|
|
DC&PT - Thời Sự
2007
Kỹ sư Đỗ Nam Hải
lược ghi lại cuộc gặp gỡ
với phái đoàn của Ủy
ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ,
ngày 25.10.2007
Ngày
18/10/2007, qua đường bưu điện, tôi nhận
được Giấy mời của Tổng lănh sự
quán Hoa Kỳ tại Sài G̣n đề nghị tôi tham dự
một cuộc gặp gỡ với phái đoàn của
Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ, vào
lúc 16 giờ 10 phút, ngày 25/10/2007 tại Khách sạn New
World, Quận 1, Sài G̣n.
Ủy
Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ (www.uscirf.gov) được
thành lập năm 1998 và khởi sự hoạt động
từ năm 1999. Ủy ban là cơ quan thuộc chính phủ
Hoa Kỳ, do tổng thống bổ nhiệm và Quốc
hội Hoa Kỳ phê chuẩn. Nhiệm vụ của Ủy
ban là theo dơi những vi phạm về các quyền tự
do căn bản của con người trên phạm vi
toàn cầu. Đó là các quyền tự do tư tưởng,
thông tin, ngôn luận, tôn giáo, tín ngưỡng, v.v… Qua
đó, với các bản phúc tŕnh hàng năm của ḿnh,
Ủy ban sẽ đưa ra những báo cáo, khuyến
nghị cho Chính phủ, Bộ ngoại giao, Tổng thống
và Quốc hội Hoa Kỳ,… để giúp các cơ
quan này hoạch định những chính sách cụ thể
cho từng quốc gia mà Hoa Kỳ có quan hệ.
Chương tŕnh làm việc lần này của đoàn tại
Việt Nam là từ 21/10 đến 1/11/2007. Đoàn sẽ
đi từ Hà Nội vào Sài G̣n, rồi kế tiếp
là Huế, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, … Đ̣an gồm 6
người, do ông chủ tịch Ủy ban Michael
Cromartie dẫn đầu. Sau chuyến đi này,
đoàn sẽ có trách nhiệm báo cáo lên các cơ quan trên
của Hoa Kỳ.
Đúng
hẹn, tôi đă có cuộc gặp với phái đoàn
trong 1 tiếng rưỡi đồng hồ. Lẽ
ra, cuộc gặp c̣n có bác sỹ Nguyễn Đan Quế,
nhưng do những khó khăn khách quan, ông đă không
đến được hôm ấy. Điều đặc
biệt ở lần này là công an Sài G̣n đă không
ngăn cản tôi như những lần trước.
Mặc dù cũng như hàng ngày, tôi vẫn luôn bị
công an mặc thường phục bám sát. Họ chia làm
nhiều ca trực, với mỗi ca có 3 người,
đi 2 xe gắn máy theo dơi tôi suốt ngày đêm, trong
suốt mấy năm qua. Điều này, hàng trăm
gia đ́nh ở hai bên đường xung quanh nhà tôi, bạn
bè, người thân của tôi đều biết. Gần
nhất là cách đây khoảng 2 tháng, họ đă chặn
tôi lại trên đường tôi đi gặp đại
diện của các đại sứ quán Anh, Pháp, Đức
rồi mời tôi về Cơ quan an ninh điều tra
- Sở công an, tại số 4 Phan Đăng Lưu -
quận B́nh Thạnh. V́ vậy, cuộc gặp theo dự
kiến đó đă không thực hiện được.

