Về nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học, chúng ta thấy rất
rơ rằng chúng ta đang ở trong “vùng trũng”. Nếu chỉ so sánh
với các nước trong khu vực không thôi, về các nghiên cứu chúng
ta đă được đăng tải trên các tập san quốc tế sẽ thấy rơ qua
các bài viết đă được đăng tải trong nước của các tác giả Phạm
Duy Hiển, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Tuấn..., thiết nghĩ không cần
phải đề cập lại vấn đề là cần nghiêm túc nh́n nhận nguyên nhân
của hiện tượng đáng SOS đó.
Nguyên nhân của thực trạng
Trước hết chúng ta phải nói ngay đến những người lănh
đạo đầu ngành khoa học, giáo dục, liệu họ đă phải là những
người có tầm vóc và cập nhật được kiến thức quốc tế hay chưa?
Nằm trong một thực trạng chung là các nhà lănh đạo đầu
ngành của chúng ta được chọn lựa theo cơ chế cử tuyển chứ
không qua cơ chế tuyển trạch. Chúng tôi nghĩ cần phải thay đổi
cơ chế làm việc này. Lănh đạo một nhóm nghiên cứu khoa học
cũng như lănh đạo của một công ty. Đă là một chức vụ th́ cần
phải có cơ chế cạnh tranh, đó là tuyển lựa theo đơn xin việc
chứ không phải là cử tuyến.
Cũng nằm trong khâu này, chúng ta đă có cơ chế không giống các
nước về hệ thống đào tạo những nhà nghiên cứu thực thụ (tiến
sĩ và hậu tiến sĩ) và những chức vụ thực thụ (giáo sư).
Chúng ta đang có một cơ chế thúc đẩy
việc học lấy bằng tiến sĩ là một h́nh thức mua danh, mua tước.
Có những người lănh đạo phải “hợp thức hóa” bằng cấp để phù
hợp với địa vị lănh đạo, đó là một cơ chế sai lầm.
Tiến sĩ được đào tạo ra trước hết
là để làm việc chứ không phải để làm lănh đạo. Lănh đạo chẳng
qua cũng chỉ là một nhiệm vụ và phải qua tuyển lựa để chứng tỏ
khả năng. Lănh đạo nhiều khi không nhất thiết phải là tiến sĩ
hay giáo sư. Giống như thế, ở
nước ta, giáo sư được coi như là một phẩm hàm, có tính cách
tưởng thưởng công và cũng dựa vào đó mà lên chức, lại là một
sai lầm. Cần phải coi giáo
sư như một vị trí công tác, lănh đạo đầu ngành hay lănh đạo
một nhóm nghiên cứu, đào tạo. Đă là vị trí công tác th́ cần
phải qua tuyển lựa và qua tiêu chuẩn tuyển lựa. Lănh đạo làm
được việc th́ được tái bổ nhiệm, không được việc th́ tái tuyển
chọn, chứ giáo sư không phải làm một phẩm hàm suốt đời.
Thứ hai, về nhân lực. Hệ thống đào tạo tiến sĩ của
chúng ta có vấn đề. Ngay ở cơ chế, như đă nêu, đào
tạo tiến sĩ v́ mục đích danh xưng nhiều hơn là v́ phụng sự và
cống hiến cho khoa học. Hệ quả là các tiến sĩ của chúng ta
được đào tạo trong nước ra ḷ hàng loạt nhưng con số làm được
việc có lẽ c̣n quá khiêm tốn. Chúng ta hàng năm có hàng trăm
đến hàng ngàn tiến sĩ ra ḷ nhưng không có bao nhiêu công
tŕnh nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn, được đăng tải
trên tập san quốc tế. Đó là một nghịch lư thấy rơ.
Chúng ta có thể bao biện rằng giáo sư quốc nội, tiến sĩ cấp
quốc nội khác giáo sư, tiến sĩ quốc tế. Điều đó có thể chấp
nhận được khi chúng ta chỉ đứng ở “sân chơi khoa học” riêng lẻ,
chứ không thể đặt vấn đề “hoàn cảnh” khi chúng ta hội nhập
quốc tế. Chúng ta không thể nào biện hộ được khi các chuyên
viên đầu ngành, các nghiên cứu viên trong nước đi tham dự hội
thảo quốc tế mà không t́m được tiếng nói chung với đồng nghiệp
quốc tế.
