DC&PT - Thời Sự 2007

 

 

Thư gởi. .. của Ông Lê Hồng Hà

 

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2007

 

 Bạn Tùng thân mến,

 

Bạn muốn hỏi tôi có ư kiến ǵ về công tác lư luận hiện nay qua Hội nghị của Hội đồng lư luận TW họp trong 2 ngày 24 và 25/3 vừa rồi ư? Bạn đang cần suy nghĩ để góp ư với lănh đạo ư ?

V́ quá nể bạn, nên tôi phải mất công đi t́m đọc các tài liệu của Hội nghị (bài của ô. Nông Đức Mạnh và ô. Tô Huy Rứa). Đọc xong, tôi rất buồn v́ thấy cách đặt vấn đề, quy định hướng nghiên cứu, và tổ chức lực lượng nghiên cứu đều sai, và khó mà trông mong có kết quả ǵ trong những năm tới.

Tôi cũng định không viết thư trả lời bạn, v́ sợ ư kiến của tôi sẽ dội một gáo nước lạnh cho bạn, v́ tôi thấy bạn vẫn muốn giữ vị thế giáo sư Mác-xít-lêninnít của ḿnh. Nhưng v́ t́nh bạn, và v́ sự nghiệp tư duy lư luận  của dân tộc, tôi thấy nên phát biểu với bạn 1 cách trung thực để bạn tham khảo và đề nghị giữ nguyên t́nh bạn thân thương:

I. Theo cách quan sát của tôi trông đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta suốt trong mấy chục năm qua cho tới nay, đă và đang diễn ra hai khu vực hoạt động lư luận:

1/ Khu vực I của các nhà lư luận  Mác xít-lêninnít chính thống (ở đây chỉ mời những nhà lư luận  có đồng quan điểm với chủ tịch Hội đồng lư luận đương chức). C̣n với những cán bộ, đảng viên dù là lăo thành, dù kinh qua các cương vị lănh đạo cao trước kia, nhưng quan điểm không giống ông chủ tịch, cũng bị gạt ra ngoài.

2/ Khu vực II (tôi tạm gọi là phi chính thống) của các trí thức trong nước (trong đó có không ít đảng viên ĐCS)  nhưng không thuộc về nhóm lư luận gia của khu vực I và không ít các trí thức ở ngoài nước.

Hiện nay tôi chưa đủ điều kiện để lập danh sách các trí thức Việt Nam  ở ngoài nước, nên chỉ tạm nêu lên 1 danh sách rất không đầy đủ các trí thức trong nước thuộc khu vực II:

Danh sách những người thuộc khu vực II (ghi 1 cách nhớ đâu ghi đấy và chắc c̣n quên  nhiều người nữa).

 

TT

Họ và tên

 

TT

Họ và tên

1.

Nguyễn Khắc Viện

 

51.

Lê Tiến

2.

Lê Giản

 

52.

Hồng Quang

3.

Hoàng Hữu Nhân

 

53.

Đỗ Nam Hải

4.

Trần Độ

 

54.

Nguyễn Văn Đài

5.

Nguyễn Văn Trấn

 

55.

Phạm Như Cương

6.

Ngô Thức

 

56.

Nguyễn Mạnh Huấn

7.

Lữ Phương

 

57.

Lưu Văn Đạt

8.

Nguyễn Hộ

 

58.

Chân Tín

9.

Đặng Văn Việt

 

59.

Trần Khuê

10.

TRần Nhật Độ

 

60.

Vũ Cao Quân

11.

Thích Quảng Độ

 

61.

Hữu Phong

12.

Đặng Quốc Bảo

 

62.

Nguyễn Xuân Nghĩa

13.

Phan Đ́nh Diệu

 

63.

Đỗ Trung Hiển

14.

Phạm Khiêm ích

 

64.

Nguyễn Thiện Tâm

15.

Tương Lai

 

65.

Bùi Ngọc Tấn

16.

Vũ Đ́nh Hoè

 

66.