Sau
những phút chào hỏi, tôi đưa cho đoàn xem tờ
nhật báo Thanh Niên (www.thanhnien.com.vn
& www.thanhniennews.com)
cùng ngày. Trong đó ngay trên trang nhất có bài viết
mang tựa đề: “Thẳng thắn, cởi mở,
giải tỏa nhiều thắc mắc”, ghi lại
chuyến thăm và làm việc của đoàn với Bộ
công an Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Hưởng,
thượng tướng, Thứ trưởng tiếp
đoàn. Tôi nói: “Trong bài báo này
có ghi lại yêu cầu của bà Felice D.Gaer, thành viên
trong đoàn trực tiếp nêu lên 3 vấn đề với
ông Nguyễn Văn Hưởng: “Thứ nhất là giúp
đoàn điều tra một số trường hợp
bị ngược đăi, giam cầm, bằng cách cho
đoàn đi thăm một số người đang
bị giam giữ. Thứ hai là trả tự do cho những
người bị bắt giữ v́ họ bày tỏ
quyền con người cơ bản và cả hai
trường hợp này, đoàn đều có sẵn
danh sách. Thứ ba là đoàn mong muốn phía Việt Nam
đề ra phương thức để ngăn chặn
những trường hợp bị ngược
đăi trong tương lai, bằng cách tiến hành
điều tra
đầy đủ. Thiết lập cơ chế
điều tra độc lập, minh bạch về những
trường hợp bị ngược đăi. Việt
Nam cũng cần nghiên cứu đề ra
phương thức về đào tạo cán bộ
để họ có thể tiếp cận, xử lư các
vấn đề về nhân quyền một cách công bằng
và nhân đạo.”. Đọc hết bài báo tôi thấy
rằng phản ứng của ông Nguyễn Văn
Hưởng về những đề nghị trên là
khá tích cực, ít ra là ở lời nói. Do vậy, tôi
đề nghị phái đoàn hăy tận dụng cơ
hội này để thực hiện những nội
dung mà bà Felice D.Gaer đă nêu trên, ngay trong chuyến công
tác này”. Ông chủ tịch Ủy ban đă trả lời
tôi rằng: “Chúng tôi đă thực
hiện được một phần những
đề nghị trên; đó là đă vào một nhà tù ở
Hà Nội để thăm 2 luật sư Nguyễn
Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đang bị giam giữ
tại đó”, và ông hỏi tôi
có bị bất ngờ về tin này không? V́ sao?
Trả lời:
Vâng,
tôi ngạc nhiên về tin tức mà ông vừa thông báo; bởi
v́ có thể nói đây là lần đầu tiên nhà cầm
quyền cộng sản Việt Nam cho phép một
đoàn nước ngoài được làm như vậy.
Theo tôi, có ít nhất hai lư do
để giải thích cho động thái khác thường
này của họ. Thứ nhất là nhu cầu cần
phải giải tỏa những áp lực quốc tế
đang được tạo nên một cách rất mạnh
mẽ, thường trực như hiện nay. Trong
đó có áp lực của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ
đối với nhà cầm quyền cộng sản
Việt Nam, sau đợt đàn áp, bắt bớ những
người đấu tranh dân chủ trong nước
vào cuối năm 2006, đầu năm 2007 vừa qua.
Điều này Tổ chức Quan sát nhân quyền (H.R.W)
đă gọi là “đợt đàn áp tệ hại nhất
trong ṿng 20 năm qua”. Thứ hai là xuất phát từ
nhu cầu muốn tẩy rửa bộ mặt vi phạm
nhân quyền ở Việt Nam cho bớt lem luốc
trước quốc tế, trong xu thế Việt Nam
buộc phải hội nhập toàn diện và không thể
đảo ngược được hiện nay. Nhất
là khi Việt Nam đă tham gia vào W.T.O và mới đây
được bầu làm thành viên không thường trực
của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc.
Tuy
nhiên, tôi rất mong quư vị hăy hiểu cho rằng: cả hai nhu cầu trên đều xuất
phát từ lợi ích của một thiểu số nắm
đặc quyền, đặc lợi trong ĐCS Việt
Nam mà thôi. Họ là những người được
toàn quyền lèo lái con thuyền Việt Nam đi theo những
tính toán có lợi cho họ và dỹ nhiên là có hại cho
đại bộ phận dân tộc chúng tôi. V́ vậy,
một khi mà những nhu cầu kia được thỏa
măn, các áp lực đă được giải tỏa,…
th́ khả năng là: ngay lập tức, họ sẵn
sàng ra lệnh cho bộ máy chuyên chính vô sản Việt
Nam thẳng tay đàn áp những người yêu nước
đang đứng lên đấu tranh quyết giành lại
tự do, dân chủ cho dân tộc chúng tôi hôm nay. Điều này chúng tôi đă có nhiều
kinh nghiệm lịch sử.
Tiếc
rằng, có rất nhiều cá nhân và đoàn khách quốc
tế vào Việt Nam trước đó đă bị họ
đánh lừa và tôi hy vọng rằng sẽ không có ai
bị họ đánh lừa thêm nữa. Dẫu sao, những
động thái trên cũng là đáng mừng và chúng tôi
hoan nghênh. Mặt khác, nó cũng giúp chúng tôi những chỉ
dấu cần thiết để tiếp tục vững
bước trên con đường đấu tranh của
ḿnh. Mà một trong những chỉ dấu đó là: cũng
như tất cả các chế độ độc
tài từ trước tới nay th́ chế độ
độc tài ở Việt Nam hiện nay cũng vậy;
họ chỉ chịu nhượng
bộ các lực lượng dân chủ trong nước
và quốc tế khi và chỉ khi những áp lực tạo
ra đối với họ đủ mạnh mà thôi!
