|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
Trí
thức là ai ?
Nguyễn Quang A
(VietNamNet) - Báo điện tử
VietNamNet và Tạp chí Khoa học và Tổ quốc
đang mở cuộc thảo luận về chủ
đề "Trí thức Việt Nam". Chúng tôi xin
trân trọng giới thiệu ư kiến tham gia của Tiến
sĩ Nguyễn Quang A.
Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay (với
cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông, với
sự phổ biến của Internet, với sự bành
trướng sức mạnh của thông tin, của biểu
tượng, với sự tiến nhanh đến nền
kinh tế tri thức) th́ vai tṛ và trách nhiệm của
trí thức là rất lớn lao. Trên Vietnamnet đang có
cuộc tranh luận về trí thức Việt Nam mạnh
hay yếu. Bài này mong góp vài ư kiến về chủ
đề này.
Khái niệm trí thức
Nói đến mạnh và yếu là vô t́nh
đă gắn giá trị cho khái niệm. Mạnh là thế
nào, yếu là ra sao? Dựa vào Hayek, đầu tiên tôi muốn
làm rơ khái nhiệm trí thức là ǵ, và chỉ sau đó mới
gán giá trị để có thể đánh giá. Trong tiểu
luận “Trí thức và Chủ nghĩa xă hội” viết
năm 1949 F. A. Hayek đă phân tích rất sâu sắc về
vai tṛ to lớn của trí thức lên diễn tiến
chính trị. Ông gọi trí thức là những người
buôn bán đồ cũ chuyên nghiệp về tư
tưởng, tức là những kẻ truyền đạt
tư tưởng của những người khác
(như tư tưởng của Plato, Khổng tử,
Đức Phật, Chúa Jesus, Adam Smith, Karl Marx, Einstein,
v.v). Họ có quyền lực to lớn. Ông cho rằng
“họ nắm được quyền lực này bằng
định hướng dư luận”. “Cái đối
với người quan sát đương thời có vẻ
như là cuộc đấu tranh của các lợi ích
mâu thuẫn nhau, thực ra thường đă
được quyết định trước từ
lâu trong một cuộc đụng chạm của các
tư tưởng được giới hạn ở
các giới hẹp” của các trí thức.
Theo ông, các trí thức “không chỉ gồm các
nhà báo, các nhà giáo, các mục sư, các giảng viên, những
người làm quảng cáo, các nhà b́nh luận radio, các
nhà văn hư cấu, những người vẽ
tranh biếm họa, và các nghệ sĩ, tất cả
những người có thể là các bậc thầy về
kĩ thuật truyền đạt tư tưởng,
nhưng thường là những kẻ nghiệp dư
ở chừng mực liên quan đến thực chất
cái mà họ truyền đạt”. Trí thức “cũng gồm
nhiều nhà chuyên nghiệp và kĩ thuật, như các
nhà khoa học và các bác sĩ, những người thông
qua giao thiệp quen thuộc của họ với ấn
phẩm mà trở thành những người mang các
tư tưởng mới bên ngoài lĩnh vực riêng của
họ và là những người, v́ tri thức chuyên gia
của họ về các chủ đề riêng của họ,
được lắng nghe với sự kính trọng
về hầu như mọi thứ khác.
Có ít thứ mà ngày nay người thường
biết về các sự kiện, trừ thông qua trung
gian của giai cấp này; và ngoài các lĩnh vực công
tác đặc biệt của ḿnh tất cả chúng ta
về khía cạnh này hầu như đều là những
người thường, để có thông tin và kiến
thức của ḿnh chúng ta phụ thuộc vào những
người biến nó thành việc làm của họ
để theo kịp dư luận. Chính các trí thức
theo nghĩa này là những người quyết định
quan điểm và dư luận nào đến với
chúng ta, các sự thực nào là đủ quan trọng
để được nói với chúng ta, và chúng
được tŕnh bày ở dạng nào và từ góc cạnh
nào. Chúng ta sẽ có bao giờ biết được
các kết quả công việc của chuyên gia và nhà
tư tưởng ban đầu hay không, chủ yếu
phụ thuộc vào quyết định của họ”.
Theo nghĩa rộng có thể coi tất cả
những ai sống bằng nghề gắn với thông
tin, tri thức, khoa học đều là trí thức. Các
học giả, các nhà tư tưởng, các chuyên gia,
các nghệ sĩ sáng tạo là một tập con của
tập hợp các trí thức (có người chỉ coi
những người này là trí thức, nhưng ngoài lĩnh
vực của họ th́ về các lĩnh vực khác họ
cũng chỉ là những người thường nên
việc chỉ coi những người này là trí thức
sẽ hạn chế sức mạnh của khái niệm).
Trí thức lại là một tập con của những
người lao động trí óc (không lao động chân
tay) và hai tập này có xu hướng trùng lên nhau (tức
là số lao động trí óc không được coi là
trí thức giảm đi). Tại các nước phát
triển tỷ lệ của lao động chân tay liên
tục giảm và chỉ c̣n là con số nhỏ.
Giá trị của trí thức
Cho đến đây chúng ta chưa gán bất
cứ phán quyết giá trị (tốt-xấu,
đúng-sai, hay-dở, v.v.) nào cho khái niệm trí thức.