Bùi Minh Quốc

17.

Nguyễn Quang A

 

67.

Mạnh Sơn

18.

Sơn Tùng

 

68.

Việt Sơn

19.

Nguyễn Lan Quế

 

69.

Hà Phương

20.

Hà Sĩ Phu

 

70.

Dậu Quư Hạ

21.

Hoàng Minh Chính

 

71.

Du Lan

22.

Trần Lâm

 

72.

Phí Văn Bái

23.

Trương Triệu Vũ

 

73.

Trần Kiến Quốc

24.

Trần Văn Hà

 

74.

Lê Kiến Thành

25.

Trần Đại Sơn

 

75

Nguyễn Khắc Toàn

26.

Nguyên Ngọc

 

76.

Vũ Minh Ngọc

27.

Hoàng Tụy

 

77.

Nguyễn Thanh Giang

28.

Nguyễn Văn Chiển

 

78.

Hoàng Tùng

29.

Hoàng Tiến

 

79.

Đoàn Duy Thành

30.

Nguyễn Vũ B́nh

 

80.

Phạm Nguyên Long

31.

Phạm Quế Dương

 

81.

Ngô Thong

32.

Lê Đăng Doanh

 

82.

TRần Bá

33.

Đào Xuân Sâm

 

83.

Lê Thị Công Nhân

34.

Vũ Quốc Tuấn

 

84.

Nguyễn Văn Bé

35.

Đào Thế Tuấn

 

85.

Nguyễn Phương

36.

Nguyễn Trung

 

86.

Phương Anh

37.

Phan THế Hải

 

87.

Thanh Thuỷ

38.

Phạm Chi Lan

 

88.

Trung Linh

39.

Nguyễn Sĩ Dũng

 

89.

Đỗ Anh Kim

40.

Dương Trung Quốc

 

90

Nguyễn Lân Dũng

41.

Minh Đường

 

91.

Hoàng Nguyên

42.

Phạm Hồng Sơn

 

92.

Trần Đức Nguyên

43.

Lê Chí Quang

 

93.

Cù Huy Hà Vũ

44.

TRần Quốc Thuận

 

94.

Lê Công Định

45.

Phạm Hồng Đức

 

95.

Mai Chí Thọ

46.

Trân Thị Ngọc Sương

 

96.

Vơ Văn Kiệt

47.

Phan Ngọc Uyển

 

97.

Trần Ban Đăng

48.

Nguyễn Khắc Mại

 

98.

Lê Mai Anh

49.

Trần Đ́nh Thiên

 

99.

Lê Văn Tuyến

50.

Lê Cao Đoàn

 

100.

101.

102.

Phan Ngọc

Mai Thái Lĩnh

Tiêu Dao Bảo Cự

 v.v.....

          Lâu nay chỉ khu vực I mới được đưa tin, có tuyên truyền, có ra báo, tạp chí, có xuất bản phẩm. Riêng về khu vực II lâu coi như không tồn tại, không có ai tổng hợp, thông tin và kỳ này, tôi thử bàn tới khu vực II.

          II. Thử nêu lên 1 vài nhận xét đồi với hoạt động của khu vực I.

          1. Lâu nay chỉ có khu vực này mới được thừa nhận là hoạt động lư luận, mới có tổ chức, có chương tŕnh, có dự án, có kế hoạch, có huy động lực lượng, có nghiệm thu, có xuất bản, và có kinh phí do ngân sách chi đầy đủ.

          2. Những thành tựu có tính chất tinh tuư nhất trong 10 năm trước đây được cô đọng đầy đủ trong 4 tác phẩm nổi tiếng dưới đây:

          a/ “Lẽ phải của chúng ta” của Hội đồng lư luận Trung ương (khoá IX) (in xong tháng 11/2004).

                  b/ “Vững bước trên con đường đă chọn” của Hội đồng Lư luận         TW khoá IX (in xong tháng 12/2004)

          c/ “Nhận dạng các quan điểm sai trái thù địch của Ban tư tưởng văn hoá TW (in xong quư I/2005 – in 10.000 cuốn.

          d/ Báo cáo Tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2005) để tŕnh ra các Hội nghị TW trước Đại hội X.

