, và những nhà lănh
đạo cao cấp của Đảng CSVN
đầu tư rất nhiều vào chứng khoán. V́
vây thị trường không thể khủng hoảng
được. Tuy vậy, khả năng kiểm soát
thị trường của CSVN c̣n là một
điều phải cứu xét lại v́ nhà nước
hiện không đủ chuyên viên để điều
hành thị trường chứng khoán một cách
đúng mức. Ngay cả Ủy Ban Chứng Khoán Nhà
Nước chỉ có 10 thanh tra trông coi 198 công ty ghi danh
với hai trung tâm chứng khoán Saigon và Hà Nội.
Ngược lại, một số người lo
ngại rằng Việt-Nam là một nước
Cộng Sản. Những nhà lănh đạo Hà Nội có
thể thay đổi chính sách bất cứ khi nào
nếu họ cảm thấy mất quyền kiểm
soát. Việt-Nam đă từng toan tính làm như thế
vào cuối thập niên 80 sau khi có cuộc khủng
hoảng tài chánh Á châu và các nước chư hầu
của Liên Xô ở Đông Âu bắt đầu nối
tiếp nhau xụp đổ. Theo người
viết, sự lo ngại này không có căn bản vững
chắc. Ngày nay, Việt-Nam đă hội nhập vào
nền kinh tế thế giới với nhiều cam
kết song phương và đa phương. Sự
kiện này giới hạn khả năng hành
động tùy tiện của những người
lănh đạo Đảng CSVN.
Nếu thị trường chứng khoán không
điều chỉnh được an toàn và thay
đổi mau chóng, t́nh trạng này sẽ có ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia. Sự
phát triển sẽ giảm xuống. Theo sự
ước đoán của tâp đoàn tài chánh Merril Lynch, nếu
mức tăng trưởng kinh tế của
Việt-Nam giảm xuống dưới 7% sẽ đưa
đến sự bất ổn xă hội v́ mỗi
năm lại có khoảng 1.4 triệu người
mới bước chân vào thị trường việc
làm.
Kết luận
Sau một thời gian khá dài với nhu cầu mua
cổ phiếu rất cao đă đẩy chỉ
số chứng khoán và giá cổ phiếu lên mạnh,
thị trường chứng khoán Việt-Nam đang
bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Sau khi Merrill Lynch xuất bản phúc tŕnh tài chánh vào tháng
2, 2006, chỉ số chứng khoán của Việt-Nam
đă tăng gấp ba và giá cổ phiếu cũng gia
tăng một cách đáng kể. Trước khi
bản phúc tŕnh mới nhất của Merrill Lynch
phổ biến vào đầu tháng 7, 2007, chỉ số
chứng khoán cũng đă bắt đầu giảm.
Ông Spencer White trước đây làm cho Merrill Lynch
nhận định rằng bản phúc tŕnh mới
đây của Merrill Lynch chỉ phản ảnh quan
điểm đầu tư ngắn hạn của
công ty này trên căn bản so sánh Việt-Nam với các
thị trường khác ở Á châu và đặc
biệt là Trung Quốc.
Các công ty tài chánh lớn khác của Hoa-Kỳ như J.P.
Morgan và Citigroup vẫn tiếp tục hoạt
động tại Việt-Nam. Trong ṿng vài tháng t́nh
trạng sẽ lại thay đổi. Chỉ những
cá nhân ít vốn, đầu tư theo đám đông là
có thể bị thiệt hại lớn trong giai
đoạn xáo trộn.
Thị trường chứng khoán Việt-Nam c̣n phôi
thai và mong manh. Tỉ lệ vốn của thị
trường chứng khoán so với GDP c̣n rất
thấp. Như một đứa bé đang tập
đi, thị trường chứng khoán Việt-Nam c̣n
nhiều khiếm khuyết phải sửa đổi
và sẽ phải trải qua nhiều gian nan mới có thể
đứng vững. Hiện nay chỉ có khoảng 5%
dân số sử dụng dịch vụ ngân hàng. Do
đó, thị trường tài chánh Việt-Nam bao
gồm cả chứng khoán và trái phiếu là lănh
vực với tiềm năng lớn đang chờ
được khai thác.
Nếu Việt-Nam không cải tiến thị trường
chứng khoán, những nhà đầu tư không
những có thể chuyển tiền qua thị
trường Trung Quốc đă phát tiển rộng
lớn mà c̣n có thể chọn lựa Nam Dương,
một quốc gia dân chủ lớn thứ ba trên thế
giới, có tiềm năng như Việt-Nam nhưng
phát triển và ít rủi ro hơn Việt-Nam.
Tài liệu tham
khảo:
(1) Intellsia, “Government Could Delay IPO Of Giants Over Bear Stock
Market”, 08-08-2007.
(2) Hong Le, “Khi nàng Merrill Lynch cho điểm 0”, 20-07-2007.
(3) Roger Milton, “Fears of a Viet stock crash lead to social unrest,”
The Straights Times (Singapore),
April 21, 2007.
(4) Amy Kazmin, “Stock market mania grips Vietnam’s middle classes,”
Financial Times, February 24, 2007.
(5) Kay Johnson, “Vietnam’s
Stock market madness,” Time, February 22, 2007.
(6) Matt Steinglass, “Vietnam Introduces New Rules to Curb Stock speculation,”
January 22, 2007.
(7) Lara Wozniak, “Merrill Lynch touts the virtues of Vietnam,
Finance Asia, February 9, 2006.
(8) Carl Delfeld, ”Next stop is Vietnam,” Forbes, August 24,
2006.
(9) Frederik Nalfour, “Saigon’s Stock
market surges,” Business Week, September 11, 2006.
(10) Vietnam Investment Review, “PM sees bourse as integral part of the
economy,” July 5, 2004.
(*) Bài phân tích này khai triển từ bài phỏng vấn
của RFA đă được thực hiện và phát
thanh vào ngày 16-08-2007.
Trích:Vietnam
Review.
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|