Có người thường gắn phán xét giá trị
cao sang, tốt đẹp, ưu tú cho trí thức.
Như thế e làm giảm giá trị mô tả của
khái niệm, và không thật khách quan, v́ thiếu chi những
kẻ xấu, đớn hèn, không trung thực trong hàng
ngũ những người được coi là trí thức,
và có nhiều loại tư tưởng. Nếu gắn
giá trị tốt đẹp cho trí thức th́ thật
khó phân tích các hiện tượng liên quan đến
trí thức. Làm sao để cho họ có các đức
tính tốt (và tốt là thế nào?) lại là vấn
đề khác.
Theo cách hiểu trên ở các nước phát
triển trí thức là giai cấp lớn nhất về
số lượng và thực sự họ không chỉ
có ảnh hưởng lớn đến diễn tiến
chính trị mà thực ra họ là những người
lănh đạo xă hội, hơn thế nữa họ
là những người thực sự tạo ra phần
lớn nhất của cải xă hội. Đấy là
sự thực. Và như thế trách nhiệm trên vai
giai cấp trí thức là hết sức to lớn.
Trong thế giới hội nhập với sự
phát triển của truyền thông và Internet, khi cơ hội
cho việc phát biểu ư kiến là hết sức dễ
dàng, th́ người trí thức một mặt phải
có ḷng dũng cảm nói lên ư kiến của ḿnh, đấu
tranh v́ những giá trị phổ quát của nhân loại
như tự do, b́nh đẳng (thực ra là giảm bất
b́nh đẳng) hạnh phúc, thịnh vượng, công
bằng xă hội (thực ra là giảm bất công xă hội).
Trí thức phải trung thực, độc lập,
sáng tạo, tự chủ, góp sức ḿnh cho sự nghiệp
phát triển của đất nước, mặt khác
phải có trách nhiệm và cân nhắc về những
điều ḿnh nói và ḿnh viết v́ chúng có thể có tác
động sâu sắc đến xă hội.
Đấy là những đ̣i hỏi mang tính
giá trị với trí thức. Trong số đó tính trung
thực có lẽ là quan trọng nhất. Các đặc
tính (đáng mong mỏi) mang tính giá trị ấy không phải
là cái vốn có như vậy mà phải xây dựng, h́nh
thành và chúng chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố chính trị và kinh tế-xă hội, nhất
là các chính sách.
Trí thức Việt Nam
Vậy trí thức Việt Nam thế nào? Trong
chế độ chuyên chế với nền kinh tế
tiểu nông, tự cung tự cấp, th́ mục tiêu
quan trọng nhất của người đi học
vào thời kỳ đó là để làm quan. Làm quan tức
là phục vụ chính quyền, nên cái ư mà có người
cho rằng trí thức Việt Nam có tính cách “pḥ chính thống”,
“thích được chính quyền sử dụng”
(như nêu trong bài của GS. Chu Hảo) là điều dễ
hiểu nh́n từ bối cảnh lịch sử hàng
ngàn năm của nước nhà.
Hiện nay có biết bao nhiêu trí thức ca
thán về việc “không được trọng dụng”
cũng thể hiện nguyên đức tính cổ
xưa ấy. Một thời bằng “sổ gạo”, bằng
“biên chế”, bằng “lư lịch” và bao nhiêu “chế
độ” khác người trí thức đă bị cột
chặt lại, muốn giữ kế sinh nhai th́ nhất
quyết phải “pḥ chính thống”, ai dám cả gan nói
ngược (mà tư tưởng th́ rất nhiều
loại, nên luôn có những trí thức truyền bá nó)
th́ tuyệt đường tồn tại. Cái môi
trường nó bắt trí thức phải “hèn”, biến
trí thức thành những kẻ sống “kư sinh”, mất
hết tính độc lập và sáng tạo.
Muốn “hiền tài là nguyên khí quốc gia” trở
thành sự thực, muốn trí thức đóng góp xứng
đáng cho đất nước chắc chắn cần
nhiều thay đổi. Mà là thay đổi từ cả
hai phía, nhà chức trách và bản thân trí thức. Điều kiện
cần cho sự phát triển lành mạnh của trí thức
là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận,
điều đă được Chủ tịch Hồ
Chí Minh nêu trong Hội nghị Trung ương tháng
11/1940 và sau đó được thể hiện trong bản
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập.
Với hội nhập ngày càng sâu vào quá tŕnh
toàn cầu hóa, điều kiện để đạt
được tự do ngày càng lớn. Với sự
độc lập hơn về kinh tế, với sự
tiếp cận thông tin và tư tưởng dễ dàng
hơn nhờ Internet và truyền thông, với hiểu
biết ngoại ngữ tốt hơn, với sự dễ
dàng hơn để bày tỏ ư kiến (do có hàng triệu
máy tính, camera số, máy điện thoại di động)
trên báo chí, trên mạng, th́ tất cả mọi người,
kể cả trí thức càng có khả năng hơn
để đạt được quyền tự
do.
Nhưng trong môi trường ấy trí thức
cũng cần có trách nhiệm hơn, có ư thức xây dựng
hơn nếu muốn phát huy vai tṛ to lớn của
ḿnh.
Trích: Vietnam
Net 30.1.07
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|