          3. Tư tưởng cơ bản của 4 công tŕnh này là 3 cái khẳng định:

          a/ Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là duy nhất khoa học, duy nhất cách mạng, phải là hệ tư tưởng của Đảng.

          b/ Khẳng định định hướng đi lên CNXH là con đường duy nhất, tất yếu phải đi tới của xă hội Việt Nam.

          c/ Khẳng định Đảng cộng sản VN là lực lượng lănh đạo duy nhất xứng đáng trong hệ thống chính trị chuyên chính vô sản ở  Việt Nam.

4. Mọi quan điểm khác với 3 cái khẳng định nói trên đều bị coi là các quan điểm sai trái, thù địch cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ, tiêu diệt, không được thoả hiệp.

5. Với cách đặt vấn đề như trên, hoạt động lư luận của khu vực mang nhiều nhược điểm lớn.

a/ Không hoà chung nghiên cứu lư luận của Đảng vào trong ḍng suy nghĩ lư luận của dân tộc mà lại mang tính biệt phái, lạc lơng.

b/ Coi thường, phỉ báng, triệt tiêu các hoạt động lư luận của các trí thức trong dân tộc, khác ư kiến với ḿnh.

c/ Lư luận của Đảng trở thành nhân tố ḱm hăm, phá hoại đoàn kết, không c̣n vai tṛ tiên phong trong lĩnh vực tư duy nữa (thử so sánh với cách đặt vấn đề trong cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc: “đoàn kết mọi tầng lớp không phân biệt hệ tư tưởng” với kết luận: “khác với quan điểm của Đảng th́ đều là sai trái, thù địch”.

III. Lâu nay, bên cạnh hoạt đông lư luận của khu vực I vẫn tồn tại hoạt động của các nhà lư luận khác của dân tộc (mà tôi tạm gọi là của khu vực II) bao gồm 1 số khá đông các trí thức ở trong nước (ngoài các nhà trí thức của khu vực I) và cả ở ngoài nước.

1. Hoạt động lư luận của khu vực này không hề do ư đồ hay nghị quyết của 1 tổ chức nào cả, mà là sự tự giác, tự ư thức đi vào nghiên cứu và phát biểu. Họ đi vào nghiên cứu không hề v́ động cơ có nhận thù lao nào cả, cũng không có khả năng in ấn, phát hành, và trong 1 số trường hợp có nguy cơ bị truy trù, theo dơi và đàn áp.

2. Khác với khu vực I, trong đó các nhà lư luận không được đụng đến các khẳng định nêu ở điều 3 phần II, tức là bị g̣ bó, ràng buộc bởi những phương hướng do Bộ chính trị quy định, các nhà trí thức thuộc khu vực II được thoải mái tiếp xúc với các thành viên của  nền văn minh thế giới trước kia và hiện nay, trong quá tŕnh vận động từ thời kỳ công nghiệp, sang hậu công nghiệp, tiến lên 1 xă hội trí thức (mà không sợ bị quy kết là bị tiêm nhiễm bởi hệ tư tưởng tư sản quốc tế). Họ mạnh dạn và thoải mái gạt bỏ các nguyên lư lư luận sai lầm đă bị thực tiễn kiểm nghiệm như: quá cường điệu đấu tranh giai cấp, kiên tŕ mô h́nh chuyên chính vô sản, đ̣i Đảng cộng sản phải giữ vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị, đ̣i quân đội và công an phải do Đảng độc chiếm, đ̣i hỏi thực hiện công hữu hoá, xoá bỏ tư hữu, đ̣i phải xoá bỏ thị trường, thực hiện chỉ đạo kế hoạc hoá tập trung đối với nền kinh tế, thiết lập nền dân chủ vô sản hay nền dân chủ XHCN có tính giai cấp, phủ nhận những kinh nghiệm của nền văn minh thế giới về chế độ dân chủ v.v...

3. Nếu  như hoạt động lư luận của khu vực I là nhằm bảo vệ mục tiêu và lợi ích của Đảng, của lớp người cầm quyền th́ hoạt động lư luận  của khu vực II lại nhằm bảo vệ lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xă hội.

4. Nếu như hoạt động của khu vực I được tiến hành 1 cách có tổ chức, có hệ thống, có trật tự trên dưới, có chỉ huy, có tổ chức giám định, có được cấp ngân sách đầy đủ th́ hoạt động lư luận của khu vực [II- ghi chú của Ṭa soạn] lại hoàn toàn ngược lại: không có tổ chức, không có trật tự trên dưới, không có chỉ huy chỉ đạo, không có tổ chức giám định, và hoàn toàn không có được cấp bất cứ 1 món kinh phí nào cả. Giữa các trí thức của khu vực II, không ai chỉ huy ai, không ai là cấp trên hay cấp dưới của ai, không ai dậy ai hay khống chế ai.

5. Cùng trong 1 dân tộc, cùng v́ lợi ích của đất nước, nhưng gần như có sự cách biệt, có thể dẫn đến trạng thái đối lập giữa 2 khu vực, không bổ sung được trí thức cho nhau, không hợp thành 1 trí tuệ tổng hợp, 1 sức mạnh tổng hợp trên mặt trật tư duy lư luận.

Việc xuất hiện những cách kiến giải khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, là 1 điều b́nh thường và tất yếu. Thái độ đối xử với các cách kiến giải khác nhau nên như thế nào? Bên này có nên chửi bới bên kia là quan điểm sai trái, thù địch không? Là cơ hội chính trị không? Là chống Đảng, chống nhà nước không? Là phản bội Tổ quốc không? Bên này hay bên kia có nên tự cho ḿnh là độc quyền “chân lư” “độc quyền lẽ phải” không?

Theo tôi, các nhà trí thức nên khiêm tốn hơn, lắng nghe ư kiến khác nhau, tranh luận thẳng thắn có tính thương thảo, thuyết phục nhau chớ nên có thái độ lấy lư do “phải đứng trên lập trường giai cấp vô sản, đấu tranh không thương tiếc với các hệ tư tưởng tư sản, phong kiến” mà địch đối hoá cuộc tranh luận.

IV. Thử nêu 1 điểm nhỏ trong hàng chục vấn đề cơ bản của đất nước cho tới nay chưa có lời giải đáp về lư luận.

Đối với người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đáng nhẽ công tác lư luận  của giới trí thức của dân tộc phải giúp cho dân tộc

-         hiểu rơ XH Việt Nam hiện nay là xă hội ǵ ?

-         hiểu rơ xă hội Việt Nam trong lịch sử đă vận động ra sao?

-         hiểu rơ xă hội Việt Nam trong thế kỷ XX vận động ra sao?

-         Hiểu rơ xă hội Việt Nam để t́m con đường phát triển của đất nước và xây dựng chủ thuyết phát triển của đất nước.

ở  đây tạm chỉ nêu một trong hàng chục vấn đề quan trọng của đất nước.

“Thái độ đối với tư tưởng Hồ Chí Minh” để trao đổi. Một số trí thức thuộc khu vực II cho rằng:

Trong khi TW Đảng về văn vẻ th́ ra vẻ đề cao và trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng trong thực tế cuộc sống th́ lại phản bội lại tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Khi lập nước, Hồ Chí Minh đă đặt tên nước ta là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Việc đặt tên đó hoàn toàn chính xác. Nhưng những người lănh đạo sau này của Đảng đă đổi thành “Nước cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nếu như tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là hoàn toàn đúng đắn, th́ việc đặt tên nước CHXHCN Việt Nam lại hoàn toàn sai lầm. Trong  xă hội chưa phải là XHCN mà đặt tên nước là XH là không đúng. Sau 1/2 thế kỷ nữa liệu có CNXH, CNCS ở Việt Nam  hay không? C̣n là 1 vấn đề không rơ?  Các nước tự đặt tên là XHCN đều đă sụp đổ rồi. Khá nhiều ư kiến các trí thức, các cán bộ lăo thành đă đề nghị đổi tên, lấy lại tên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nhưng lănh đạo ĐCS mấy khoá nay và Hội đồng lư luận cũng đều....

2. Từ cách mạng tháng 8, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) cho tới khi ra đi (1969), Hồ Chí Minh đă chủ trương và đă thực hiện 1 cách nhất quán chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng: thường xuyên tồn tại Đảng dân chủ và Đảng xă hội bên cạnh Đảng lao động Việt Nam.

Như vậy quan điểm chính trị đa nguyên, đa đảng vốn là 1 đặc điểm, 1 ưu điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của hệ thống chính trị nước ta trong hơn 30 năm sau cách mạng  tháng 8, hiện nay lại trở thành 1 quyết định sai trái, đến mức những ai dám đề nghị chế độ đa nguyên, đa đảng có thể bị coi là quan điểm thù địch(?), chống nhà nước (?) và bị đàn áp.

3. Trong Bản Di chúc (văn bản duy nhất của ô. Hồ Chí Minh được tác giả xem đi xem lại và bổ sung hàng năm trong suốt năm năm 1965-1969). ô. Hồ Chí Minh đă viết:

“Điều mong nuốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà b́nh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Đặt mục tiêu như vậy là phù hợp với nguyện vọng của toàn dân và đến nay có thể tranh thủ được sự đồng t́nh của đông đảo kiều bào ở ngoài nước.

Nhưng gần đây lại có 1 số người đề xướng luận điểm phải trùng thành với Nhà nước cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam”, phải đọc rơ ràng vào trong mục tiêu là phải xây dựng CNXH coi như 1 thành phần không thể thiếu trong mục tiêu?

Điều này theo tôi nghĩ không giúp ǵ cho việc tranh thủ đoàn kết với khối 3 triệu kiều bào ngoài nước.

4. Hiện nay Bộ chính trị và Hội đồng lư luận các khoá nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Biết bao nhiêu sách, báo đă được xuất bản về chủ đề này.

Nhưng theo như tôi nghĩ, khá nhiều bài viết đă định nghĩa, thuyết minh theo hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh (cơ bản, chủ yếu) là sự vận dụng trung thành và sáng tạo học thuyết Mác-Lênin vào Việt Nam. Qua việc đề cao Hồ Chí Minh kiều đó, thực tâm họ muốn nhằm ca tụng và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin.

Theo tôi suy nghĩ, đó chính là sự hiểu lầm lớn nhất, sự xuyên tạc trắng trợn nhất nội dung  tư tưởng Hồ Chí Minh và qua đó chính họ hạ thấp vai tṛ của ô. Hồ Chí Minh  trong đấu tranh cách mạng  ở Việt Nam.

Nội dung cơ bản và giá trị thực của tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu  nhất là sự tiếp thu và nâng cao những giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam đi đôi với thuân hoá và tiếp nhận các giá trị của các nền văn hoá trên thế giới.

5. Tôi không hiểu trong toàn tập Hồ Chí Minh có bài nào nói đến vấn đề quân đội phải trung thành với Đảng hay không? Nếu ông có nói như vậy, th́ câu nói đó là sai lầm.

Nhưng tôi có nhớ măi câu nói của ông Hồ trong thư gửi cho lớp đào tạo sĩ quan lục quân khoá I ở Sơn Tây (1946).

Ô. Hồ Chí Minh có nói: “Quân đội phải trung với nước, hiếu với dân”. Tôi rất tâm đắc và ủng hộ quan điểm này. Nhưng tôi nghĩ rằng, tất cả chiến sĩ quân đội, viên chức nhà nước, đảng viên Đảng cộng sản và mọi công dân đều phải “Trung với nước, hiếu với dân”. Đặt vấn đề quân đội phải trung thành với Đảng là 1 quan điểm sai lầm.

V. Bạn có nên góp ư với Bộ chính trị về công tác lư luận  chưa ?

1. Với những cách suy nghĩ như trên, anh nên suy nghĩ kỹ xem có nên phát biểu góp ư với lănh đạo Đảng hay không?

Nếu bạn định biểu thị hoan nghênh ca tụng Hội nghị của Hội đồng lư luận vừa qua th́ tôi khuyên bạn chớ góp ư ǵ cả, lấy cớ sức khoẻ, hay bận việc ǵ đó mà không trả lời. Nếu bạn hoan nghênh Hội đồng lư luận, th́ bạn tự đánh mất ḿnh đấy.

2. C̣n nếu bạn định cố đóng góp ư kiến tâm huyết với Bộ chính trị th́ tôi gợi ư anh tham khảo xem có nên đề cập một vài điều trong các vấn đề sau đây:

a/ Cần có sự kiểm điểm (nếu chưa gọi là Tổng kết) công tác lư luận  của khu vực I và cả khu vực II nữa?

b/ Cần gạt bỏ các định hướng g̣ bó: như nhất thiết phải bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin phải bảo vệ đường lối của Đảng là đúng, trả lại quyền tự do suy nghĩ, lột bỏ mũ kim cô.

Cần tạo 1 không khí dám nghe các ư kiến khác nhau thậm chí đối lập nhau, kinh qua thảo luận dân chủ, b́nh đẳng thoải mái và thân thiện, phát hiện và cùng chung sống với các cách hiểu, cách suy nghĩ khác nhau, trái nhau.

Do đó cùng 1 chương tŕnh, 1 đề tài có thể kết thúc bằng vài 3 tham luận, kết luận, luận án khác nhau để cho lănh đạo của Đảng, của Quốc hội, của Chính phủ, của Uỷ ban TW Mặt trận tổ quốc rộng đường lựa chọn quyết sách hành động.

c/ Làm sao được hoạt động của khu vực II hoà chung với ḍng chảy của khu vực II (cả trong nước và ngoài nước), phát huy vai tṛ lănh sướng của khu vực I, tránh trạng thái cách biệt và đối lập với nhau, như vừa qua.

d/ Xác định lại nhiệm vụ, mục tiêu của nghiên cứu lư luận đi sâu lư giải xă hội Việt Nam, sự vận động của xă hội Việt Nam trước đây và hiện nay gắn với chuyển đổi vũ băo của thế giới, tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại trong 60 năm qua, để từ đó t́m con đường phát triển tối ưu cho đất nước, và xây dựng lư luận  phát triển của nước Việt Nam trong 1/2 đầu thế kỷ XXI.

Nên từ bỏ cách đặt vấn đề nào là phải chống giáo điều hay chống bệnh kinh nghiệm, chống hữu khuynh hay chống tả khuynh, chống bọn cơ hội chính trị.

Đối vối chúng ta điều quan trọng là tham khảo các học thuyết trên thế giới, đi sâu tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại của nước ta, để từng bước tiến lên không lệ thuộc, sùng bái bất cứ 1 thuyết ngoại lại nào.

3. Nhưng bạn nên cân nhắc kỹ lại và thử dự kiến những khả năng xấu có thể xảy ra: họ cắt đứt trong quan hệ với bạn nữa, họ tẩy chay bạn, họ bôi đen bạn, họ theo dơi bạn v.v... Và cũng nên tham khảo ư kiến của vợ bạn xem có thể chấp nhận khả năng rồi hăy làm. V́ cách xử lư xấu trong chế độ ta đă thành 1 “tập quán” rồi.

Nếu bạn và vợ bạn chưa sẵn sàng đương đầu với khả năng xấu, th́ bạn hăy chờ đợi thêm 1 thời gian nữa rồi hăy phát biểu.

 

   Rất thân

Lê Hồng Hà

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục