DC&PT - Thời Sự 2007

 

 

 

 

  

 

 

 

 

Nguyên nhân của một thực trạng đáng SOS!

 

Nguyễn Đ́nh Nguyên *

 

Về nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học, chúng ta thấy rất rơ rằng chúng ta đang ở trong “vùng trũng”. Nếu chỉ so sánh với các nước trong khu vực không thôi, về các nghiên cứu chúng ta đă được đăng tải trên các tập san quốc tế sẽ thấy rơ qua các bài viết đă được đăng tải trong nước của các tác giả Phạm Duy Hiển, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Tuấn..., thiết nghĩ không cần phải đề cập lại vấn đề là cần nghiêm túc nh́n nhận nguyên nhân của hiện tượng đáng SOS đó.

 

Nguyên nhân của thực trạng


Trước hết chúng ta phải nói ngay đến những người lănh đạo đầu ngành khoa học, giáo dục, liệu họ đă phải là những người có tầm vóc và cập nhật được kiến thức quốc tế hay chưa?
Nằm trong một thực trạng chung là các nhà lănh đạo đầu ngành của chúng ta được chọn lựa theo cơ chế cử tuyển chứ không qua cơ chế tuyển trạch. Chúng tôi nghĩ cần phải thay đổi cơ chế làm việc này. Lănh đạo một nhóm nghiên cứu khoa học cũng như lănh đạo của một công ty. Đă là một chức vụ th́ cần phải có cơ chế cạnh tranh, đó là tuyển lựa theo đơn xin việc chứ không phải là cử tuyến.
Cũng nằm trong khâu này, chúng ta đă có cơ chế không giống các nước về hệ thống đào tạo những nhà nghiên cứu thực thụ (tiến sĩ và hậu tiến sĩ) và những chức vụ thực thụ (giáo sư).
Chúng ta đang có một cơ chế thúc đẩy việc học lấy bằng tiến sĩ là một h́nh thức mua danh, mua tước. Có những người lănh đạo phải “hợp thức hóa” bằng cấp để phù hợp với địa vị lănh đạo, đó là một cơ chế sai lầm. Tiến sĩ được đào tạo ra trước hết là để làm việc chứ không phải để làm lănh đạo. Lănh đạo chẳng qua cũng chỉ là một nhiệm vụ và phải qua tuyển lựa để chứng tỏ khả năng. Lănh đạo nhiều khi không nhất thiết phải là tiến sĩ hay giáo sư. Giống như thế, ở nước ta, giáo sư được coi như là một phẩm hàm, có tính cách tưởng thưởng công và cũng dựa vào đó mà lên chức, lại là một sai lầm. Cần phải coi giáo sư như một vị trí công tác, lănh đạo đầu ngành hay lănh đạo một nhóm nghiên cứu, đào tạo. Đă là vị trí công tác th́ cần phải qua tuyển lựa và qua tiêu chuẩn tuyển lựa. Lănh đạo làm được việc th́ được tái bổ nhiệm, không được việc th́ tái tuyển chọn, chứ giáo sư không phải làm một phẩm hàm suốt đời.


Thứ hai, về nhân lực. Hệ thống đào tạo tiến sĩ của chúng ta có vấn đề. Ngay ở cơ chế, như đă nêu, đào tạo tiến sĩ v́ mục đích danh xưng nhiều hơn là v́ phụng sự và cống hiến cho khoa học. Hệ quả là các tiến sĩ của chúng ta được đào tạo trong nước ra ḷ hàng loạt nhưng con số làm được việc có lẽ c̣n quá khiêm tốn. Chúng ta hàng năm có hàng trăm đến hàng ngàn tiến sĩ ra ḷ nhưng không có bao nhiêu công tŕnh nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn, được đăng tải trên tập san quốc tế. Đó là một nghịch lư thấy rơ.
Chúng ta có thể bao biện rằng  giáo sư quốc nội, tiến sĩ cấp quốc nội khác giáo sư, tiến sĩ quốc tế. Điều đó có thể chấp nhận được khi chúng ta chỉ đứng ở “sân chơi khoa học” riêng lẻ, chứ không thể đặt vấn đề “hoàn cảnh” khi chúng ta hội nhập quốc tế. Chúng ta không thể nào biện hộ được khi các chuyên viên đầu ngành, các nghiên cứu viên trong nước đi tham dự hội thảo quốc tế mà không t́m được tiếng nói chung với đồng nghiệp quốc tế.


Thứ ba, về vấn đề cập nhật thông tin, liệu chúng ta có được cập nhật thông tin hay không? Câu trả lời có thể có hai vế: vế thứ nhất là về mặt cung cấp thông tin. Dù rằng việc truy cập internet ở Việt nam hiện nay là khá phổ biến, tuy nhiên lại có sự phân bố bất hợp lư. Trường đại học phải là những nơi có trang bị hệ thống truy cập thông tin hiện đại nhất và cập nhật nhất.
Nhưng chúng tôi hiếm thấy có một trang web của bất kỳ một trường đại học nào ở Việt nam đạt được một tiêu chuẩn trung b́nh. Vấn đề tường lửa cũng là một sự cản trở truy cập thông tin phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy. Qua mấy kỳ công tác trong những năm vừa qua, chúng tôi rất vất vả nếu không nói là bất lực khi ngồi ở Việt nam để truy cập internet t́m tài liệu. Chỉ lưu lại Việt nam một vài tuần, chúng tôi cảm giác gần như bị lạc hậu nhiều so với đồng nghiệp. Thư viện là bộ mặt của trường đại học, là bộ mặt của tri thức, thế mà hệ thống thư viện ở các trường đại học Việt nam quá cũ kỹ, thô sơ và gần như là hoạt động không hữu hiệu. Vế thứ hai là về kỹ năng truy t́m thông tin của sinh viên đại học Việt nam quá kém. Họ không được đào tạo kỹ năng này, v́ thế họ cũng sẽ khó khăn trong việc t́m kiếm các thông tin khoa học cần thiết và cập nhật.
Từ những yếu kém kể trên của GD-ĐT dẫn đến thực trạng khoa học của nước ta hiện nay trong t́nh trạng đất nước đi vào con đường hội nhập là bấp bênh và khá lạc điệu. Chúng ta chưa có một tiếng nói chung với thực trạng khoa học không nói ở tầm vóc quốc tế lớn mà vẫn chưa có tiếng nói chung với các nước trong khu vực.


2.Việc có một trường đại học ở top 200 không phải là cái đích chúng ta đến. Xếp hạng chỉ là một hệ quả của một quá tŕnh hoạt động, làm việc. Làm bao nhiêu th́ được hưởng bấy nhiêu, c̣n việc xếp hạng chỉ có tính tương đối.  Theo chúng tôi, mục tiêu nên đặt ra là cần phải có một trường được công nhận trên trường quốc tế (internationally recognized) hoặc cao hơn là đạt đẳng cấp quốc tế (world class). Nếu đặt mục tiêu cụ thể như vậy th́ điều phải làm ǵ sẽ rơ ràng và cụ thể hơn.
Nói đến một đơn vị trường đại học chúng ta chỉ có các đối tượng: cấu trúc hạ tầng, giảng viên và sinh viên. Đă nói đến tầm vóc quốc tế th́ cấu trúc hạ tầng phải đạt tầm vóc quốc tế, đội ngũ giảng dạy phải đạt tầm vóc quốc tế, và sinh viên địa phương phải có lối học như sinh viên quốc tế.
Thế nào là một cơ sở hạ tầng đại học quốc tế:
Một trường đại học có tầm vóc quốc tế đó thường là một môi trường đậm tính khoa bảng, nơi mà mọi sinh hoạt phục vụ học tập và giảng dạy phải là một quy tŕnh kín.


