|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
TƯ TƯỞNG và DÂN TRÍ
là nền móng xă hội
HÀ SĨ PHU
(Mạn đàm cùng các ông Lê
Hồng Hà, Bùi Tín, Vơ Văn Kiệt)
Phần
I : Mấy lời trước
khi tham luận
Phần
II : Mấy
nhược điểm chính trong tính cách của Dân
tộc ta, và cách
ứng xử
cần thiết hiện nay
Phần
III : Mác-Lênin là
cái nền móng không dùng được nữa
Phần
IV : Nhân vật
lịch sử Phan Chu Trinh và những bài học cho hôm
nay
PHẦN I : Mấy lời trước khi
tham luận
Xă hội Việt nam lúc này,
hơn bao giờ hết cần sự động tâm,
động năo… của mỗi người dân Việt.
Nếu
chỉ lấy dấu mốc từ 1975 khi
chiến tranh kết thúc đến nay thôi th́ t́nh h́nh xă
hội Việt nam cũng đă cho thấy những
tính chất rất phức tạp. Từ phía
đảng cầm quyền đă có một hệ
thống lư luận cung cấp một cách nh́n toàn
cảnh, cho thấy đất nước đă
vượt qua hàng loạt khó khăn một cách
thắng lợi, đă hội nhập được
vào nền kinh tế toàn cầu, bộ mặt kinh
tế đất nước và đời sống nhân
dân đă được cải thiện một cách
căn bản và đang phát triển với tốc
độ cao; những thành tích ấy là do có một cái
nền ổn định về chính trị, có sự
đoàn kết nhất trí của toàn dân , được
quốc tế ủng hộ, nhất là nhờ có sự
lănh đạo đúng đắn của đảng
CSVN với phương châm chiến lược
tuyệt đối đúng là kiên tŕ định
hướng Xă hội chủ nghĩa. Nghĩa là con tàu
Việt nam đă được đặt vào đúng
quỹ đạo, hành khách có thể hoàn toàn yên tâm.
Đấy cũng là sự
thật, song mới là « sự thật một
nửa », một mặt của sự thật. Chỉ
cần “hành khách” không thuộc loại “vô lo vô nghĩ”
để có thể cứ yên tâm ngủ gà ngủ
gật, mà lại tỉnh ngủ để nh́n rơ
những ǵ đang diễn ra bên trong và bên ngoài đoàn
tàu th́ lập tức thấy không thể yên tâm, không
thể phó mặc, mà tự nhiên thấy lo âu, và có
phần sinh nghi.
Những thực tiễn trái
chiều và nhận định trái chiều với quan
điểm chính thống th́ nhiều vô kể, nhưng
điều đáng nói nhất là sự tích lũy những
sự kiện ấy đă dẫn đến chỗ
buộc phải “xét lại” vấn đề một cách
hệ thống. Bởi có nhăn
quan hệ thống mới có thể lần ra đầu
mối một thực tế phức tạp, tốt xấu
đan cài, với nhiều ảo ảnh, nhiều vùng
ngụy trang để đánh giá đúng và có những
quyết định đúng và thái độ ứng xử
đúng.
Những quan điểm
trái chiều có tính hệ thống ở Việt nam đă
xuất hiện khá sớm, trên dưới 20 năm
nay. Nhưng theo thời gian, mâu thuẫn ấy không giảm
để đi vào ổn định, trái lại ngày càng
tăng lên.
Chỉ cần lấy ba bài
viết gần đây, từ ba nhân vật đă hoặc
đang là những đảng viên khá cao cấp của
đảng CSVN, mang tính “xét lại” một cách hệ
thống làm ví dụ : bài “Góp
ư với Báo cáo tổng
kết lư luận và thực tiễn 20 năm
đổi mới”của cựu thủ tướng
Vơ Văn Kiệt công bố cuối tháng 5 -2006 [1], bài “Những vấn đề
cần làm rơ về cách mạng dân tộc-dân chủ
ở Việt Nam”của nhà báo Bùi Tín ngày
24-3-2007 [2], và bài trao đổi
của ông Lê Hồng Hà với Hà Sĩ Phu ngày 10-3-2007 [3].
Ba nhân vật
này đều đă là ba đảng viên Cộng sản
cấp khá cao nhưng nằm trong ba trường hợp
diễn biến rất khác nhau, nên khá tiêu biểu cho bức
tranh phân ly tất yếu phát sinh từ trong đảng
Cộng sản (một ông cựu thủ tướng vẫn
đang là đảng viên có vai vế cao trong đảng,
một ông bị đảng khai trừ và bỏ tù v́
trái quan điểm nhưng vẫn gắn bó mật thiết
với nội t́nh của đảng, một ông đă
ra khỏi nước và chính thức đối lập
với đảng).
Ba bài viết đều
toát lên nhu cầu phải dân chủ hoá xă hội, nhưng
thuộc ba cung bậc khác nhau, và cả những ưu điểm
cũng như nhược điểm của các bài ấy
đều kích thích người ta bàn luận, nên ngẫu
nhiên hợp lại có thể coi như một “đề
dẫn” khơi mào cho một cuộc thảo luận
mang tính hệ thống. Quan điểm trái chiều của
những trí thức không phải đảng viên Cộng
sản tất nhiên mạnh mẽ hơn nhiều, nhưng
hăy chỉ kể thêm một tài liệu nữa, từ những
người đứng giữa, là “Nghị quyết
số 1481” của
Hội đồng Nghị viện châu Âu PACE ngày
25-1-2006 [4], một bản đúc
kết có tính quốc tế, khái quát và khách quan.
Đọc
xong các tài liệu ấy, một người Việt
có hiểu biết không thể không đặt ra những
câu hỏi từ tổng quát đến cụ thể :
- sự
chọn lư thuyết Cộng sản vừa làm mục đích
vừa làm phương tiện có phải là sự lựa
chọn đúng, khoa học và khôn ngoan không?
- trên con đường
Cộng sản ấy Việt nam đă đi được
đến đâu, và sẽ đi đến đâu, những
hiệu quả chính trị và xă hội (cả tích cực
và tiêu cực) của sự lựa chọn ấy đối
với quá khứ, hiện tại và tương lai tốt
xấu ra sao? ĐCSVN hiện nay có thực trung thành với
chủ nghĩa Cộng sản không, hay trung thành với
cái ǵ khác?
- nên tóm tắt
diễn biến của xă hội Việt nam 32 năm
qua như thế nào cho đúng thực chất?
- nên xử
lư thế nào trước thực tiễn lịch sử
rất không đơn giản này để phát triển
đất nước một cách trong sáng, xứng với
tầm thời đại? Cứ yên tâm như hiện
nay mà đi tiếp hay phải thoát ra khỏi t́nh trạng
này, và ra bằng lối nào?
- có thể
áp dụng kinh nghiệm các nước khác vào Việt
nam không, Việt nam có tính cách đặc biệt ǵ trong
tư duy và trong ứng xử?
- những
người trí thức có trách nhiệm thế nào trong
những diễn biến ấy?
… vân vân…
Mặc
dù mọi vấn đề đều có liên quan với
nhau, nhưng muốn ngồi lại với nhau để
thảo luận được, trước hết phải
tách thành hai lĩnh vực : lĩnh vực nhận thức, lư luận
khoa học và lĩnh vực hoạt động chính trị. Bấy lâu nay
không thể thảo luận ǵ được v́ cứ
vội vă nhập hai lĩnh vực này làm một, tư
duy cứ bị cái chính trị của bên này hay bên kia chụp
mũ thô bạo nên “chết ngắc”, mất hẳn
thiên chức khách quan, nhạy cảm chỉ đường
của nó.
Nhận thức khoa học
và hoạt động chính trị là hai lĩnh vực
khác hẳn nhau, một bên lấy chuẩn là sự thật,
là chân lư khách quan , một bên lấy
chuẩn là lợi ích, mà lợi ích luôn có tính chủ
quan (dù là lợi ích lớn của một dân tộc cũng
vậy). V́ khác nhau về xuất phát điểm nên cũng
khác hẳn nhau về tính chất : đă là tư duy
khoa học để t́m chân lư khách quan th́ phải đi
đến cùng, phải nhất quán, phải triệt để,
để xác định xem cuối cùng “bản chất
nó là cái ǵ”? Không thể nhân nhượng, không thể pha
trộn cho vừa ḷng, không được “nói dựa”
theo thực tế mà c̣n phải đi trước thực
tế.