Thứ ba, về vấn đề cập nhật thông tin, liệu chúng ta có
được cập nhật thông tin hay không? Câu trả lời có thể
có hai vế: vế thứ nhất là về mặt cung cấp thông tin. Dù rằng
việc truy cập internet ở Việt nam hiện nay là khá phổ biến,
tuy nhiên lại có sự phân bố bất hợp lư. Trường đại học phải là
những nơi có trang bị hệ thống truy cập thông tin hiện đại
nhất và cập nhật nhất. Nhưng
chúng tôi hiếm thấy có một trang web của bất kỳ một trường đại
học nào ở Việt nam đạt được một tiêu chuẩn trung b́nh. Vấn đề
tường lửa cũng là một sự cản trở truy cập thông tin phục vụ
cho nghiên cứu và giảng dạy.
Qua mấy kỳ công tác trong những
năm vừa qua, chúng tôi rất vất vả nếu không nói là bất lực khi
ngồi ở Việt nam để truy cập internet t́m tài liệu. Chỉ lưu lại
Việt nam một vài tuần, chúng tôi cảm giác gần như bị lạc hậu
nhiều so với đồng nghiệp. Thư
viện là bộ mặt của trường đại học, là bộ mặt của tri thức, thế
mà hệ thống thư viện ở các trường đại học Việt nam quá cũ kỹ,
thô sơ và gần như là hoạt động không hữu hiệu.
Vế thứ hai là về kỹ năng truy t́m thông tin của sinh viên đại
học Việt nam quá kém. Họ không được đào tạo kỹ năng này, v́
thế họ cũng sẽ khó khăn trong việc t́m kiếm các thông tin khoa
học cần thiết và cập nhật.
Từ những yếu kém kể trên của GD-ĐT dẫn đến thực trạng khoa học
của nước ta hiện nay trong t́nh trạng đất nước đi vào con
đường hội nhập là bấp bênh và khá lạc điệu. Chúng ta chưa có
một tiếng nói chung với thực trạng khoa học không nói ở tầm
vóc quốc tế lớn mà vẫn chưa có tiếng nói chung với các nước
trong khu vực.
2.Việc có một trường đại học ở top 200 không phải là
cái đích chúng ta đến. Xếp hạng chỉ là một hệ quả của
một quá tŕnh hoạt động, làm việc. Làm bao nhiêu th́ được
hưởng bấy nhiêu, c̣n việc xếp hạng chỉ có tính tương đối.
Theo chúng tôi, mục tiêu nên đặt ra là cần phải có một trường
được công nhận trên trường quốc tế (internationally recognized)
hoặc cao hơn là đạt đẳng cấp quốc tế (world class). Nếu đặt
mục tiêu cụ thể như vậy th́ điều phải làm ǵ sẽ rơ ràng và cụ
thể hơn.
Nói đến một đơn vị trường đại học chúng ta chỉ có các đối
tượng: cấu trúc hạ tầng, giảng viên và sinh viên. Đă nói đến
tầm vóc quốc tế th́ cấu trúc hạ tầng phải đạt tầm vóc quốc tế,
đội ngũ giảng dạy phải đạt tầm vóc quốc tế, và sinh viên địa
phương phải có lối học như sinh viên quốc tế.
Thế nào là một cơ sở hạ tầng đại học quốc tế:
Một trường đại học có tầm vóc quốc tế đó thường là một môi
trường đậm tính khoa bảng, nơi mà mọi sinh hoạt phục vụ học
tập và giảng dạy phải là một quy tŕnh kín.
Nơi đầu tiên phải nói đến của một trường đại học phải
là thư viện, đó là kho tang tri thức, là bộ mặt của trường đại
học. Thư viện cần phải có cấu trúc sao cho phù hợp
với cơ số sinh viên của trường, nơi có một môi trường thân
thiện và thuận lợi cho sinh viên và nghiên cứu viên t́m tư
liệu để học tập và nghiên cứu.