Hỏi:
Chúng tôi đă gặp một số người bị
bắt, bị đàn áp vừa qua. Họ nói rằng họ
chỉ thực hiện những quyền tự do
căn bản của con người; họ không vi phạm
Hiến pháp và luật pháp Việt Nam. Quan điểm của
ông về vấn đề này ra sao?
Trả lời: Đúng, tất cả
những người đấu tranh cho tự do, dân chủ
bị bắt, bị đàn áp, sách nhiễu vừa qua
và cả trước đó nữa, mà nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam đă quy cho họ theo Điều
88 của Bộ luật h́nh sự, với tội danh
“Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt
Nam” đều vô tội. Bởi v́, Điều 88 trên
đă vi phạm nghiêm trọng chính cái Hiến pháp hiện
hành của nước CHXHCN Việt Nam. Cụ thể
là vi phạm Điều 69 Hiến pháp quy định rằng:
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí; có quyền được thông tin; có quyền hội
họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định
của pháp luật”. Những chứng cớ phi lư mà
các cơ quan tư pháp Việt Nam thường
đưa ra để kết tội những người
đấu tranh là: “… Cơ quan công an đă phát hiện
và kịp thời ngăn chặn được âm
mưu của bọn phản động, bất măn,
cơ hội chính trị trong nước, câu kết với
các thế lực thù địch ngoài nước để
tự động ra báo, tự động lập hội,
lập đảng, liên đảng, liên minh; chúng
đ̣i đa nguyên, đa đảng, đ̣i trưng cầu
dân ư,… khám nhà chúng, công an đă t́m ra nhiều tài liệu
có nội dung trên, t́m ra nhiều máy tính, điện thoại,
Simcard,…”. (!)
Một
trong những mánh khoé làm luật rất phổ biến
ở Việt Nam là: Hiến pháp th́ quy định làm ra
vẻ như công dân Việt Nam có quyền được
hưởng những quyền tự do căn bản của
con người, theo các tiêu chuẩn quốc tế lắm.
Thế nhưng, cái ḍng chữ
rất đỗi hiền ḥa “theo quy định của
pháp luật” gắn ở cuối câu đă triệt
tiêu hầu hết những quyền tự do của
người dân Việt Nam viết ở đầu
câu, mà Điều 88 - Bộ luật h́nh sự trên là một
ví dụ điển h́nh. Ở
Việt Nam, tất cả các ngành lập pháp, hành pháp,
tư pháp và truyền thông nhà nước đều tập
trung mọi nỗ lực, theo chiếc gậy chỉ
huy chung để trói tay, bịt miệng những con
người dám dũng cảm đứng lên đấu
tranh giành lại các quyền tự do cho dân tộc. Tấm
h́nh viên trung tá công an Nguyễn Minh Tân bịt miệng
Linh mục Nguyễn Văn Lư trong phiên ṭa xử ông và
các cộng sự vào cuối tháng 3/2007 vừa qua tại
Huế là một bằng chứng cụ thể và hùng
hồn nhất để chứng minh cho nhận xét
này.
Tôi
khẳng định: những người từ
trước đến nay bị truy tố bởi tội
danh “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt
Nam” đều là những người yêu nước,
thương ṇi. Luận điệu của nhà cầm
quyền cộng sản Việt Nam cho rằng: “Ở
Việt Nam không có ai bị bắt v́ lư do bất đồng
chính kiến, mà chỉ có những kẻ vi phạm luật
pháp Việt Nam. Họ bị bắt về các tội
h́nh sự,…” là một luận điệu giả trá,
chạy tội. Chính họ, những
kẻ chủ trương và thực hiện việc
đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu, kết tội những
người đấu tranh dân chủ từ trước
đến nay mới là những kẻ có tội nặng
với dân tộc. Họ thực sự là một thế
lực phản dân chủ và phản dân tộc đă và
đang luôn t́m cách cản đường dân tộc Việt
Nam chúng tôi muốn đi hôm nay.
Hỏi:
Trong bản danh sách những người tự nguyện
tham gia vào Khối 8406, chúng tôi thấy có rất nhiều
vị là người của các tôn giáo ở Việt
Nam. Theo ông th́ v́ sao lại có hiện tượng
đó?
Trả lời: Theo tôi, điều đó là rất tự
nhiên. Bởi v́ khi tự nguyện tham gia vào Khối
8406 (được thành lập sau khi bản Tuyên Ngôn Tự
Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006, được công bố
vào ngày 8/4/2006) th́ tôi hiểu rằng các quư vị ấy
đều ư thức một cách rất rơ: nếu phong
trào dân chủ Việt Nam giành được các quyền
tự do dân chủ th́ hệ qủa tất yếu là
quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cũng sẽ
được tôn trọng. Bản Tuyên ngôn 8406 chẳng
những đă nói lên được thực trạng,
nguyên nhân của sự mất tự do mà c̣n vạch ra
được con đường để giành lại
các quyền tự do ấy cho dân tộc chúng tôi. Đó
chính là lư do v́ sao mà nhiều vị là người của
các tôn giáo đă tự nguyện và tích cực tham gia vào
Khối 8406.
Hỏi:
Ông có tin rằng tự do kinh tế sẽ dẫn đến
tự do chính trị?
Trả lời: Vâng, tôi tin vào
điều đó. Tuy nhiên, tự do về kinh tế chỉ
là điều kiện cần, chứ nó không phải là
điều kiện cần và đủ để Việt
Nam có tự do về chính trị. Đó cũng chính là lư do mà chúng tôi
đă và đang đứng lên đấu tranh để
hai sự tự do này phải được tiến
hành đồng thời. Trong đó, một trong những
tiêu chí quan trọng của quyền tự do về
chính trị là phải có sự đa đảng. Chừng nào mà trên chính trường Việt
Nam vẫn chỉ có duy nhất một Đảng cộng
sản Việt Nam tung hoành một cách rất bất
lương như hiện nay th́ chừng đó, những
cái gọi là “tự do” chỉ là sự giả trá, quay
quắt, ngụy biện của nhà cầm quyền cộng
sản Việt Nam ḥng đối phó trước áp lực
đ̣i tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam và của
thế giới tiến bộ hôm nay mà thôi.
Đất
nước chúng tôi đang rất cần vốn liếng,
công nghệ, chất xám,… để xây dựng và phát
triển. Nhưng trước hết và trên hết vẫn
là cần sự tự do về chính trị. Nếu
không, tất cả những ǵ nhân dân chúng tôi có thể
đạt được về mặt kinh tế sẽ
bị chính cái hệ thống chính trị cực kỳ
vô cảm, thoái hóa và hư hỏng; cực kỳ tham nhũng,
lăng phí và đạo đức giả hiện nay nuốt
chửng mà thôi. Chẳng phải đâu xa, tôi xin lấy
một trong hàng trăm ngàn ví dụ: chỉ tính riêng việc
theo dơi, phân tích, tổng hợp,… về tôi th́ hàng tháng,
bộ máy ấy đă tiêu tốn của nhân dân hàng
trăm triệu đồng tiền thuế (khoảng
6000 USD/tháng). Nó tương đương với khoảng
8 năm thu nhập b́nh quân của 1 công nhân làm việc
trong các Khu công nghiệp (khoảng 1 triệu
VNĐ/tháng), và tương đương với 15
năm thu nhập b́nh quân của 1 nông dân Việt Nam
(khoảng 500.000 VNĐ/tháng). Bộ máy ấy không hề
tiếc tiền của, công sức của quốc gia
chỉ để t́m mọi cách duy tŕ cái chế độ
độc đảng phản dân, hại nước
hiện nay. Điều đau ḷng cho dân tộc chúng tôi
là vậy.
Hỏi:
Phong trào của các ông có bao nhiêu người? Chúng tôi
được biết là nhiều nước trên thế
giới đă giành được tự do, dân chủ
với vai tṛ quan trọng của tầng lớp sinh
viên. Điều đó thể hiện ở Việt Nam
ra sao? Ông đánh giá thế nào về triển vọng sắp
tới của phong trào?
Trả lời: Nếu chỉ tính riêng với Khối
8406 th́ lúc ban đầu thành lập vào ngày 8/4/2006 mới
chỉ có 118 người tham gia. Nhưng chỉ vài
tháng sau, con số ấy đă là hàng ngàn, rồi hàng chục
ngàn người ở khắp 3 miền Bắc – Trung –
Nam và cả đồng bào tôi ở nước ngoài; họ
bao gồm đủ mọi thành phần trong xă hội.
Đây là một con số thực tế: có rất nhiều
người bị bắt bớ vừa qua là thành viên
của Khối 8406 chúng tôi. Nó chứng tỏ một sự
chuyển biến mạnh về cả chất và
lượng của phong trào dân chủ Việt Nam. Tôi
tin rằng con số này trong tương lai sẽ phát
triển thành hàng triệu, hàng chục triệu người
và hơn thế nữa, cho dù nhân dân có bị đàn áp
bởi nhà cầm quyền thế nào đi chăng nữa.
Chúng
tôi xác định rằng: tầng lớp sinh viên nói
riêng và tầng lớp trí thức nói chung vừa là lực
lượng vừa là động lực của cuộc
đấu tranh giành lại tự do, dân chủ và nhân
quyền cho Việt Nam. Chúng
tôi t́m đến với họ và họ cũng tự
t́m đến với chúng tôi. Điều đáng mừng
là mối liên hệ ấy đang phát triển ngày càng
mạnh mẽ, mặc dù nhà cầm quyền rất lo
sợ điều này và luôn t́m cách đánh phá.
Chặng
đường đấu tranh sắp tới sẽ
c̣n gặp rất nhiều khó khăn, nhưng thuận
lợi mới là căn bản. Chúng tôi đă xác định
được một đường lối đấu
tranh đúng đắn và nỗi lo sợ bị đàn
áp bởi bộ máy chuyên chính vô sản Việt Nam
đă và đang dần bị đẩy lùi trong nhân
dân. Đây là thời cơ thuận lợi để
xây dựng và liên minh các lực lượng dân chủ
Việt Nam. Một thế trận đấu tranh mới
đă h́nh thành và phát triển. Chúng tôi đă nhận
được sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ
và có hiệu qủa của đại bộ phận
dân tộc, cùng thế giới tiến bộ hôm nay.
Năm 1977, khi Vaclav Havel và các cộng sự của ông ở
Tiệp Khắc công bố trước toàn thế giới
bản “Hiến Chương 77” th́ 12 năm sau, năm
1989 với thắng lợi của cuộc “Cách mạng
Nhung” đă giúp dân tộc này thoát khỏi ách độc
tài cộng sản, mở đường cho nền
dân chủ phát triển ở đây. Năm 2006, chúng tôi
đă có bản Tuyên Ngôn 8406 và chúng tôi tin tưởng mạnh
mẽ rằng: với điều kiện trong nước
và quốc tế đă thuận lợi hơn rất
nhiều so với 30 năm trước, nhất định
dân tộc chúng tôi cũng sẽ giành được nền
dân chủ thực sự như nhân dân Tiệp Khắc,
nhưng với khoảng thời gian ngắn hơn.
Tôi
cũng tin rằng nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ đều
sẽ cùng được hưởng lợi một
khi nền dân chủ ấy đến. Bởi v́ chỉ
có khi ấy th́ nền an ninh khu vực, an ninh biển
Đông, an ninh từ các khoản viện trợ, đầu
tư, …mới có cơ sở vững chắc để
được ǵn giữ. Và cũng chỉ có khi ấy
th́ vấn đề t́m kiếm những tù binh, những
người bị mất tích trong chiến tranh
(POW/MIA) của Hoa Kỳ, của Việt Nam ở cả
2 phía mới được tiến hành nhanh chóng và thực
chất, v.v…Bởi một lẽ đơn giản là:
chất lượng của mối quan hệ giữa
2 quốc gia dân chủ nhất định sẽ tốt
hơn nhiều lần so với chất lượng của
mối quan hệ giữa một bên là dân chủ, c̣n
bên kia lại là độc tài, thường đem những
vấn đề trên ra để mặc cả một
cách rất thiếu tử tế.
Cuộc
gặp kết thúc lúc 5 giờ 45 phút cùng ngày và chúng tôi
đă có những tấm h́nh chụp chung làm kỷ niệm.
Chúng tôi cảm ơn nhau về buổi gặp gỡ rất
chân t́nh, thẳng thắn này và mong rằng sẽ có những
cuộc gặp nữa sắp tới.
Phương Nam - Đỗ Nam Hải.
Sài G̣n - Việt Nam, ngày
30/10/2007.
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|