C̣n
hoạt động chính trị th́ khác hẳn. Dẫu
có dựa trên một chân lư khoa học khúc triết và
triệt để đến đâu th́ người hoạt
động chính trị vẫn phải căn cứ vào
thực tế, phải xuất phát từ hiện trạng,
phải thích nghi và điều chỉnh thái độ từng
bước theo thực tế, thích nghi với quần
chúng, sẵn sàng mềm dẻo, thương lượng
để t́m sự đồng thuận, cốt sao vận
động được quần chúng thành sức mạnh
để thực hiện mục đích. Mà mục đích
lại phải chia thành nhiều giai đoạn từ
thấp lên cao. Có lúc tiến, có lúc lui, tuỳ tương quan về thế và về lực.
Trong khi khoa học không chấp nhận thủ đoạn,
luôn phải nói thẳng, nói đúng sự thật, th́ người
hoạt động chính trị có thể dùng “thủ đoạn
chính trị”, không phải bao giờ cũng nói hết
sự thật hay toàn bộ tiến tŕnh. Đánh giá người
hoạt động chính trị là ở kết quả
cuối cùng đối với xă hội.Nghệ thuật
chính trị là vậy, nếu người hoạt động
chính trị lại hành xử giống như một
nhà khoa học hay hành xử theo xúc cảm chủ quan th́
đều là “vô chính trị”.
Bởi
hai lĩnh vực khác hẳn nhau như vậy nên nếu
ta đem cả hai dạng đối chọi ấy vào
một cuộc hội thảo th́ khó có thể dung ḥa.
Theo sự liên quan đến
hai lĩnh vực này, mỗi chúng ta có thể gần gũi
với một trong năm trường hợp :
1. hoặc
là một người duy lư,chỉ
quan tâm đến những vấn đề lư luận
khoa học và nhận thức (kể cả khoa học
chính trị và nhận thức chính trị).
2. hoặc
là một người hoạt động chính trị,
một người duy lợi , chỉ
quan tâm đến lợi ích, thắng thua.
3. hoặc
là người quan tâm đến cả hai lĩnh vực
trên , vừa tôn trọng lư luận
khoa học để t́m chân lư khách quan, vừa muốn
có hoạt động xă hội để góp phần
thực hiện chân lư đó(có thể nặng về mặt
này nhiều hơn hay mặt kia nhiều hơn).
4. hoặc
là một người cũng quan tâm đến lư luận
chính trị-xă hội nhưng từ các góc nh́n khác, từ
những nhu cầu khác (duy tín, duy mỹ, duy ngă...).
5. cuối
cùng, đương nhiên có những người không
quan tâm ǵ hết, coi ngôn luận là tṛ bỏ đi.
Mỗi
“type” người nói trên có kiểu ngôn luận riêng. Nhưng
trong một không khí bao trùm bởi độc quyền chính
trị th́ mỗi “type” ấy đều phải biến
dạng. Nhà khoa học cũng khó có thể bộc lộ
quan điểm khoa học một cách hoàn toàn thoải
mái, tự do. Một nhà chính trị khôn ngoan th́ vốn ít
khi “nói thẳng ruột ngựa”. Một nhà văn th́ lại
có cách cảm thụ, cách diễn đạt riêng, với
uẩn khúc riêng. Nhưng dù có bị che mờ đi th́ rồi
người đọc vẫn có thể nhận ra động
cơ và hàm ư cốt lơi của người viết.
Điều quan trọng là : Hăy
cứ nhận thức vấn đề cho thấu đáo,cho khoa học, cho thoải mái, cho khách
quan trước đă ! Rồi vận dụng nhận
thức ấy vào hoạt động chính trị, vào
cuộc sống thế nào là việc về sau của
mỗi người, là quyền của mỗi người,
mỗi phe phái. Nếu biết tách thành hai “công đoạn”
như vậy th́ hai mặt mâu thuẫn vẫn t́m được
chỗ thống nhất. Một nhà khoa học rất
triệt để trong nhận thức vẫn có thể
là người rất mềm dẻo trong ứng xử,
kể cả ứng xử chính trị.
Vậy muốn đi t́m một
nhận thức đúng th́ đừng vội g̣ ḿnh và
g̣ người khác vào nhu cầu chính trị, đừng
vội quy kết chính trị. Nếu tôn trọng điều
này chắc cuộc thảo luận về nhận thức
có thể đem lại nhiều điều bổ ích
chung và bổ ích cho mỗi người (tất nhiên trừ
những người ngay từ đầu đă có nhu
cầu tránh né sự thật!).
Vậy
ta hăy bộc lộ nhận thức một cách thẳng
thắn theo tinh thần khoa học.
Ghi chú :
[1] Vơ Văn Kiệt: ĐÓNG
GÓP Ư KIẾN VÀO BÁO CÁO TỔNG KẾT LƯ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HAI
MƯƠI NĂM ĐỔI MỚ (http://ykien.net/tl_viettrung90.html) tháng 9-2005
[2] Bùi Tín Những
vấn đề cần làm rơ về cách mạng dân
tộc dân chủ ở Việt Nam (www.talawas.org/talaDB/talaDBFront.php?rb=0401)
24.3.2007
[3] Nội dung bóc
băng cuộc điện thoại giữa ông Lê
Hồng Hà và Hà Sĩ Phu ngày
10-3-2007 (www.hasiphu.com\baivietmoi_08.html
)
[4] Nghị
quyết 1481 _Resolution 1481 (2006
Need for
international condemnation of crimes of totalitarian communist regimes _ webmaster.assembly@coe.int
PHẦN II : Mấy nhược điểm chính trong tính cách
của Dân tộc ta,
và cách
ứng xử cần thiết hiện nay
Người Việt ḿnh bản
tính chỉ ưa những ǵ thiết thực. Nhưng ưu
điểm ấy thái quá th́ thành thực dụng, tiện
dụng. Trong bộ ba Chân Thiện Mỹ ta thường
say mê Thiện và Mỹ , trong đó
Thiện là tốt, là tử tế, là có ích, có lợi. Mỹ
là cái đẹp. Thiện và Mỹ th́ dùng được
ngay, thưởng thức được ngay. C̣n Chân là
để biết cái thực chất, cái bản
chất của sự vật đúng như nó vốn
có, th́ phải truy nguyên, truy cứu đến cùng; việc
này rất tốn công lại thường gây rắc rối
nên số đông thường tránh né, thường bỏ
ngoài tai.
Việc truy nguyên, truy cứu
ấy ta thường “nhường” cho người khác,
cho những người “dư lực”, cho những nước
giàu có-văn minh, hoặc giả lại khoán trắng
cho người có quyền. Sự lảng tránh, không chịu
mất công t́m cái gốc sâu xa ấy một phần do
tính “khôn lỏi”, một phần do mặc cảm tự
ty,ngại khó, không dám bỏ công thiết kế cái nền
tảng cho ḿnh , cứ nương theo cái nền có sẵn
mà phụ họa, mà khai thác thôi. Cái ǵ đă có sẵn, đă
du nhập vào, đă thành chính thống là chấp nhận
hết, tận dụng hết, nếu thấy có ǵ c̣n chênh, c̣n
sượng, th́ xào xáo lại,
hoặc cố kê cho bằng, cố chắp nối vào
cho khớp. V́ thế mà không thể có một Tư tưởng
cho ra Tư tưởng, một cái nền nào cho ra cái nền.
Nhặt
một chút Lăo, một chút Khổng, một chút Thích Ca,
một chút Giê su, một chút Tôn Trung Sơn…, lại g̣ hết
cả vào cho lọt cái chảo Mác xít th́ thành Tư tưởng
sao được? Một sự kết hợp chủ
động và có hon lọc hong minh, hon tạo như của
Phan Chu Trinh là trường hợp hiếm thấy (xin đề
cập nhân vật lịch sử này trong một mục
khác).