Nơi đầu tiên phải nói đến của một trường đại học phải là thư viện, đó là kho tang tri thức, là bộ mặt của trường đại học. Thư viện cần phải có cấu trúc sao cho phù hợp với cơ số sinh viên của trường, nơi có một môi trường thân thiện và thuận lợi cho sinh viên và nghiên cứu viên t́m tư liệu để học tập và nghiên cứu.
Sách tham khảo: Cần phải đầy đủ và cập nhật. Bố trí theo cách thức sao cho sinh viên có thể tự động t́m kiếm sách ḿnh cần t́m. Nhân viên thủ thư chỉ là người hướng dẫn khi cần thiết, và giải quyết các thủ tục mượn sách cũng như t́m kiếm liên hệ mượn sách nơi khác khi có yêu cầu.
Ngoài sách đóng quyển có trong thư viện của trường th́ việc liên kết với các trường khác để có thể gia tăng cơ số sách có thể trao đổi chéo, nhằm đáp ứng nhu cầu đọc.
Một bộ phận trong thư viện mới mà gần như đóng một vai tṛ rường cột đó là thư viện điện tử. Thư viện điện tử của một trường đại học phải thuê bao các thư viện điện tử quốc tế lớn để có thể truy cập được gần như đầy đủ các tài liệu lưu trữ trên mạng phục vụ các ngành liên quan đế mục đích đào tạo của trường, học tập của sinh viên và nghiên cứu. Do đó dịch vụ phần cứng và phần mềm cũng cần phải đủ mạnh để có thể đáp ứng được việc truy nhập và truy xuất thông tin nhanh chóng. Thủ thư cũng có nhiệm vụ đáp ứng t́m kiếm các tư liệu điện tử không có trong hệ thống thuê bao của trường một khi có yêu cầu.
Phần cấu trúc và không gian của thư viện trường đại học cần phải có đủ chỗ rộng răi, riêng tư để sinh viên có thể học tại thư viện. Pḥng lab thư viện cũng phải có một cơ số máy tính nhất định để sinh viên và nhân viên sử dụng.
Phần đầu tư xây dựng cơ bản cho một trường đại học mang tầm vóc quốc tế là một yếu tố quan trọng khác, chúng tôi không bàn sâu ở đây.


Thứ hai là giảng viên mang tầm vóc quốc tế:
Để có một trường có tầm vóc quốc tế, đội ngũ giáo sư, giảng viên của trường đại học đó phải đủ tầm vóc quốc tế. Có nghĩa là giáo sư giảng dạy tại trường phải là những giáo sư có uy tín trên trường quốc tế về chuyên ngành của ḿnh về những điểm: được đồng nghiệp quốc tế cùng ngành công nhận, có bề dày nghiên cứu về chuyên ngành của ḿnh, có công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế theo đúng yêu cầu của một vị giáo sư quốc tế, có thành tích về xin tài trợ nghiên cứu, có kinh nghiệm lănh đạo nhóm nghiên cứu quốc tế và có kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh quốc tế. Nếu xét về những yếu tố này, trong thời điểm xuất phát hiện nay, chúng ta không có cơ sở nào để tự tin phát biểu được rằng trong ṿng 13 năm nữa, chúng ta sẽ có được một đội ngũ giáo sư đại học có tầm vóc quốc tế.
T́nh trạng này cũng tương tự như các trường đại học khác trên thế giới. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, các trường có chủ trương thuê các giáo sư có tầm vóc quốc tế về để lănh đạo chuyên môn của từng chuyên ngành. Riêng Trung quốc, họ có chính sách đăi ngộ các vị giáo sư và nghiên cứu người Trung quốc ở hải ngoại có tầm vóc quốc tế, về làm việc và hưởng lương theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là một bài học cần thiết đối với ngành giáo dục Việt nam.
Do đó hệ quả kéo theo là giá chi trả cho một giáo sư quốc tế là việc phải tính đến.