Sách tham khảo: Cần phải đầy đủ và cập nhật. Bố trí theo cách
thức sao cho sinh viên có thể tự động t́m kiếm sách ḿnh cần
t́m. Nhân viên thủ thư chỉ là người hướng dẫn khi cần thiết,
và giải quyết các thủ tục mượn sách cũng như t́m kiếm liên hệ
mượn sách nơi khác khi có yêu cầu.
Ngoài sách đóng quyển có trong thư viện của trường th́ việc
liên kết với các trường khác để có thể gia tăng cơ số sách có
thể trao đổi chéo, nhằm đáp ứng nhu cầu đọc.
Một bộ phận trong thư viện mới mà gần như đóng một vai tṛ
rường cột đó là thư viện điện tử. Thư viện điện tử của một
trường đại học phải thuê bao các thư viện điện tử quốc tế lớn
để có thể truy cập được gần như đầy đủ các tài liệu lưu trữ
trên mạng phục vụ các ngành liên quan đế mục đích đào tạo của
trường, học tập của sinh viên và nghiên cứu. Do đó dịch vụ
phần cứng và phần mềm cũng cần phải đủ mạnh để có thể đáp ứng
được việc truy nhập và truy xuất thông tin nhanh chóng. Thủ
thư cũng có nhiệm vụ đáp ứng t́m kiếm các tư liệu điện tử
không có trong hệ thống thuê bao của trường một khi có yêu cầu.
Phần cấu trúc và không gian của thư viện trường đại học cần
phải có đủ chỗ rộng răi, riêng tư để sinh viên có thể học tại
thư viện. Pḥng lab thư viện cũng phải có một cơ số máy tính
nhất định để sinh viên và nhân viên sử dụng.
Phần đầu tư xây dựng cơ bản cho một trường đại học mang tầm
vóc quốc tế là một yếu tố quan trọng khác, chúng tôi không bàn
sâu ở đây.
Thứ hai là giảng viên mang tầm vóc quốc tế:
Để có một trường có tầm vóc quốc tế, đội ngũ giáo sư, giảng
viên của trường đại học đó phải đủ tầm vóc quốc tế. Có nghĩa
là giáo sư giảng dạy tại trường phải là những giáo sư có uy
tín trên trường quốc tế về chuyên ngành của ḿnh về những điểm:
được đồng nghiệp quốc tế cùng ngành công nhận, có bề dày
nghiên cứu về chuyên ngành của ḿnh, có công bố nghiên cứu
trên các tập san quốc tế theo đúng yêu cầu của một vị giáo sư
quốc tế, có thành tích về xin tài trợ nghiên cứu, có kinh
nghiệm lănh đạo nhóm nghiên cứu quốc tế và có kinh nghiệm
hướng dẫn nghiên cứu sinh quốc tế. Nếu xét về những yếu tố này,
trong thời điểm xuất phát hiện nay, chúng ta không có cơ sở
nào để tự tin phát biểu được rằng trong ṿng 13 năm nữa, chúng
ta sẽ có được một đội ngũ giáo sư đại học có tầm vóc quốc tế.
T́nh trạng này cũng tương tự như các trường đại học khác trên
thế giới. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, các trường
có chủ trương thuê các giáo sư có tầm vóc quốc tế về để lănh
đạo chuyên môn của từng chuyên ngành. Riêng Trung quốc, họ có
chính sách đăi ngộ các vị giáo sư và nghiên cứu người Trung
quốc ở hải ngoại có tầm vóc quốc tế, về làm việc và hưởng
lương theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là một bài học cần
thiết đối với ngành giáo dục Việt nam.
Do đó hệ quả kéo theo là giá chi trả cho một giáo sư quốc tế
là việc phải tính đến.
Thứ ba, là cần phải có một lực lượng sinh viên nội địa
đạt tŕnh độ đầu vào ngang cấp quốc tế. Chúng ta cần
phải thấy rơ rằng môi trường sinh viên là một yếu tố quan
trọng. Đa số các sinh viên Việt nam đi du học theo dạng học
bổng ở các nước ngoài đạt được thành tích cao. Điều đó có
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Yếu tố chủ quan là chính
các sinh viên đó vốn đă là các sinh viên ưu tú của Việt nam,
họ đă có tố chất để thích nghi nhanh và bắt kịp với cách học
và nghiên cứu của sinh viên quốc tế. Yếu tố khách quan là họ
là những thành tố đơn lẻ trong một môi trường sinh viên quốc
tế, cho nên họ có đủ cơ hội để học hỏi những sinh viên quốc tế
xung quanh ḿnh. Nó giống như người học tiếng Anh, th́ sẽ tiến
bộ nhanh hơn nếu được sống trong môi trường nói tiếng Anh mẹ
đẻ. Ngược lại, tương tự như vậy, nếu sinh viên đó chỉ học đại
học trong nước, th́ họ cũng sẽ không thoát ra được môi trường
giáo dục ở trong nước.
Yêu cầu của đội ngũ sinh viên đầu vào như vậy cần chuẩn bị bao
nhiêu lâu? Có lẽ thời gian sẽ đúng bằng từ lớp mầm non đến khi
họ vào đại học nếu nền giáo dục Việt nam cải tổ ngay từ bây
giờ và đúng hướng.
Một số các thí dụ: Yêu cầu cho một sinh viên quốc tế là họ
phải có tính tự học, độc lập, chủ động. Điều này không phải
chỉ ra yêu cầu, hô khẩu hiệu mà làm ngay được. Họ phải được
rèn luyện và đào tạo đức tính này ngay khi bước vào trường mầm
non. Không thể nào có được một sinh viên có tính làm việc độc
lập, tự học và sáng tạo, một khi học sinh từ lớp 1 cho đến 12,
hàng ngày phải ngồi vào lớp trật tự theo bàn. Trên bảng thầy
giáo thao thao bất tuyệt giảng bài, dưới lớp học tṛ cắm cố
thi nhau chép. Đến buối trả bài như vẹt. Tất cả kiến thức là
từ thầy trao truyền, được chữ nào, học tṛ học bài thuộc long
th́ nhớ từng đó, để đối phó với bài kiểm tra, bài thi chứ
không phải để hiểu biết. Trong khi đó, học sinh tiểu học ở Úc
chẳng hạn, đến trường hầu như chẳng có sách vở ǵ, tất cả các
bài học do giáo viên thiết kế, về nhà không có bài tập ở nhà;
bài tập th́ dễ. Thế mà khi đến ngưỡng đại học, sinh viên của
họ hoàn toàn có một tư duy và cách học hết sức năng động, độc
lập. Vấn đề chỉ là ở phương thức giáo dục của chúng ta đă quá
lạc hậu và kiềm hăm tính độc lập suy nghĩ của sinh viên ngay
từ tuổi ấu thơ.
Một khi chúng ta có được đội ngũ sinh viên nội địa có tầm vóc
quốc tế, th́ chúng ta mới tạo được một môi trường học đường có
tầm cỡ quốc tế, khi đó chúng ta mới thu hút được sinh viên
quốc tế đến để học.
Một yêu cầu khác mà chúng tôi nghĩ rằng một trường có
tham vọng để lọt vào trường có đẳng cấp quốc tế, th́ ngôn ngữ
giảng dạy chính của trường phải là tiếng Anh. Sẽ
không có một trường có đẳng cấp quốc tế nếu sinh viên trường
đó không có khả năng giao dịch quốc tế! Chúng tôi không kỳ thị
tiếng mẹ đẻ, nhưng chúng ta cần phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế
trong chuyên ngành của ḿnh. Giáo tŕnh đại học chỉ để đợi các
giáo sư, giảng viên đi dịch lại sách nước ngoài (mà chưa chắc
đă chính xác), đợi in ấn th́ kiến thức đă lạc hậu. Sinh viên
đại học là tự học, tự nghiên cứu, chứ không phải đến trường để
nghe truyền đạt. Giáo sư và giảng viên ở trường đại học chỉ là
người chỉ đường, chứ không phải cầm tay chỉ việc.
Có cơ sở hạ tầng, đội ngũ giảng dạy, sinh viên có tầm vóc quốc
tế thôi chưa đủ. Một trường đại học nếu muốn vươn lên
đẳng cấp quốc tế th́ trường đó phải mạnh về nghiên cứu khoa
học có tầm vóc quốc tế. “Giấy thông hành” cho điểm
này là thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học là dự án
nghiên cứu có tầm vóc và được đăng tải trên các tập san chuyên
ngành quốc tế và có hiệu quả quan trọng đến lợi ích của cộng
đồng, là các sản phẩm công nghệ-thành quả từ các nghiên cứu
ứng dụng đáp ứng được nhu cầu của khoa học kỹ thuật hiện đại.
Nghiên cứu khoa học được công bố quốc tế thôi chưa đủ, mà giá
trị ứng dụng của các nghiên cứu đó phải ở tầm vóc có ảnh hưởng
đến cộng đồng khoa học của quốc tế, th́ uy tín của trường đại
học đó mới được nâng tầm.
Một trường đại học có tầm vóc quốc tế c̣n phải là một trường
đào tạo được nhiều nhân tài, và sau đó họ là những người có
một tầm ảnh hưởng đến chuyên ngành của họ trên trường quốc tế.
Dựa vào những cống hiến đó của các cựu sinh viên, uy tín của
trường đại học đó sẽ được nâng lên.
Để đạt được những điều này ngân sách đầu tư vào lĩnh vực
nghiên cứu cho một trường đại học rất lớn. Ở nước ngoài, ngoài
ngân sách của chính phủ, các nghiên cứu viên của trường đại
học c̣n phải dốc sức đi xin tài trợ từ các quỹ tài trợ nghiên
cứu quốc gia, của các công ty mạnh thường quân, mà ở nước
ngoài họ đều có dành ra một quỹ hỗ trợ nghiên cứu. Điều này
không thể có ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay, cho nên ngân
sách nghiên cứu hầu như phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ.
Thế nhưng ngân sách đ̣i hỏi cho các nghiên cứu có tầm vóc quốc
tế là rất lớn, và ngân sách này đ̣i hỏi phải lâu dài để giữ
vững vị trí của trường.
Với những chi tiết vắn tắt nêu trên, quá tŕnh phấn đấu của
một trường đại học để đạt được tầm vóc quốc tế là một quá
tŕnh gian nan, dài hạn và như là một cuộc đầu tư đầy rủi ro
và nhà đầu tư phải theo đuổi mục đích cho đến cùng. Trở thành
trường đẳng cấp quốc tế là quả chín thu hoạch được sau một quá
tŕnh của gieo giống trồng cây. Quả chín đó là do người tiêu
dùng thẩm định và đánh giá.
Cho đến nay, các trường vươn lên đẳng cấp quốc tế hầu như
không có trường nào có độ tuổi dưới 30-40 năm, mà tại điểm
xuất phát họ đă có đủ nhân-tài-vật-lực. Cho nên một
tiêu chí phấn đấu đến 2020 Việt nam có một trường đại học lọt
vào top 200 các trường đại học hàng đầu thế giới, chúng tôi
nghĩ là thiếu thực tế và bất khả thi. Mà như đă đề
cập ban đầu, chúng ta vươn đến xây dựng một đại học có tầm cỡ
quốc tế th́ thiết thực hơn.
3.Các công tŕnh nghiên cứu khoa học dù là cơ bản hay
ứng dụng đều phải tính đến công bố quốc tế ngay từ khởi đầu
thiết kế công tŕnh nghiên cứu. Đó là một thử thách
lớn cho các nhà nghiên cứu trong nước chưa từng có kinh nghiệm
“va chạm” với hệ thống b́nh duyệt nghiêm túc của quốc tế,
nhưng nếu không làm, chúng ta sẽ măi nằm trong “vùng trũng”
của nghiên cứu khoa học, và những công tŕnh nghiên cứu tốn
kém đó sẽ không đưa lại giá trị xứng đáng với tiền của nhân
dân và nhà nước đầu tư vào.
Chỉ có đăng tải quốc tế th́ uy tín của các nhà khoa học trong
nước, nền khoa học nước nhà mới được nâng lên tầm vóc quốc tế.
C̣n công bố trên trường quốc tế dưới h́nh thức nào, cũng là
một điều quan trọng cần nêu. Công bố quốc tế ở dạng khởi sự là
bằng cách nộp các tóm tắt nghiên cứu (abstract) để đi báo cáo
tại các hội nghị khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Chúng tôi nghĩ đây là thủ tục nên trở thành một quy định bắt
buộc cho các đề tài nghiên cứu cấp quốc gia. Cần phải có những
chế độ ưu đăi cho các đề tài được chấp nhận thuyết tŕnh (oral
presentation) tại các hội thảo quốc tế lớn của mỗi chuyên
ngành. Tuy nhiên thủ tục nộp abstract và đăng tải dưới dạng
monographs hoặc proceedings tại các hội thảo khoa học quốc tế
chỉ mới là bước khởi đầu, sau đó các nghiên cứu này c̣n phải
được viết thành bài báo khoa học nghiêm túc (scientific paper)
để dự đăng tải trên các tập san chuyên ngành có qua hệ thống
b́nh duyệt (peer-reviewed journal) và có uy tín.
Xin mở rộng thêm một ư là chúng ta c̣n có quá nhiều
quyết định “khơi khơi” và cảm tính, thiếu lư trí (rationale)
khi tiến hành một nghiên cứu khoa học. Chỉ nghe, và nghĩ là đă
có thể tiến hành ngay một nghiên cứu khoa học (kể cả cấp quốc
gia) mà không hề có một quy tŕnh làm việc nghiêm túc nào
(chúng tôi không tiện trích dẫn ví dụ) để đánh giá về giá trị,
tinh khả thi, tính thực tiễn của đề tài; cũng chẳng qua một
nghiên cứu “tiền trạm” (pilot study) để xem liệu có nên tiếp
tục đầu tư nghiên cứu hay không. Do đó, đầy rẫy các công tŕnh
nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, sau nghiệm thu rồi cũng chỉ
để đó mà không hề có một giá trị ứng dụng nào. Th́ việc mà các
nghiên cứu khoa học đó không chen chân được vào trường quốc tế
th́ cũng là điều dễ hiểu.
Một chuyện khác, chúng tôi nhận được các luận án tiến sĩ của
đồng nghiệp trong nước nhờ xem giúp. Chúng tôi có những gợi ư
về cách phân tích số liệu (c̣n chuyện thiết kế nghiên cứu là
chuyện đă rồi), sau khi trao đổi lại với giáo sư hướng dẫn,
ông bảo các anh ấy ở nước ngoài th́ làm theo tŕnh độ khác,
c̣n trong nước th́ nên làm đơn giản để cho người phản biện họ
hiểu được. Nếu rắc rối quá họ sẽ bắt bẻ và ḿnh sẽ gặp rắc rối!
Chúng tôi xin miễn bàn.
4.Nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn nền công nghệ và khoa học
kỹ thuật thế giới đă ở mức độ phát triển hiện nay th́ cần phải
xem đó là một loại nghiên cứu “xa xỉ”. Mặc dù nghiên cứu cơ
bản là những nghiên cứu có tính đột phá (breakthrough), thế
nhưng hiện nay nó ít có cơ may đem lại tính ứng dụng cao mà
thường là chỉ để: hoặc t́m hiểu một cơ chế tác động trên một
khâu nào đó của chuỗi phản ứng, hoặc để tạo ra một tiền đề cho
các nghiên cứu ứng dụng.
Do vậy, nghiên cứu ứng dụng có thể phù hợp với Việt nam hơn.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế
mà tiến hành. Thà rằng chỉ có ít các nghiên cứu, nhưng “dụng
tinh hơn dụng đa”.
5. Lợi thế của một nước đang
phát triển là có thể học hỏi kinh nghiệm thành bại từ các nước
đă kinh qua để t́m cho ḿnh một hướng phát triển riêng.
Chẳng hạn ở Trung quốc họ có mô h́nh sử dụng nhân tài là các
nhà khoa học ở Trung quốc sống ở hải ngoại có tầm cỡ quốc tế.
Những người này được mời về giữ các trọng trách lănh đạo
nghiên cứu khoa học, họ được hưởng lương theo tiêu chuẩn quốc
tế, nhưng họ được co giăn về thời gian. V́ họ vẫn phải làm
việc ở nước ngoài, mà đó mới chính là cầu nối tri thức giữa
trong và ngoài. Và họ đang thành công. Nếu nh́n vào danh sách
các nghiên cứu khoa học đăng tải trong những năm gần đây, các
tác giả Trung quốc đă có một số lượng đáng nể, và đằng sau đó,
dễ dàng nhận thấy “kiến trúc sư” của công tŕnh là người Trung
quốc ở nước ngoài. Một thí dụ điển h́nh trong ngành Y sinh học
mà một đồng nghiệp của chúng tôi làm được đó là Hong-Wen Deng
(chỉ cần vào trang nhà
www.pubmed.gov, một thư viện điện tử y sinh học quốc gia
của Mỹ, gơ tên Deng HW, sẽ thấy). Đây là một điểm đáng để học
hỏi.
Hoặc ở Thái lan, về ngành Y khoa, tất cả các bác sĩ sau tốt
nghiệp phải đi phục vụ xa, sau đó mới quay lại Bang Kok, muốn
vào các bệnh viện điểm ở Bang Kok, các bác sĩ c̣n phải đi tu
nghiệp (nghiêm chỉnh) ở nước ngoài, cụ thể là Mỹ, Anh, Úc và
các nước đă phát triển th́ mới được vào làm. Tuy nhiên, hệ
thống tuyển dụng nhân viên của họ minh bạch và công bằng.
Chúng tôi có một đồng nghiệp trẻ người Thái lan. Anh này đến
làm việc ở chỗ chúng tôi với tư cách thực tập sinh. Anh ta rất
“lơ ngơ” về nghiên cứu khoa học mặc dù anh ta là bác sĩ, giảng
viên của một trường đại học lớn ở Đông băc Thái lan. Thế nhưng
anh ta rất khiêm tốn học hỏi, và cố gắng để học. Sau một năm,
anh ta về lại Thái, và anh ta cứ rập khuông những ǵ anh ta đă
thu lượm được ở chỗ chúng tôi. Anh ta vẫn tiếp tục liên lạc
nhờ giúp đỡ và hợp tác với chúng tôi. Sau đó anh ta có đến
trên 5 nghiên cứu khoa học (xuất phát từ Thái) được đăng tải
trên tập san quốc tế. Anh ta liên tục nhận được những giải
thưởng quốc gia cho nhà nghiên cứu trẻ đang lên. Sau đó anh ta
được đề bạt phó Giáo sư tại trường. Anh xin được nhiều nguồn
tài trợ trong nước, đến nỗi anh ta không biết phải làm ǵ với
số tiền đó. Lại liên lạc với xếp chúng tôi để xin phương hướng
nghiên cứu. Qua câu chuyện này để chúng ta có một bài học ǵ?
Thái độ cầu tiến, khiêm tốn học hỏi, áp dụng những tri thức
ḿnh học được, có trách nhiệm với công việc ḿnh làm và chí
công vô tư với ngân sách nghiên cứu (tiền của nhân dân). Ngược
lại, phía lănh đạo đă cho phép những người đi học về được làm,
được trải nghiệm những ǵ đă học được, có chế độ đăi ngộ công
bằng cho những người làm được việc. Mẫu chuyện nhỏ nhưng là
một bài học lớn.
Tóm lại, có nhiều mẫu chuyện, nhiều mô h́nh mà chúng ta có thể
thu lượm, điều nghiên, cân nhăc để áp dụng một cách đúng đắn
để nhằm một mục đích tối hậu: cải tổ và thúc đẩy nền khoa học
nước nhà kịp bước với đồng nghiệp trong khu vực và trên thế
giới.
----------
* TS Nguyễn Đ́nh Nguyên, Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan-Sydney,
Australia