Người Việt ḿnh tuy rất
thông minh , nhạy cảm nhưng chỉ giỏi thứ
văn thơ “tầm tầm”, chơi vơi, mà không đóng
góp được cho nhân loại một triết gia
hay một nhà bác học nào về khoa học chính xác là
bởi cái tính lưng chừng, không triệt để
ấy. Khi cái Thiện cái Mỹ đă đứng trên cái
nền vay mượn, th́ văn hóa khó thoát khỏi tính
chất kư sinh, mà chính trị cũng dễ bị trào lưu
đưa đẩy. Người cầm cờ th́ chạy
theo trào lưu, nhân dân th́ đổ xô theo người cầm
cờ. Thế là cả cộng đồng không biết
nắm đằng chuôi , cứ nắm
đằng lưỡi ( lưỡi là bộ phận
hào nhoáng , tiện dùng ), th́ bị người ta “dắt
tựa trâu ḅ” (lời thơ Hồ Chí Minh) là lẽ đương
nhiên, đă dính vào rồi th́ về sau có tỉnh ngộ
ra cũng không cưỡng lại được nữa,
cưỡng lại th́ đứt mũi, đứt
tay.
Người thực dụng,
cảm tính, ăn xổi như vậy
trước mắt tưởng là khôn nhưng suốt
đời mắc những cái dại lớn. “Hớt váng nổi” măi cũng
không được, hớt măi sẽ cạn và đụng
đến cái bế tắc.Khi bế tắc đáng lẽ
phải đi lại từ đầu, nhưng vốn
không có sự kiên tŕ dũng cảm ấy nên đương
nhiên lại chọn cách sửa chữa vá víu, tu sửa
vặt, thế là măi măi không có một cái nền nào vững
chắc.
Nền
không vững th́ nhà không thể xây cao, Tư tưởng
không được định h́nh vững chắc và
chính xác th́ dân tộc không thể đi xa. Đến những
việc trọng đại của dân tộc ḿnh, không
ai làm hộ được mà ai cũng “khoán trắng”
cho người khác th́ mong chi làm chủ được
cơ đồ? Hàng ngh́n năm phụ thuộc Trung quốc
là do phụ thuộc về ư thức hệ. Mấy chục
năm phụ thuộc phe Xă hội chủ nghĩa cũng
v́ phụ thuộc ư thức hệ. Đến bây giờ
dân phụ thuộc vào Đảng cũng v́ bị ư thức
hệ dắt đi. Cái giá phải trả cho sự ỷ
lại, lười nhác về tư duy là như vậy
đấy.
Khi nhấn mạnh vai tṛ nền
tảng của Tư tưởng, phải hiểu rằng
ai chiếm lĩnh được nền tảng ấy
là làm chủ được xu thế xă hội. Có Tư
tưởng đúng mới xây dựng được một
Dân trí cao.
Một
dân tộc không có Tư tưởng hay coi nhẹ Tư
tưởng th́ cũng tự đánh mất luôn
quyền làm chủ xă hội của ḿnh.
Ngược
lại, áp đặt
một Tư tưởng cho nhân dân , dẫu cho Tư
tưởng ấy ca ngợi dân lên đến tận
trời, th́ cũng là huỷ diệt tận gốc
khả năng làm chủ của nhân dân. Chỉ cần
trói buộc được một người về
tư tưởng thôi là cơ bản đă trói buộc
xong con người đó, đảm bảo họ chỉ
cựa quậy quanh quỹ đạo ấy, mọi sự
cải thiện về sau cũng chỉ là vớt vát.
Chỉ với một tư
tưởng “Trung Quân” (bởi “Quân” là đấng Thiên
tử -con Trời, thay Trời trị dân) mà vua chúa chiếm
được hết cả sơn hà xă tắc. Thần
dân bị mất sạch sành sanh vào tay vua chúa, thế
mà chỉ cần một câu nói xạo “dân vi quư, quân vi
khinh”, hay một chén rượu thưởng
, một mảnh giấy khen …là sướng run
lên đến quên hết sự đời. Khốn nạn
thay!
Dân phẫn nộ, có vùng lên
th́ th́ xương máu lại cũng xây đắp lên một
ngai vàng mới, c̣n tệ hơn ngai vàng cũ. Bởi vấn đề
gốc rễ không phải là thay một ngai vàng, mà
phải thay một Tư tưởng! .
Không cần Tư tưởng
hon bốc nhân dân, vô ích! (Nghịch lư là muốn thương
dân th́ đừng nh́n chăm chăm vào dân làm ǵ mà hăy để
mắt nh́n vào kẻ trị dân!). Chỉ cần kẻ
trị dân không được độc quyền, buộc
phải phân quyền , v́ độc quyền sẽ dẫn
đến lạm quyền vô hạn.Thế thôi, lăo Vua
nó bảo nó sẽ tu hon, nó sẽ thương dân, nó sẽ
hy sinh hết cho dân, nó chỉ muốn làm đày tớ
của dân, ngoài hong không có lợi ích nào khác? Mặc nó,
không nghe làm ǵ! Chỉ cần nó chịu phân quyền, nó
không được độc quyền cai trị, khi
nó sai trái dân có thể phế truất .
Muốn phế truất được th́ dân phải nắm
đằng chuôi . Muốn nắm đằng
chuôi th́ cái triết lư trị dân, tức cái Tư tưởng
chính trị phải do dân lựa chọn.
Cụ Hồ đă chọn
một con đường cách đây ngót một thế
kỷ, trong một ư thức không mấy đầy đủ
[5], nay tuyệt đại bộ
phận các nước, nhất là các nước văn
minh, đều xác nhận con đường ấy là
sai, th́ phải đặt vấn đề ấy công
khai lên bàn cho toàn dân tộc thẩm định một
cách dân chủ. Nếu trước chọn chưa đúng
th́ nay dân chọn lại, dân là chủ th́ việc tối
hệ trong này phải do ông chủ quyết định,
chứ không thể nhường cái quyền lựa chọn
ấy cho “Bác Hồ” hay cho bất cứ ai. Nhưng các
giới cầm quyền trong các nước Xă hội
chủ nghĩa đă “vớ” được một chủ
nghĩa cực kỳ béo bở nên không muốn rời
ra nữa (sao Marx thương người lao động
mà lại ngớ ngẩn nghĩ ra cái chủ nghĩa
làm khổ người lao động đến thế?
Hăy so sánh đời sống người lao động
ở các nước theo chủ thuyết Mác với các
nước Tư bản xem ở đâu tốt hơn,
hăy mở cửa xem người dân chạy từ đâu
sang đâu?). Mà dân ḿnh th́ đă nhiễm cái bệnh thâm
căn cố đế là thiếu tinh thần tự
chủ nên cứ tiếp tục để bị dắt
đi, như thể chẳng có ǵ quan trọng xảy
ra hết !.
Đến đây, tôi xin
phép dừng lại một chút, bàn về ư thức làm
chủ của người Việt ḿnh. Sự vùng lên đánh
giặc với ư thức làm chủ là hai thứ khác
nhau một trời một vực, một thứ là bản
năng sinh tồn của kẻ bị mất nước,
một thứ là ư thức xă hội của công dân một
nước độc lập. Truyền thống ỷ
lại, phụ thuộc, chiều ḷng cấp trên của
người Việt đă hun đúc nên cái đức “tự kiểm duyệt” rất
tuyệt vời. Chưa cần cấp trên ra lệnh
hoặc cấm đoán mà ḿnh đă hong minh, nhanh trí, tưởng
tượng xem tâm lư cấp trên muốn ǵ
để ḿnh tự
thực hiện trước. (Đồng tiền đi
trước là đồng tiền khôn, sự ngoan ngoăn
đi trước là sự khôn ngoan của “thánh nhân” đấy!).
Điều
kỳ lạ là kẻ bị trị lại nhanh nhảu
thử đặt ḿnh ở địa vị kẻ thống
trị, xem là cấp trên th́ muốn điều ǵ, không
muốn điều ǵ, để ḿnh tự giác thực
hiện. Nhiều “trí thức cách mạng” đă là kẻ
đi đầu trên con đường nô dịch này:
nhà nước chưa hề đặt quy chế kiểm
duyệt mà nhà văn nhà báo đă tự xếp hon đi
đều tăm tắp trong hon quân văn nô không chút sơ
xuất! Văn hào Nga Mikhail Alexandrovich Solokhov đă tự
hào về sự tự kiểm duyệt như sau : “Tôi
viết theo mệnh lệnh trái tim, nhưng trái tim tôi
thuộc về Đảng” (chứ Đảng đâu
cần ra lệnh cho tôi?). Trái tim vẫn nằm trong lồng
ngực nhưng đă được nhà văn “chuyển
giao” cho Đảng, một quy luật của t́nh yêu (si
t́nh “xin chết” cho người ḿnh yêu) đă vào chính trị
một cách ngọt ngào. Không phải chỉ những bài
viết, những tác phẩm, mà cả những cuộc
đời cũng được tự kiểm duyệt
cho “phải đạo”! Tôi chợt hiểu ra một thuật
chính trị: Muốn đánh lừa người khác th́
tốt nhất là làm thế nào cho họ tự đánh
lừa họ, bằng cách đó họ sẽ tiếp
tục gíup ḿnh đánh lừa những người khác
nữa, tạo nên một phản ứng dây chuyền!
Nhà thơ Bùi Minh Quốc gọi mẹo ấy là “biến
cuộc trấn lột thành một cuộc hiến
dâng tự nguyện”.
Cũng
nhà thơ BMQ, trong bài viết “Một ḿnh một phiếu”
[6] mới đây đă phát hiện
thói “tự kiểm duyệt” của phần đông người
Việt trong việc bầu cử :
Chỉ có một ḿnh trong pḥng kín với lá phiếu
trong tay mà không làm chủ được ḿnh, vẫn
luôn bỏ phiếu cho những kẻ mà lúc thường
ngày ḿnh vẫn không hong ǵ v́ tội tham nhũng! Nếu
lúc ấy ḿnh gạch tên ấy đi th́ có ai làm ǵ ḿnh đâu?
Cái thói tự kiểm duyệt đă thành tự kỷ
ám thị đưa con người vào t́nh trạng bị
thôi hon. Mà tôi xin nói: Đảng đâu có bảo anh làm như
thế, làm thế Đảng c̣n “mắng” cho là đằng
khác! Đảng vẫn nói: “Đảng đem lại
quyền làm chủ cho dân, làm chủ gồm có làm chủ
bản hon trước rồi mới làm chủ xă hội!”. Thế mà lúc “một ḿnh một phiếu”
trong pḥng kín ḿnh lại không “làm chủ bản hon” th́ tức
là ḿnh làm ngược ư Đảng chứ? Nhưng, một
người dân khẽ bảo với tôi
: Thôi ông ơi, cứ “làm ngược” thế mới
là xuôi đấy ông ạ! (người
dân nào cũng làm y như ḿnh rất am hiểu về
khoa “Tâm lư Đảng” mới lạ! Tài thế!).Không chỉ
người dân thường, nhiều trí thức, văn
nghệ sĩ có tên tuổi cũng thường có những
ứng xử rất “xoàng”, rất không xứng, mặc
dù chẳng có sức ép ǵ đến mức phải chọn
cách ứng xử như vậy. Cũng là một kiểu
“tự kiểm duyệt” an toàn quá mức
cần thiết đấy thôi.
Không ít người c̣n có suy
nghĩ đơn giản : Trước
mắt hăy cứ phát triển kinh tế, chính trị-tư
tưởng là chuyện đường xa, chưa cần.Thậm
chí c̣n coi chính trị-tư tưởng là cổ lỗ.
Những bạn trẻ đề cao kinh tế-kỹ
thuật ấy tưởng như thế là trí tuệ,
là hiện đại, nhưng thực ra đó là trí tuệ
nông cạn, cũng không khác ǵ tính thực dụng của
người ít học. Bất cứ một sự nghiệp
lớn, một công tŕnh lớn nào cũng đ̣i hỏi
trước hết một cái nền “triết lư” của
nó, đó là sợi dây vô h́nh để sâu chuỗi tất
cả mọi người, mọi điều, mọi
việc.
TS Vũ Minh Khương
(trường “Chính sách công” Lư Quang Diệu,
Đại học Quốc gia Singapore), sau khi khảo
sát hon loạt những chỉ số kinh tế- kỹ
thuật của Việt nam so sánh với Trung quốc
và nhiều nước khác,
cuối cùng đi đến kết luận : “Thế nhưng, đột phá không bắt
đầu từ cố gắng sửa đổi một
vài thủ tục hành chính, hay biện pháp đốc
thúc quyết liệt một số dự án trọng
điểm, mà phải khởi đầu từ
một TRIẾT LƯ PHÁT TRIỂN” [7]. Triết lư ở đây là một
hệ thống những quan niệm khoa học và linh
hoạt, giúp con người có một nhăn quan xa, rộng
và hài hoà, làm cơ sở để tiếp tục chọn
lọc không ngừng, không hề có tính chất khuôn mẫu
như một “chủ nghĩa”. “Chủ nghĩa” mới
là thứ lạc hậu, cổ lỗ, bởi không một
“chủ nghĩa” nào, do một đầu óc siêu việt
nào nghĩ ra, mà “trụ” nổi trong thế giới
ngày nay, thế giới mà tất cả những bộ
óc của ngh́n triệu con người đă được
nói thông sang nhau bằng Internet!.(Muốn cứu sống
một chủ nghĩa nào đó đương nhiên người
ta nhận ra kẻ thù là Internet và muốn khống chế
nó, nhưng làm sao “lấy chỉ mà buộc chân voi”?).
* *
*
- Trong khi rất dễ dăi,
lơ mơ, đại khái cho qua trước những
vấn đề lớn th́ người Việt lại
thường sắc xảo, tỷ mỉ, xét nét, chặt
chẽ, chắp nhặt, khó châm chước cho nhau
trong những vấn đề nhỏ, thậm chí chỉ
là tiểu tiết trong những vấn đề quan hệ,
đời sống cá nhân. V́ thế người Việt
vừa đặc trưng ở tính cách ôn ḥa, nhu thuận
lại vừa đặc trưng ở tính phân tán, nhỏ
nhặt, ganh tỵ, vơ biền, ham đánh nhau. Dân ta bộc
lộ được hết ưu điểm nếu
trước mặt có một kẻ thù xâm lược,
nhưng lại bộc lộ hết nhược điểm
khi cần hiệp lực trong tự chủ và phát triển.
Dễ chia sẻ với nhau trong đau thương hoạn
nạn nhưng khó chia sẻ hạnh phúc vinh quang. Cứ
phải có kẻ thù mới mạnh lên được,
hết kẻ thù là nhược điểm lại hiện
ra! Ở điểm này th́ tính cách dân tộc và “tính
cách” của chủ nghĩa Mác Lênin tỏ ra tương
hợp, cộng hưởng với nhau. H́nh như chủ
nghĩa Mác được viết ra chủ yếu là để
cho người Việt chúng ta vậy!
- Bản năng sinh tồn
cao, nhưng nặng về thích nghi, và thích nghi quá “nhạy”
nên dễ pha tạp, hầu như không có ǵ thuần chủng.
Không bao giờ rành mạch, không thể rành mạch, hoặc
không thích rành mạch. “Làm
tài trai cứ nước hai mà nói”, “Người khôn ăn nói nửa chừng,
để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo”,
“Nói dzậy mà không phải
zdậy”, cứ nhũng nhẵng thế mà “vô địch”
đấy, mặc dù vô địch kiểu này th́ cũng
khó đứng lên thành “người lớn” được.
Luật pháp ǵ cũng pha chất “cao su” cả, tính luật th́ ít, chất “mẹo” th́ nhiều. Sự
chọn lựa không phải giữa đúng và sai (bản
chất nó là cái ǵ không quan trọng), mà chỉ tính toán cái
nào có lợi nhất, hoặc trước mắt thấy
“ngon sơi” nhất, hoặc khó diệt nhất, mà những
giá trị này th́ thay đổi hàng ngày hàng giờ theo t́nh
h́nh. V́ thế khó ḷng có một “gien trội” thuần chủng
nào có điều kiện ổn định lâu dài để
định h́nh và phát triển được trong tính
cách Việt nam. Đó là một thể nhăo vô định h́nh, không phải
thể lỏng, không phải thể dắn, cũng
không phải thể khí.
Một
biểu hiện khác của tính nhập nhằng là sự
“hiểu ngầm”: không chính thức đề cập đến
mâu thuẫn cũ, tội lỗi cũ, mà dùng một cử
chỉ thân thiện, một món quà…để hiểu ngầm
rằng đă đổi mới, đă phục thiện,
có thể rũ bỏ chuyện cũ, xúy xóa chuyện
cũ. Cách ứng xử ấy là rất tốt trong những
quan hệ t́nh cảm gia đ́nh, họ hàng, bè bạn,
trong đó ḷng nhân ái và tin nhau là chính. Nhưng lạm dụng
cách ứng xử “chín bỏ làm mười” ấy
trong việc điều hành xă hội, trong những việc
đ̣i hỏi pháp lư rành mạch th́ sự nhập nhằng
ấy khiến cho muốn hiểu thế nào cũng được,
tiến lui thế nào cũng được, chẳng
có ǵ ràng buộc. Trong việc điều hành đất
nước, muốn sửa tận gốc một lỗi
lầm có tính căn bản, nhất là lỗi lầm
do ư thức, th́ phải phân tích và nhận diện lỗi
lầm ấy ở nguyên dạng, chưa bị sự
thích nghi khôn khéo làm nḥe đi ( trong bệnh
tật, việc dùng thuốc an thần, giảm đau
nhiều khi che dấu mất nguyên nhân, cản trở
việc chẩn đoán). Phải đi đến những
kết luận chính thức, công khai, không thể hiểu
ngầm! Đấy không phải là sự cố chấp,
bới lông t́m vết mà là phẩm chất minh bạch,
khoa học, quân tử và thực ḷng cầu tiến, rất
cần cho một xă hội văn minh quy củ. Không
dám minh bạch đối với quá khứ chính v́ chưa
thực ḷng đối với hiện tại.
Muốn đổi mới đất
nước không thể không chiến đấu chống
lại những
“ưu điểm” nhũng nhẵng rất
“quái chiêu” kể trên. Nhưng ngặt nỗi đó là những
tính cách đă khắc sâu vào dân tộc, như những ưu
điểm mấy ngh́n năm để tồn tại
(Mặt tích cực, mặt ưu điểm của những
tính cách này đă được ông Lê Hồng Hà nói rơ
trong bài “Thử đi t́m phong cách tư duy Việt nam” [8]), nay muốn cải tạo mặt
tiêu cực của nó th́ những người đổi
mới thoạt tiên phải thích nghi với nó, vừa
ḥa đồng vừa cải tạo nó, chứ “húc” thẳng
vào nó là thua đấy! Nghĩ rằng một khi ḥa nhập
vào thế giới minh bạch th́ đặc điểm
này ắt phải chấm dứt ngay là suy nghĩ đơn
giản kiểu học tṛ.
Môn “Hiệp khí đạo” thật là tài : Nương theo động tác của
đối phương mà đánh đối phương,
nghệ thuật là phải chọn tư thế làm sao
cho chính lực từ đối phương phát ra được
chuyển thành lực chống lại đối phương.
Đối phương càng ra đ̣n mạnh bao nhiêu
càng tự hại ḿnh bấy nhiêu. Phong trào Cộng sản
từ chỗ tay không mà giành chiến thắng là nhờ
biết “lấy vũ khí của địch mà đánh địch,
lấy gậy ông để đập lưng ông”, bài
học ấy đáng suy ngẫm lắm, sâu sắc lắm.
Ghi chú:
[5] Hà
Sĩ Phu: Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại (www.hasiphu.com\ll04.html)
[6] Bùi
Minh Quốc: Một ḿnh một phiếu (talawas 417, 11/4/2007)
[7] Triết lư phát triển: Vai
tṛ tiên phong của hệ thống (http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1[showUid]=12452&cHash=342aa86814 )
[8] Lê
Hồng Hà: Thư gửi…của ông Lê Hồng Hà (http://doi-thoai.com
/baimoi0407_244.html)
PHẦN III: Mác-Lênin là cái nền móng không
dùng được nữa
Trong bài phát biểu ngày
10-3-2007 ông Lê Hồng Hà nói: “Cuộc đấu tranh này
cũng không phải là cuộc đấu tranh
để chống Chủ nghĩa Mác-Lênin, mà chỉ là
chống lại việc quốc đạo hoá Chủ
nghĩa Mác-Lênin” và “phải tạm gác lại vấn đề phê
phán ông Hồ”. Trong ư
nghĩa một cuộc vận động chính trị-xă
hội , th́ chủ trương như
vậy là hợp lư, là khôn ngoan, là rất “chính trị”,
ít nhất là ở giai đoạn đầu, v́ không ít
người c̣n giữ niềm tin đẹp đẽ
của quá khứ như một quán tính, một hoài niệm.
Nhưng, một khi đă thấy
rơ vai tṛ nền tảng rất quan trọng của một
“Triết lư” đối với sự phát triển xă hội
th́ trong lĩnh vực nhận thức-lư luận không
thể không phê phán những “Triết lư” cũ đă “hết
date” để xây dựng một “Triết lư” mới. Vấn
đề là phải tách thành hai lĩnh vực như đă
nói trong phần đầu: lĩnh vực nhận thức-lư
luận và lĩnh vực hoạt động chính trị.
Hăy cứ nhận thức cho thấu triệt, ứng
xử đến đâu để đạt kết
quả lại là chuyện khác. “Nói” là bộc lộ nhận thức của cá
nhân, “làm” là việc liên
quan đến nhiều người, vậy từ nói
sang làm phải có điều chỉnh.
Nhiều
trí thức không trực tiếp hoạt động
chính trị, chỉ diễn đạt nhận thức
như các ông Phan Đ́nh Diệu, Nguyễn Kiến
Giang, Lữ Phương, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Thanh
Giang, Phạm Ngọc Uyển…vân vân, và chính ông Lê Hồng
Hà cũng như chúng tôi (HSP), cũng như một số
người khác trong bản danh sách “khu vực 2” (khu vực
phi chính thống) mà ông LHH thống kê [9]
đều không thể không phê phán một phần hay
toàn bộ chủ nghĩa “Mác-Lênin” và vấn đề
“tư tưởng Hồ Chí Minh”. Điều này không
thể tránh được, nhưng đặt vấn
đề nghiên cứu một cách khoa học, trầm
tĩnh, khách quan không hề đồng nghĩa với
việc mạt sát, nói xấu, nói cho thỏa…
Nếu những người
tôn thờ chủ nghĩa Mác coi chủ nghĩa ấy
như một niềm tin, như niềm tin tôn giáo, th́ đúng
như ư kiến ông LHH, tôn giáo ấy cũng b́nh đẳng
với các tôn giáo khác, chỉ cần chống việc
biến tôn giáo ấy thành quốc giáo. Nhưng là một
tôn giáo th́ không được tham chính, không thể lănh đạo
toàn xă hội! (đây cũng là ư kiến
của ông Đặng văn Việt, một đảng
viên CS lăo thành). Trong trường hợp ấy ta không cần
bàn luận hay phê phán giáo lư Mác-Lênin làm ǵ.
Nhưng nếu những
tín đồ Mác xít không coi đó là tôn giáo mà lại coi đó
chân lư khoa học tuyệt đối đúng, mà hiến
định và luật hoá nó, đem nó trùm lên toàn xă hội,
ai chống lại là phạm tội, th́ tất nhiên
chân lư ấy phải chịu sự sàng lọc của
trí tuệ trước đă, lư thuyết ấy phải
đương đầu với sự phản biện
của toàn dân tộc và toàn nhân loại! Chẳng hạn,
ít nhất lư thuyết Cộng sản phải chứng
tỏ khả năng tự biện hộ một cách đứng
đắn và thành công trước những kết luận
có tính quốc tế của Nghị quyết 1481 của
Hội đồng Nghị viện châu Âu ngày 25-1-2006. Rất tiếc phía Việt
nam cũng đă có một vài phản ứng, nhưng
chỉ là những phản ứng chống đỡ về
mặt chính trị một cách rất công thức và sáo
ṃn, không có nội dung tư tưởng hay khoa học
ǵ thuyết phục.Một cuộc tranh luận khoa học
nếu được tiến hành nghiêm túc sẽ thu
hút sự tham gia của rất nhiều trí thức
trong ngoài nước và trên thế giới, và trong một
không khí thật sự khoa học th́ tính chất ảo
tưởng, phi khoa học của học thuyết
Mác-Lênin nhất định sẽ được phơi
bày.
Nếu không thắng được
trong những cuộc phản biện trí tuệ này th́
lư thuyết ấy chưa có tư cách khoa học để
đứng trong Hiến pháp như điều 4 Hiến
pháp xác quyết: “Đảng
cộng sản Việt Nam, đội tiên phong
của giai cấp công nhân Việt Nam, đại
biểu trung thành quyền lợi của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc, theo chủ nghia Mác - Lê Nin và tư tuởng
Hồ Chí Minh, là lực luợng lănh đạo Nhà
nuớc và xă hội”. Điều 4 chẳng những
mặc nhiên xác định vai tṛ lănh đạo tuyệt
đối của một yếu tố chính trị là đảng
Cộng sản, mà c̣n mặc nhiên áp đặt một
yếu tố thuộc pham vi khoa học-tư tưởng
là chủ nghĩa Mác-Lênin. Phần khoa học phải
chịu sự rà soát của khoa học! Đă là khoa
học th́ làm ǵ có ranh giới quốc gia
? Ví dụ chẳng ai có thể nhân danh quốc gia
để nói : Nước tôi cứ khẳng định
thuyết “Mặt trời
quay quanh trái đất”, hàng ngày người lao động
nước tôi đều nh́n thấy như thế,
các anh ở bên ngoài phê phán nhận thức này là “can thiệp vào công việc
nội bộ” của chúng tôi!
Nhiều lúc nghĩ đến
điều 4 Hiến pháp tôi lại thấy ở đó
một tính chất khôi hài, không hiểu sao ta lại làm
một việc vô duyên đến thế
: một đảng đang cầm quyền dài
dài mà vẫn lo mất chỗ, đến nỗi phải
tự đặt ra luật để giữ chỗ vĩnh
viễn cho ḿnh! Đă thế lại sợ thiên hạ
chê cười nên nói thác ra rằng đấy là nhân dân
họ muốn tôn vinh tôi như vậy, trong khi đội
ngũ từ những người dự thảo luật
đến những thông qua luật th́ quanh đi quẩn
lại toàn là đảng viên, chứ có được
mấy người là “nhân dân”? Càng lo xa, càng giành phần
th́ càng bộc lộ tâm lư tham lam, lo lắng, thiếu tự
tin. Cái lôgic tự nhiên ấy không thể che dấu được,
mặc dù vẫn cứ hô ta là nhà “vô địch muôn năm!”.Tôi
dám “đánh cuộc” rằng nước Việt nam ḿnh
c̣n th́ trước sau ǵ ḿnh cũng phải bỏ cái điều
4 này, v́ nó ấu trĩ, nó vô duyên, nó lạc lơng trong thế
giới hiện đại. Nhưng bỏ sớm th́ đẹp
hơn!.
Đại
loại toàn những chuyện sơ đẳng như
thế.
Tôi đồng
ư với một nhận xét của ông Nguyễn Gia Kiểng : đảng CSVN chỉ làm mất
th́ giờ của cả dân tộc. V́ tất cả những
cuộc tranh luận rất gay go, rất phiền toái,
rất nghiêm trọng, phải đối phó từng giờ
từng phút với nhau và rất dễ bị c̣ng tay
vào tù…thực ra chỉ để tranh căi toàn những
kiến thức ở tầm abc, những điều
lư luận mà nhân loại đă vượt qua từ
lâu, và những thực tế “biết rồi, khổ
lắm, nói măi”!. Hiện nay, trong bối cảnh như
thế, thiết nghĩ việc bàn về chủ nghĩa
Mác-Lênin cũng chẳng cần tầm chương
trích cú nhiều quá làm ǵ. Hăy cứ nói với nhau theo
cách đơn giản, dễ hiểu.
Thật vậy, lịch sử
đă chứng kiến cả một làn sóng người
hăm hở vác cuốc xẻng đi “đào mồ chôn” chủ nghĩa Tư bản
để “tiến nhanh,
tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ
nghĩa Xă hội”, thế mà giữa lúc đang hứng
khởi,tưởng như đă đi gần hết
giai đoạn quá độ để tiến vào thiên
đường Cộng sản th́ đùng một cái húc
phải cái thực tế sừng sững như núi Thái
sơn, đành lũ lượt quay lại học tư
bản từ abc , học làm kinh tế thị trường,
học ca ngợi doanh nhân…,và chỉ mong được
thế giới tư bản cho ḿnh hội nhập.Định
đi chôn người ta mà giờ chỉ mong được
nằm cạnh người ta thôi đă sướng rơn
người!. Thế mà vẫn bảo đường
đi của ḿnh là đúng th́ lạ thật. (Tôi mà là
“người đẹp” Tư bản th́ dứt khoát
tôi phải bắt cái anh cầm sẻng kia xin lỗi một câu rồi mới
cho nằm cạnh, đằng này chẳng xin lỗi
th́ chớ, được nằm cạnh rồi thỉnh
thoảng lại c̣n lầm bầm chửi xéo người
ta!).
Lúc đầu một số
nước theo trào lưu Mác xít thành công trong việc cướp
chính quyền và giữ chính quyền. (Có một Tư tưởng
quả là một điểm tựa rất mạnh để
tập hợp quần chúng!). Nhưng tiếp theo là thất
bại. Nguyên nhân vẫn từ Tư tưởng chứ
không ǵ khác : Tư tưởng ấy bản chất chỉ
là một ảo tưởng phi khoa học, chống lại
thực tiễn nên hết cơn ảo tưởng phải
trở lại thực tế, những diều phi lư cứ
lộ dần ra, cái sức mạnh đă liên kết được
ban đầu nay lại tan ră . “Sợi chỉ đỏ”
đă đứt th́ chuỗi hành động rời ra
từng khúc, đầu Ngô ḿnh Sở không khớp được
với nhau nữa.
Đảng Cộng sản
trước đây định cầm tay dẫn dắt
kinh tế, dẫn dắt xă hội như dắt trẻ
con, nhưng đi loanh quanh măi không biết ra lối
nào, bụng th́ đói, đành thả kinh tế ra cho nó
tự đi kiếm miếng ăn ,
nhưng lại tḥng vào cổ mỗi đứa một
sợi dây “định
hướng Xă hội chủ nghĩa” (để giật
mạnh một cái là phải quay về !). Nắm chắc
sợi dây tḥng lọng về chính trị-tư tưởng
ấy là để Đảng nắm đằng chuôi.
“Đày tớ” tiếp
tục dắt “ông chủ”đi
“như dắt trâu ḅ”.
Thừa nhận sợi dây
tḥng lọng về chính trị-tư tưởng ấy,
th́ dân hoàn toàn bị động với Đảng đă
đành một nhẽ, nhưng đối với cả
dân tộc th́ điều đó hoàn toàn bất lợi,
bởi cái nền vẫn không ra cái nền. Cái gọi là
hệ tư tưởng bây giờ, trong đó có chủ
nghĩa Mác cộng với tư tưởng Hồ Chí
Minh, chẳng qua là dùng ngụy biện làm chất xi măng
để gắn kết một cách lộn xộn những
chất liệu xưa cũ với những chất
liệu hiện đại vay mượn, thành một
thứ vôi vữa để hàn gắn lại cái nền
cũ Mác Lê đă rạn nứt hơn cầu Văn thánh.
Cái triết lư chính trị đă bị khoa học và thực
tiễn bẻ gẫy, càng cố chống chế càng
nhạt nhẽo , người dạy không muốn dạy,
người học không muốn học, đă đến
lúc không nên áp đặt một môn học nặng nề
vô bổ như vậy trong các nhà trường.
Ngôi
nhà đă xụt móng, tu sửa hào nhóang cũng chẳng
bền được. Để thoát khỏi t́nh trạng
“thày bói dọn cưới” hiện nay chỉ có một
cách duy nhất là dũng cảm làm lại cái nền Tư
tưởng. Chuyện lớn, chuyện thời đại,
không thể khôn vặt.
Cái nền
Mác Lê chỉ c̣n lại một “ưu điểm” rất
tiện dùng là để quản lư dân cho dễ, dẫn
dắt dân cho dễ và sử dụng dân cho dễ, v́ chủ
nghĩa ấy chẳng qua là một quy tŕnh “thiết kế, áp
đặt và điều khiển” xă hội, coi xă hội loài người
sinh động cũng chỉ như một cỗ máy
công nghiệp để ḿnh vận hành. Người
điều hành cứ bấm đốt ngón tay, xem “kế
hoạch 5 năm” lần thứ nhất th́ làm ǵ, lần
thứ hai th́ làm ǵ, sau mấy “kế hoạch 5 năm”
th́ vào chủ nghĩa Cộng sản…Ư muốn điều
khiển xă hội răm rắp như điều khiển
một cỗ máy chẳng qua là một thứ “bệnh
công nghiệp”, một thứ “mốt công nghiệp” , một
bệnh ấu trĩ xuất hiện thuở cách mạng
công nghiệp đang bắt đầu thịnh hành
(Cái ấu trĩ bao giờ cũng cực đoan!). Chủ
nghĩa kỹ trị cực đoan đă hóa thân nhuần
nhuyễn thành triết học và đạo đức,
đó chính là thực chất của chủ nghĩa Mác
về xây dựng và điều khiển xă hội.V́ thế
mà tuy mục đích rất nhân bản là muốn điều
khiển “cỗ máy xă hội” cho nó chạy thật tốt
theo thiết kế của ḿnh, đem lại của cải
nhiều nhất cho xă hội, đem lại hạnh
phúc nhiều nhất cho con người, nhưng không biết
rằng một quan niệm “cơ giới hoá” xă hội
như thế là rất phản
nhân tính. (Trong bài Chia tay Ư thức hệ
, tôi dẫn câu “Yêu
nhau th́ lại bằng mười phụ nhau” để
nói cái ư ấy).
Xă hội nói chung cũng như
mỗi con người nói riêng về bản tính nó chống
lại chủ trương điều khiển cơ
giới của Mác, v́ thế muốn đưa con người
vào guồng máy điều khiển, các chính quyền
Mác xít trước hết phải dứt đứt tất
cả những mối liên hệ tự nhiên của con
người, rời
bỏ tư hữu để công hữu hoá, tập
thể hoá, “đoạn
tuyệt với quá khứ một cách triệt
để nhất”…, thế là con người biến
thành những đinh ốc trong một cỗ máy.
Đó
là một xă hội phi tự nhiên, hoàn toàn “nhân tạo”.
Tuy Marx có nhắc lại câu nói
của Terence (190-159 trước CN) “ Những ǵ thuộc về con người
đều không xa lạ với tôi”, nhưng thực
ra Mác không hiểu kỹ “con người” lắm đâu,
nhất là không hiểu cái “mặt trái” , cái mặt “bản
bất thiện” của con người, đằng
sau cái tính “bản thiện”.
Nếu
ví cả cái xă hội Mác xít như một cỗ máy “tự
quản” đă thiết kế xong. mỗi phần tử
đă hoạt động răm rắp như những
bánh xe, như những đinh ốc, th́ xin thưa những
bánh xe chủ chốt, những đinh ốc chủ chốt,
với bản chất sinh vật của chúng, chúng sẽ
trở lại bản năng “đấu tranh sinh tồn”
mà nảy nở sinh sôi, mọc sừng mọc mỏ,
mọc vuốt mọc nanh. Chúng trở thành những
ông chủ mới để gơ búa vào cỗ máy của
Marx, để bóc lột nó, bóc lột những đồng
loại c̣n cam phận bánh xe-đinh ốc, nhưng tai
quái hơn những ông chủ cũ rất nhiều.
Nhưng đấy mới
là pha thứ nhất trong cuộc hồi sinh của cỗ
máy xă hội,
là pha trỗi dậy của tính bất thiện
trong con người. Pha thứ hai quan trọng hơn
nhiều. là pha trỗi dậy của
bản chất sinh học trong hàng ngàn hàng vạn bánh
xe-đinh ốc nhỏ xíu trong cỗ máy Mác xít, đó
là sự hồi sinh của “tính bản thiện”. Và thế
là “cuộc nội chiến” giữa hai mặt của
bản chất con người diễn ra: bản thiện
và bản bất thiện. Cuộc nội chiến bao
giờ cũng day dứt, lo âu không thừa, nhưng chẳng
có lư do ǵ để bi quan măi v́ dù chẳng bao giờ diệt
hết được những điều bất thiện
nhưng toàn xă hội th́ đă dần dần kéo nhau ra
khỏi được cái cỗ máy Mác xít cơ giới,
ấu trĩ, cực đoan mà trước đây hằng
khao khát. Thực tiễn cho thấy trong tất cả
những cỗ máy Mác xít chết cứng, xă hội dân
sự đă dần dần hồi sinh. Cuối cùng nhất
định “loài người sẽ từ giă quá khứ
của ḿnh một cách vui vẻ”, cảm hứng này của
Marx th́ thật là tuyệt. Bi kịch đă xen kẽ và
chuyển dần thành hài kịch rồi, dẫu cho nhiều
hài kịch vẫn c̣n “cười ra nước mắt”.
Như thế, chủ nghĩa
Mác-Lênin, nhất là phần Duy vật lịch sử, về
triết học th́ là hiện thân của “bệnh công
nghiệp”, của chủ nghĩa cơ giới, c̣n về
chính trị th́ đó là sự kéo dài chủ nghĩa phong kiến với
màu sắc công nghiệp hóa.
Thời Karl Marx nền văn
minh công nghiệp (mà ta gọi là chủ nghĩa tư bản)
đang ở giai đoạn “tăng tốc”, như
chiếc máy bay đang cất cánh, nên nó gây sốc. Những
tiến bộ ghê gớm quá, hiệu quả quá, làm thay
đổi hẳn cuộc sống nhân loại. Xă hội
mất đồng bộ, nhân loại bị xáo động
nặng nề, bị kéo dăn ra, cách biệt về năng
lực giữa con người với con người,
giữa dân tộc với dân tộc trở nên quá lớn,
tạo tiền đề cho sự chiếm đoạt
nhau, xéo lên nhau để bành trướng. Bóc lột và
bất công dữ dội. Sợi dây xích phong kiến
ràng buộc xă hội theo tôn ty cũ đứt tung ra,
xă hội như con ngựa dữ đứt cương.
Đấy là cơn sốt vàng da của đứa trẻ
để nó lớn lên, nó trưởng thành, th́ Marx tưởng
đấy là căn bệnh nan y của ông già sắp
chết, nên đặt chương tŕnh đào mồ để
chôn nó đi.
Đáng
lẽ phải mở đường cho nó tiến về
phía trước, thiết lập kỷ cương mới
cho xă hội, sao cho vừa nuôi dưỡng sự phát
triển, vừa có dân chủ, b́nh đẳng cho mọi
người, khống chế được sự bất
công tàn bạo giữa người với người
mà c̣n liên kết được với nhau để
phát triển. Kỷ cương phong kiến th́ đă
hoàn toàn bất lực. Kỷ cương mới không có
ǵ khác hơn là một nền kinh tế thị trường
đi đôi với một nền dân chủ pháp trị,
một nhà nước pháp quyền, khống chế quyền
lực bằng tam quyền phân lập kết hợp với
thể chế đa đảng, đa nguyên. Đại
bộ phận thế giới tiến bộ ngày nay tuân
theo ḍng chảy tự nhiên ấy, ḍng chảy mà những
J.J Rousseau, Montesquieu, John Locke….đă khơi nguồn.
Nhưng Karl Marx và đồng
đội của ông đă chống lại ḍng chảy
đó.
V́ đọc nhầm tín hiệu
của thời đại (nh́n đứa trẻ đang
lớn như thổi thành ông già sắp chết) , nh́n phía trước của nhân loại
thành cái hố sâu bế tắc, nên đi t́m lối thoát
ở phía đối diện, tức phía sau lưng. Những
tư tưởng dân chủ là yếu tố tiên tiến
đang hé mở th́ Marx coi đó là cái dân chủ của
kẻ đang “giăy chết” nên cũng vứt đi luôn.
Cho nên mọi sáng kiến của Mác-Lênin để vạch
đường lên phía trước thực chất là
t́m về quá khứ : bỏ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất để công hữu hóa,
đáng lẽ phải dân chủ hoá bằng cách phân quyền
ra th́ lại chuyên chính hoá bằng cách tập trung quyền
lực lại , cố xây dựng một đảng lănh
đạo ưu tú th́ hệt như một đấng
minh quân, Đảng Cộng sản lo “từng mũi
kim sợi chỉ” cho dân như mẹ hiền th́ thực
chất là chủ nghĩa “thân dân” của phong kiến,
xa lạ với kinh tế thị trường. Những
đợt chỉnh huấn “chống chủ nghĩa cá
nhân” là h́nh bóng của “tu thân, trị quốc, b́nh thiên hạ”.Tất
cả những điều ấy là biến tướng
của phong kiến chứ không ǵ khác. Chỉ khác một
điều là nền kinh tế th́ kế hoạch hóa,
mà như trên đă phân tích, đó là bệnh công nghiệp.
Vậy đấy là chủ
nghĩa phong kiến mang màu sắc công nghiệp, vừa
mắc “bệnh phong kiến” vừa mắc “bệnh công
nghiệp”, hai thứ bệnh quá tả ấy kết với
nhau th́ làm ǵ mà không thành phát xít, nhưng một thứ
phát xít rất “chân thành”,lúc đầu rất dễ thương,
thánh thiện như một tôn giáo. Con người làm
những việc phản khoa học, phản nhân văn
mà cứ nghĩ ḿnh biết sống có lư tưởng,
tự hào là ḿnh biết “tử v́ đạo”, coi việc
dày xéo lên người khác là sứ mạng tất yếu
trên đường dắt cả loài người đến
thiên đường Cộng sản, kẻ nào vướng
chân ḿnh đều là địch cả. Trào lưu Cộng
sản là trào lưu chống phong kiến cũ nhưng
lại sa vào phong kiến mới, chống vua cũ nhưng
lại lập ra vua mới, chống phát xít cũ nhưng
lại sa vào phát xít mới, chống “quá khứ cũ”
nhưng để tiến vào “quá khứ mới” mà thôi,
nên không thể có tương lai. Sự sụp đổ
của phe Xă hội chủ nghĩa là sự uốn nắn
tất yếu của quy luật.
Đến đây, tôi đă
có câu trả lời cho câu hỏi mà nhà báo Bùi Tín đặt
ra cho cuộc thảo luận “Việt nam đă hoàn thành
cuộc Cách mạng Dân tộc chưa mà đă muốn
tiến sang cách mạng Xă hội chủ nghĩa?”. Tất nhiên ông Bùi Tín nhại lại luận
điểm của những người Cộng sản
để chứng minh tính bất toàn của nó, chứ
ông đâu c̣n tin là có chủ nghĩa Cộng sản. Cuộc
Cách mạng dân tộc đă diễn ra chỉ là cuộc
đánh ngoại xâm giành độc lập như đă
làm nhiều lần trong lịch sử. C̣n về cuộc
cách mạng Dân chủ th́ chẳng những ta chưa làm
mà c̣n làm ngược, làm một bước lùi, thay cái
phi dân chủ cũ bằng cái phi dân chủ mới tai
hại và khó trị hơn nhiều.
Dù những người Cộng
sản có hết lời ca ngợi tính dân chủ của
chế độ Xă hội chủ nghĩa, dù có đàn
áp hay bịt miệng những ai bảo chế độ
ấy là thiếu dân chủ, th́ cũng không sao tẩy
xóa được nụ cười nhạo báng trên
môi thiên hạ mỗi khi có ai nhắc lại lời của
Lênin đánh giá nền Chuyên chính Vô sản “dân chủ gấp triệu
lần” dân chủ tư sản! Nhắc lại câu ấy
ai cũng buồn cười.Chỉ một nét cười
ấy thôi, đủ thay cho tất cả những lư
luận thiên kinh vạn quyển. Nhân loại bỏ phiếu
bằng nụ cười.
Lại
một nghịch lư rất lớn nữa
: Đặc trưng của chủ nghĩa Cộng
sản là chống sự chênh lệch, tôn thờ sự
công bằng, thậm chí nhiều khi c̣n san bằng nữa,
nhưng thử so sánh sự chênh lệch hiện nay giữa
con người với con người về những
mặt tiền bạc, quyền thế, đạo đức,
sự ăn chơi, nỗi nhọc nhằn…ở xă hội
Việt nam th́ thấy cái niềm hănh diện về sự
công bằng kia đă thành chuyện mỉa mai khôi hài ra
nước mắt.
Chủ nghĩa ấy trước
đây là sức mạnh để kết mọi người
lại bao nhiêu th́ nay lại thành nguyên nhân làm người
ta cách xa nhau nhau bấy nhiêu, ḷng người ly tán bấy
nhiêu. Cựu thủ tướng Vơ Văn Kiệt có nhiều
công sức hô hào đoàn kết, nhưng thiện ư ấy,
cũng như thiện ư của nhiều người Cộng
sản hiện nay, luôn bị nghi ngờ (ít nhất là
nghi ngờ về tính khả thi) chính v́ chưa chạm
đến cái nền tảng, cái nguyên nhân gốc rễ
ấy.
*
Tóm lại, một quốc
gia, một dân tộc muốn phát triển bền vững
không thể không có một nền tảng tư tưởng,
dù viết thành văn một cách hệ thống, hay thấm
nhuần trong toàn bộ nền văn hoá của dân tộc
ấy, làm nên dân trí của quốc gia-dân tộc ấy.
Giới trí thức là tinh hoa của nhân dân, trong đó
các tư tưởng gia có một vị trí đặc
biệt. Trong thế kỷ 19-20 những dân tộc văn
minh hàng đầu đều không bị cuốn vào
trào lưu Cộng sản (mặc dù phong trào tranh đấu
của Công nhân cũng thúc đẩy h́nh thành những đảng
Cộng sản) là bởi đă có một nền dân trí
cao. Nhân dân nào th́ chính quyền ấy, dân tộc nào th́
tai hoạ ấy, suy cho cùng đều do cái nền tảng
tư tưởng và dân trí mà ra.
Dân trí nước ta, trong
t́nh cảnh nô lệ của ta, dẫn ta đến trào
lưu Cộng sản lúc ấy phải chăng cũng
là tất yếu? Phải chăng Việt nam mới
chính là mảnh đất màu mỡ nhất để
gieo mầm Mác-Lê khiến nó bám rễ rất sâu? Việt
nam liệu có là “anh hề” cuối cùng rút khỏi sân khấu?
Dù cho một số người
Cộng sản vẫn kiên quyết giữ cái vỏ
Mác Lê nhưng bên trong cũng đă thay đổi những
quan điểm xương cốt nhất của chủ
nghĩa ấy. “Đổi
mới hay là chết!”. Vâng cái tư
tưởng chuyên chính trong chủ nghĩa Mác-Lê có thể
c̣n ích lợi cho một tầng lớp nào đó, chứ
đối với dân tộc và thời đại th́
chủ nghĩa ấy đă thành cái nền móng tư tưởng
không dùng được nữa!
[9] Tài
liệu đă dẫn :Lê
Hồng Hà, Thư gửi…của ông Lê Hồng Hà (http://doi-thoai.com
/baimoi0407_244.html)
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|