Thứ ba, là cần phải có một lực lượng sinh viên nội địa đạt tŕnh độ đầu vào ngang cấp quốc tế. Chúng ta cần phải thấy rơ rằng môi trường sinh viên là một yếu tố quan trọng. Đa số các sinh viên Việt nam đi du học theo dạng học bổng ở các nước ngoài đạt được thành tích cao. Điều đó có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Yếu tố chủ quan là chính các sinh viên đó vốn đă là các sinh viên ưu tú của Việt nam, họ đă có tố chất để thích nghi nhanh và bắt kịp với cách học và nghiên cứu của sinh viên quốc tế. Yếu tố khách quan là họ là những thành tố đơn lẻ trong một môi trường sinh viên quốc tế, cho nên họ có đủ cơ hội để học hỏi những sinh viên quốc tế xung quanh ḿnh. Nó giống như người học tiếng Anh, th́ sẽ tiến bộ nhanh hơn nếu được sống trong môi trường nói tiếng Anh mẹ đẻ. Ngược lại, tương tự như vậy, nếu sinh viên đó chỉ học đại học trong nước, th́ họ cũng sẽ không thoát ra được môi trường giáo dục ở trong nước.
Yêu cầu của đội ngũ sinh viên đầu vào như vậy cần chuẩn bị bao nhiêu lâu? Có lẽ thời gian sẽ đúng bằng từ lớp mầm non đến khi họ vào đại học nếu nền giáo dục Việt nam cải tổ ngay từ bây giờ và đúng hướng.
Một số các thí dụ: Yêu cầu cho một sinh viên quốc tế là họ phải có tính tự học, độc lập, chủ động. Điều này không phải chỉ ra yêu cầu, hô khẩu hiệu mà làm ngay được. Họ phải được rèn luyện và đào tạo đức tính này ngay khi bước vào trường mầm non. Không thể nào có được một sinh viên có tính làm việc độc lập, tự học và sáng tạo, một khi học sinh từ lớp 1 cho đến 12, hàng ngày phải ngồi vào lớp trật tự theo bàn. Trên bảng thầy giáo thao thao bất tuyệt giảng bài, dưới lớp học tṛ cắm cố thi nhau chép. Đến buối trả bài như vẹt. Tất cả kiến thức là từ thầy trao truyền, được chữ nào, học tṛ học bài thuộc long th́ nhớ từng đó, để đối phó với bài kiểm tra, bài thi chứ không phải để hiểu biết. Trong khi đó, học sinh tiểu học ở Úc chẳng hạn, đến trường hầu như chẳng có sách vở ǵ, tất cả các bài học do giáo viên thiết kế, về nhà không có bài tập ở nhà; bài tập th́ dễ. Thế mà khi đến ngưỡng đại học, sinh viên của họ hoàn toàn có một tư duy và cách học hết sức năng động, độc lập. Vấn đề chỉ là ở phương thức giáo dục của chúng ta đă quá lạc hậu và kiềm hăm tính độc lập suy nghĩ của sinh viên ngay từ tuổi ấu thơ.
Một khi chúng ta có được đội ngũ sinh viên nội địa có tầm vóc quốc tế, th́ chúng ta mới tạo được một môi trường học đường có tầm cỡ quốc tế, khi đó chúng ta mới thu hút được sinh viên quốc tế đến để học.
Một yêu cầu khác mà chúng tôi nghĩ rằng một trường có tham vọng để lọt vào trường có đẳng cấp quốc tế, th́ ngôn ngữ giảng dạy chính của trường phải là tiếng Anh. Sẽ không có một trường có đẳng cấp quốc tế nếu sinh viên trường đó không có khả năng giao dịch quốc tế! Chúng tôi không kỳ thị tiếng mẹ đẻ, nhưng chúng ta cần phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế trong chuyên ngành của ḿnh. Giáo tŕnh đại học chỉ để đợi các giáo sư, giảng viên đi dịch lại sách nước ngoài (mà chưa chắc đă chính xác), đợi in ấn th́ kiến thức đă lạc hậu. Sinh viên đại học là tự học, tự nghiên cứu, chứ không phải đến trường để nghe truyền đạt. Giáo sư và giảng viên ở trường đại học chỉ là người chỉ đường, chứ không phải cầm tay chỉ việc.
Có cơ sở hạ tầng, đội ngũ giảng dạy, sinh viên có tầm vóc quốc tế thôi chưa đủ. Một trường đại học nếu muốn vươn lên đẳng cấp quốc tế th́ trường đó phải mạnh về nghiên cứu khoa học có tầm vóc quốc tế. “Giấy thông hành” cho điểm này là thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học là dự án nghiên cứu có tầm vóc và được đăng tải trên các tập san chuyên ngành quốc tế và có hiệu quả quan trọng đến lợi ích của cộng đồng, là các sản phẩm công nghệ-thành quả từ các nghiên cứu ứng dụng đáp ứng được nhu cầu của khoa học kỹ thuật hiện đại.
Nghiên cứu khoa học được công bố quốc tế thôi chưa đủ, mà giá trị ứng dụng của các nghiên cứu đó phải ở tầm vóc có ảnh hưởng đến cộng đồng khoa học của quốc tế, th́ uy tín của trường đại học đó mới được nâng tầm.
Một trường đại học có tầm vóc quốc tế c̣n phải là một trường đào tạo được nhiều nhân tài, và sau đó họ là những người có một tầm ảnh hưởng đến chuyên ngành của họ trên trường quốc tế. Dựa vào những cống hiến đó của các cựu sinh viên, uy tín của trường đại học đó sẽ được nâng lên.
Để đạt được những điều này ngân sách đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu cho một trường đại học rất lớn. Ở nước ngoài, ngoài ngân sách của chính phủ, các nghiên cứu viên của trường đại học c̣n phải dốc sức đi xin tài trợ từ các quỹ tài trợ nghiên cứu quốc gia, của các công ty mạnh thường quân, mà ở nước ngoài họ đều có dành ra một quỹ hỗ trợ nghiên cứu. Điều này không thể có ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay, cho nên ngân sách nghiên cứu hầu như phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ. Thế nhưng ngân sách đ̣i hỏi cho các nghiên cứu có tầm vóc quốc tế là rất lớn, và ngân sách này đ̣i hỏi phải lâu dài để giữ vững vị trí của trường.
Với những chi tiết vắn tắt nêu trên, quá tŕnh phấn đấu của một trường đại học để đạt được tầm vóc quốc tế là một quá tŕnh gian nan, dài hạn và như là một cuộc đầu tư đầy rủi ro và nhà đầu tư phải theo đuổi mục đích cho đến cùng. Trở thành trường đẳng cấp quốc tế là quả chín thu hoạch được sau một quá tŕnh của gieo giống trồng cây. Quả chín đó là do người tiêu dùng thẩm định và đánh giá.
Cho đến nay, các trường vươn lên đẳng cấp quốc tế hầu như không có trường nào có độ tuổi dưới 30-40 năm, mà tại điểm xuất phát họ đă có đủ nhân-tài-vật-lực. Cho nên một tiêu chí phấn đấu đến 2020 Việt nam có một trường đại học lọt vào top 200 các trường đại học hàng đầu thế giới, chúng tôi nghĩ là thiếu thực tế và bất khả thi. Mà như đă đề cập ban đầu, chúng ta vươn đến xây dựng một đại học có tầm cỡ quốc tế th́ thiết thực hơn.


3.Các công tŕnh nghiên cứu khoa học dù là cơ bản hay ứng dụng đều phải tính đến công bố quốc tế ngay từ khởi đầu thiết kế công tŕnh nghiên cứu. Đó là một thử thách lớn cho các nhà nghiên cứu trong nước chưa từng có kinh nghiệm “va chạm” với hệ thống b́nh duyệt nghiêm túc của quốc tế, nhưng nếu không làm, chúng ta sẽ măi nằm trong “vùng trũng” của nghiên cứu khoa học, và những công tŕnh nghiên cứu tốn kém đó sẽ không đưa lại giá trị xứng đáng với tiền của nhân dân và nhà nước đầu tư vào.
Chỉ có đăng tải quốc tế th́ uy tín của các nhà khoa học trong nước, nền khoa học nước nhà mới được nâng lên tầm vóc quốc tế. C̣n công bố trên trường quốc tế dưới h́nh thức nào, cũng là một điều quan trọng cần nêu. Công bố quốc tế ở dạng khởi sự là bằng cách nộp các tóm tắt nghiên cứu (abstract) để đi báo cáo tại các hội nghị khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chúng tôi nghĩ đây là thủ tục nên trở thành một quy định bắt buộc cho các đề tài nghiên cứu cấp quốc gia. Cần phải có những chế độ ưu đăi cho các đề tài được chấp nhận thuyết tŕnh (oral presentation) tại các hội thảo quốc tế lớn của mỗi chuyên ngành. Tuy nhiên thủ tục nộp abstract và  đăng tải dưới dạng monographs hoặc proceedings tại các hội thảo khoa học quốc tế chỉ mới là bước khởi đầu, sau đó các nghiên cứu này c̣n phải được viết thành bài báo khoa học nghiêm túc (scientific paper) để dự đăng tải trên các tập san chuyên ngành có qua hệ thống b́nh duyệt (peer-reviewed journal) và có uy tín.


Xin mở rộng thêm một ư là chúng ta c̣n có quá nhiều quyết định “khơi khơi” và cảm tính, thiếu lư trí (rationale) khi tiến hành một nghiên cứu khoa học. Chỉ nghe, và nghĩ là đă có thể tiến hành ngay một nghiên cứu khoa học (kể cả cấp quốc gia) mà không hề có một quy tŕnh làm việc nghiêm túc nào (chúng tôi không tiện trích dẫn ví dụ) để đánh giá về giá trị, tinh khả thi, tính thực tiễn của đề tài; cũng chẳng qua một nghiên cứu “tiền trạm” (pilot study) để xem liệu có nên tiếp tục đầu tư nghiên cứu hay không. Do đó, đầy rẫy các công tŕnh nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, sau nghiệm thu rồi cũng chỉ để đó mà không hề có một giá trị ứng dụng nào. Th́ việc mà các nghiên cứu khoa học đó không chen chân được vào trường quốc tế th́ cũng là điều dễ hiểu.
Một chuyện khác, chúng tôi nhận được các luận án tiến sĩ của đồng nghiệp trong nước nhờ xem giúp. Chúng tôi có những gợi ư về cách phân tích số liệu (c̣n chuyện thiết kế nghiên cứu là chuyện đă rồi), sau khi trao đổi lại với giáo sư hướng dẫn, ông bảo các anh ấy ở nước ngoài th́ làm theo tŕnh độ khác, c̣n trong nước th́ nên làm đơn giản để cho người phản biện họ hiểu được. Nếu rắc rối quá họ sẽ bắt bẻ và ḿnh sẽ gặp rắc rối! Chúng tôi xin miễn bàn.


4.Nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn nền công nghệ và khoa học kỹ thuật thế giới đă ở mức độ phát triển hiện nay th́ cần phải xem đó là một loại nghiên cứu “xa xỉ”. Mặc dù nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu có tính đột phá (breakthrough), thế nhưng hiện nay nó ít có cơ may đem lại tính ứng dụng cao mà thường là chỉ để: hoặc t́m hiểu một cơ chế tác động trên một khâu nào đó của chuỗi phản ứng, hoặc để tạo ra một tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng.
Do vậy, nghiên cứu ứng dụng có thể phù hợp với Việt nam hơn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế mà tiến hành. Thà rằng chỉ có ít các nghiên cứu, nhưng “dụng tinh hơn dụng đa”.

5. Lợi thế của một nước đang phát triển là có thể học hỏi kinh nghiệm thành bại từ các nước đă kinh qua để t́m cho ḿnh một hướng phát triển riêng.
Chẳng hạn ở Trung quốc họ có mô h́nh sử dụng nhân tài là các nhà khoa học ở Trung quốc sống ở hải ngoại có tầm cỡ quốc tế. Những người này được mời về giữ các trọng trách lănh đạo nghiên cứu khoa học, họ được hưởng lương theo tiêu chuẩn quốc tế, nhưng họ được co giăn về thời gian. V́ họ vẫn phải làm việc ở nước ngoài, mà đó mới chính là cầu nối tri thức giữa trong và ngoài. Và họ đang thành công. Nếu nh́n vào danh sách các nghiên cứu khoa học đăng tải trong những năm gần đây, các tác giả Trung quốc đă có một số lượng đáng nể, và đằng sau đó, dễ dàng nhận thấy “kiến trúc sư” của công tŕnh là người Trung quốc ở nước ngoài. Một thí dụ điển h́nh trong ngành Y sinh học mà một đồng nghiệp của chúng tôi làm được đó là Hong-Wen Deng (chỉ cần vào trang nhà www.pubmed.gov, một thư viện điện tử y sinh học quốc gia của Mỹ, gơ tên Deng HW, sẽ thấy). Đây là một điểm đáng để học hỏi.
 Hoặc ở Thái lan, về ngành Y khoa, tất cả các bác sĩ sau tốt nghiệp phải đi phục vụ xa, sau đó mới quay lại Bang Kok, muốn vào các bệnh viện điểm ở Bang Kok, các bác sĩ c̣n phải đi tu nghiệp (nghiêm chỉnh) ở nước ngoài, cụ thể là Mỹ, Anh, Úc và các nước đă phát triển th́ mới được vào làm. Tuy nhiên, hệ thống tuyển dụng nhân viên của họ minh bạch và công bằng. Chúng tôi có một đồng nghiệp trẻ người Thái lan. Anh này đến làm việc ở chỗ chúng tôi với tư cách thực tập sinh. Anh ta rất “lơ ngơ” về nghiên cứu khoa học mặc dù anh ta là bác sĩ, giảng viên của một trường đại học lớn ở Đông băc Thái lan. Thế nhưng anh ta rất khiêm tốn học hỏi, và cố gắng để học. Sau một năm, anh ta về lại Thái, và anh ta cứ rập khuông những ǵ anh ta đă thu lượm được ở chỗ chúng tôi. Anh ta vẫn tiếp tục liên lạc nhờ giúp đỡ và hợp tác với chúng tôi. Sau đó anh ta có đến trên 5 nghiên cứu khoa học (xuất phát từ Thái) được đăng tải trên tập san quốc tế. Anh ta liên tục nhận được những giải thưởng quốc gia cho nhà nghiên cứu trẻ đang lên. Sau đó anh ta được đề bạt phó Giáo sư tại trường. Anh xin được nhiều nguồn tài trợ trong nước, đến nỗi anh ta không biết phải làm ǵ với số tiền đó. Lại liên lạc với xếp chúng tôi để xin phương hướng nghiên cứu. Qua câu chuyện này để chúng ta có một bài học ǵ? Thái độ cầu tiến, khiêm tốn học hỏi, áp dụng những tri thức ḿnh học được, có trách nhiệm với công việc ḿnh làm và chí công vô tư với ngân sách nghiên cứu (tiền của nhân dân). Ngược lại, phía lănh đạo đă cho phép những người đi học về được làm, được trải nghiệm những ǵ đă học được, có chế độ đăi ngộ công bằng cho những người làm được việc. Mẫu chuyện nhỏ nhưng là một bài học lớn.


Tóm lại, có nhiều mẫu chuyện, nhiều mô h́nh mà chúng ta có thể thu lượm, điều nghiên, cân nhăc để áp dụng một cách đúng đắn để nhằm một mục đích tối hậu: cải tổ và thúc đẩy nền khoa học nước nhà kịp bước với đồng nghiệp trong khu vực và trên thế giới.
----------
* TS Nguyễn Đ́nh Nguyên, Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan-Sydney, Australia

   

 

 

 

 

Trích: Tạp chí Tia sáng,17.10

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục