|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
Lại về
thái độ khoa học và biện chứng
(Đáp
lại bài của Đông La
ngày 14-11-2006 trên talawas)
Bùi Tín
Nhân bài viết "Những bài học về Cải cách
ruộng đất c̣n nóng hổi’’ của tôi
đăng gần đây trên các mạng talawas, Đàn
Chim Việt, các báo Thế
kỷ 21, Thông Luận..., Đông La
nhận định: "Việc Bùi Tín xới lại
những cái cũ ai cũng biết với thái
độ không xây dựng, mà mục đích chính là
để hạ uy tín những nhà lănh đạo
cũng như chế độ Việt Nam hiện
thời không thể 'khoa
học’ được…’’.
Có thật ai
cũng biết rằng Cải cách ruộng
đất (CCRĐ) ở Việt Nam hồi ấy là
sản phẩm đặc sệt Trung Hoa không? Rằng
khi sửa sai, Đảng Cộng sản (ĐCS)
Việt Nam đă không hề nói rằng v́ đă mù quáng
tuân theo các chỉ dẫn của cố vấn Tàu, nên không
sửa sai được tận gốc? Rằng mục tiêu thật
sự của CCRĐ không phải là chia ruộng
đất cho nông dân mà là nhằm củng cố
nền chuyên chính của ĐCS đối với toàn
xă hội? Rằng ngay sau đó Đảng lại
buộc nông dân phải vào hợp tác xă từ cấp
thấp đến cấp cao, để 30 năm dài
nghèo đói v́ 95% đất nông nghiệp vào ruộng
hợp tác xă không nuôi nổi nông dân bằng 5%
đất c̣n lại cho mảnh ruộng riêng của
họ…?
Có thật ai
cũng biết
rằng chính lănh đạo Trung Quốc - cụ
thể là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai - là kẻ
đă có sáng kiến chia đôi Việt Nam ở vĩ
tuyến 17, rồi ép ông Hồ Chí Minh và tướng Vơ
Nguyên Giáp phải chấp nhận ở Hội nghị
Genève, theo lợi ích
của riêng Trung Quốc? Rằng thái độ lệ thuộc Trung Quốc
(mà Đông La cho là đúng đắn, tất
yếu) từ đó - chỉ trừ thời gian
từ 1975-1991 – và đặc biệt tệ hại
từ sau Đại hội VII (1991) đến tận
hôm nay, thông qua sự tác động công khai rồi
ngấm ngầm và dai dẳng của cặp Đỗ
Mười và Lê Đức Anh, đă ḱm hăm đất
nước ta phát triển và hội nhập ra sao, gây
những tổn thất nặng nề trên đất,
trên biển đến mức nào?
Trong bài báo nói trên, tôi
c̣n muốn nêu lên mối quan hệ giữa ĐCS với
nông dân Việt Nam, nó có phải tuyệt hảo,
tốt đẹp, hay là đầy bi kịch nối
tiếp nhau, từ Cải cách ruộng đất, qua
hợp tác hoá cưỡng bức, đến việc
hy sinh hàng triệu sinh mạng nông dân trai tráng trên các
chiến trường A, B, C… để giờ đây
nông dân và nông thôn bị thành thị bỏ ngày càng xa
vời trên con đường phát triển, với
những quốc nạn tham nhũng, địa
tặc, cường hào ác bá mới, dân oan khiếu
kiện bị đàn áp, nền y tế giáo dục
xuống cấp bi thảm, nạn bán dâm, buôn bán
trẻ em và phụ nữ luôn lập kỷ lục
mới. Một món nợ lưu cữu nặng
nề của ĐCS đối với nông dân.
Tôi viết ra
những sự thật trên đây là để
hạ uy tín của lănh đạo và chế độ
hiện hành ư? Tôi đă từng là một nhà
báo/công chức của Đảng, viết báo chỉ
để tô vẽ, ca ngợi, tung hô Đảng và
chế độ, theo kiểu cách tốt đẹp
phô ra, khuếch đại lên, tô màu thêm lên, xấu xa
đậy kín lại, có nghĩa là tŕnh làng khá nhiều
bài báo không đúng sự thật, đầy mỹ
từ, sặc sỡ mà giả dối nhạt
nhẽo, góp phần làm cho báo Nhân dân luôn ế
ẩm trên thị trường. Từ 16 năm nay, tôi
vui sướng được từ bỏ cái tư
cách ấy, để là một nhà báo tự do,
sám hối và hổ thẹn về nhiều bài báo không
thành thật của ḿnh trước kia, thông cảm sâu
sắc với 8 ngàn nhà báo trong nước, đồng
nghiệp của tôi, đến nay vẫn chưa
được là những nhà báo tự do, gần
đây c̣n bị ông Thủ tướng dán thêm băng
keo vào mồm bằng Chỉ
thị 37.
Đông La c̣n cho
rằng tôi là kẻ bất
măn, tham vọng cá nhân
không được thoả măn nên t́m cách đạp
đổ, chọc gậy bánh xe. Ông kể ra: dư
luận cho rằng nếu như tôi được lên
Tổng biên tập (báo Nhân dân), vô Trung ương
(Đảng) th́ tôi sẽ chẳng bao giờ chống
đối.
Đây là ư kiến
riêng của ông, việc ǵ ông phải núp sau cái gọi
là dư luận? Tôi mong Đông La kể ra
được một ai đó mà ông coi là "dư
luận’’, từng biết rơ, hiểu rơ tôi, ở trong
Quân đội Nhân dân, ở toà soạn báo Quân đội Nhân dân và
toà soạn báo Nhân dân (nơi
tôi làm việc từ 1965 đến 1990), thấy
được cái tham vọng muốn "lên Tổng
biên tập" và "vô Trung ương
Đảng" của tôi. Đông La có quyền phán
đoán, suy diễn, tưởng tượng…, nhưng
nếu như không muốn ai nói sai về ḿnh th́
chớ nên nói sai, dựng đứng về
người khác.
Suốt thời gian
làm báo, tôi hoàn toàn tâm nguyện và phấn đấu là
một nhà báo tốt, năng động, có bút pháp
riêng, được bạn đọc (hơn là lănh
đạo) mến mộ. Đó là niềm say mê riêng,
sau khi đi được đến hơn 20
nước, làm quen với hàng trăm nhà báo Nga, Pháp,
Anh, Mỹ, Nhật, Đức, Ư, Úc, Thái lan… Trong hàng
chục huân chương được thưởng,
tôi quư nhất tấm huân chương quốc tế Julius Fuçik do Hội Nhà báo
Quốc tế OIJ qua ông
Chủ tịch Nordenstreng trao ở Hà Nội năm
1977. V́ Đông La suy diễn tuỳ tiện về tôi
nên tôi xin được giăi bày cùng dư luận
như thế. Địa vị, danh vọng,
hưởng thụ vật chất quả thật
không hấp dẫn tôi như Đông La nghĩ đâu.
Đông La nhắc
đến ư kiến của ông Hoàng
Tùng, nhà lư luận và tuyên truyền hàng
đầu của chế độ mà tôi biết
rất rơ. Từng ca ngợi hết lời Staline và Mao
Trạch Đông, sau khi Liên Xô tan ră tháng 8-1991, ông Hoàng
Tùng hiểu ra nhiều sự thật, đến
mức quay phắt lại nhận xét thẳng thắn
rằng quả thật Staline vượt qua tội ác
của Hitler, và Mao vượt xa tội ác của
Tần Thuỷ Hoàng, điều mà đến nay
những người cầm quyền cộng sản
vẫn chưa ai dám nói. Tôi hiểu ông Hoàng Tùng không
thể đi xa hơn để nhận định
về ông Hồ Chí Minh, người từng dơng
dạc tuyên bố tại hội trường
Đại hội II của ĐCS tháng 2-1951: "Bác
bảo đảm rằng các đồng chí Stalin và Mao
Trạch Đông vĩ đại của chúng ta không bao
giờ phạm sai lầm". Đông La kể ra việc
ông Hồ xé danh sách các sĩ quan chỉ huy Quân
đội Nhân dân Việt Nam gốc tiểu tư
sản mà cố vấn Tàu muốn gạt bỏ -
một việc làm đáng ca ngợi - thế nhưng
việc to lớn hơn, bao trùm và nặng nề
hơn: đề nghị ghi tư tưởng Mao
Trạch Đông vào Điều lệ Đảng Lao
động Việt Nam làm nền tảng lư luận và
tư tưởng th́ ai đă làm? Đông La kể ra
việc tướng Giáp thay đổi phương
châm tác chiến ở Điện Biên Phủ từ
"đánh nhanh giải quyết nhanh" sang
"đánh chắc tiến chắc", nhưng tôi
cho rằng thật ra như thế vẫn là theo tư
tưởng "thí mạng", "thí quân",
một dạng của "biển người".
Đă có đại biểu Quốc hội nào trong
thời chiến dám chất vấn (dù là bí mật,
trong nội bộ) người chỉ huy về
số thương vong ở Điện Biên Phủ,
ở An Lộc (1972-73), ở Quảng Trị (1972),
ở Cam-bốt (1977-1989)? Xin thưa đó là những
con số 30 ngàn, 20 ngàn, 14 ngàn thương vong, 52 ngàn
chết và 200 ngàn bị thương, - tương
ứng với các điạ danh trên, theo số tṛn, - với 300 ngàn c̣n mất xác,
toàn là trai tráng tuấn tú, chất kem của dân tộc.
Lẽ ra ông Giáp phải nghiền ngẫm nhiều lắm
về cái tên gọi: Quân đội Nhân dân hay quân
đội của Đảng, chỉ phục vụ
Đảng và chết cho Đảng?
Và khi Việt Nam
đàm phán với Trung Quốc về biên giới, hàng
trăm sĩ quan, binh sĩ gửi thư cho lănh
đạo nói lên thắc mắc, đau xót, uất
ức do bị lấn đất, lấn biển,
mất đảo, tôi chờ một lời lên
tiếng của ông, tướng Giáp, người lẽ ra phải
nhạy cảm nhất về từng tấc
đất Tổ quốc bị xâm phạm, th́ ông im
lặng. Hoàn toàn im lặng! Các bạn tôi từ Hà
Nội báo tin sang và nhận xét: Ông đại
tướng ta hết sợ hai ông họ Lê đă
chết th́ nay lại sợ M+A Tàu. M+A là Đỗ Mười và Lê Đức Anh, thế lực chính theo chân bọn
bành trướng Tàu.
Tướng Giáp
đă có lần gửi thư rất dài cho lănh
đạo, khiếu kiện về vụ Tổng
cục 2, nhưng không được trả lời dù
chỉ một câu. Ông bị coi thường v́ do
động cơ sĩ diện cá nhân chứ không
phải v́ nhân dân và đất nước, không v́
nghĩa lớn, không v́ quốc dân đại sự.
Cái năo trạng lệ thuộc Tàu, phụ thuộc Tàu,
nể sợ Tàu. Hăy nghe thứ trưởng ngoại
giao Trần Quang Cơ kể trong Hồi ức và suy nghĩ:
"Cuối tháng 9-1990 tướng Giáp được
mời sang Bắc Kinh dự khai mạc Á Vận hội (ASIAD 11),
ông ngỏ ư xin được gặp tướng Tàu
Dương Đắc Chí, kẻ chỉ huy cuộc
tấn công tháng 2-1979 tàn phá 6 tỉnh phía Bắc
nước ta, liền bị tướng Tàu này cự
tuyệt: Đời nào tôi lại gặp ông
ta!". Thế có phải là hớ, là mất thể
diện, do năo trạng lệ thuộc, nể sợ
nước lớn không? Tôi mong rằng tướng
Giáp, trước khi trăm tuổi, có một sự
thức tỉnh, tỏ ḷng ưu ái với những
đồng chí đồng đội của ḿnh
bị đối xử tàn tệ bất công, tỏ
thái độ với các hiệp định bất
b́nh đẳng Việt–Trung, về các đảo
bị chiếm; ủng hộ tiếng nói đ̣i
tự do; những điều đó có giá trị cao
hơn nhiều vô vàn huân chương và 8 ngôi sao vàng
đại tướng trên vai ông.
Đông La luôn bênh
vực thái độ lệ
thuộc Trung Quốc, coi như một
định mệnh tất yếu bởi thuyết
địa lư-chính trị. Vậy thời Lư, thời
Trần sao ông cha ta vẫn sống độc lập,
tự chủ? Sao Măn Châu và Mông Cổ nhỏ bé lại
từng không những không chịu lệ thuộc mà c̣n
cai trị Trung Hoa? Sao các nước láng giềng xa
gần Trung Quốc, từ Ấn Độ, Pakistan,
Népal, Thái Lan, Miến Điện, cho đến Nam Hàn,
Đài Loan… đâu có chịu cái định mệnh
lệ thuộc ấy? Huống ǵ là ngày nay, với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
vũ khí hiện đại, pháp lư quốc tế, không
gian/điạ lư không c̣n giá trị như trước.
Không lệ thuộc không có nghĩa là đối
lập, mà là giữ quan hệ láng giềng tốt,
thế thôi.
Cuối cùng c̣n
một điểm, Đông La cho rằng tôi thay
đổi chính kiến "thực
chất không phải là do nhận ra con đường
ḿnh đi là sai (nếu thật vậy họ không
thể đi lâu như thế), mà chỉ đơn
giản là do tham vọng không đạt nên đă quay
lưng". Một ư kiến chủ quan, ngộ
nghĩnh nữa!
Sao lại vơ
đũa cả nắm thế? Mỗi người có
một nguồn gốc, một hoàn cảnh, quá tŕnh
nhận thức, nhân cách riêng. Cứ đi lâu một
con đường th́ không c̣n có thể nhận ra sai
lầm ư? Thảo nào trong ĐCS Việt Nam
vẫn c̣n quá nhiều người mù quáng, chậm nh́n
ra lẽ phải và sự thật đến thế.
Theo tôi, có người thay đổi chính kiến v́ bất
măn, v́ tham vọng cá nhân không đạt, nhưng
cũng có nhiều người thay đổi chính
kiến v́ nhận ra con đường sai lầm
ảo tưởng, có hại cho đất
nước và dân tộc. Có người sớm, có
người rất sớm. Có người muộn, và
cũng có người dù nhận ra nhưng không dám nói
lên sự thật v́ thiếu nghị lực, buông trôi,
không có gan thay đổi.
Nhà chí sĩ Phan Chu
Trinh nh́n ra rất sớm con đường cộng
sản là tệ hại, đă viết thư cho anh
Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) can ngăn
rất chí t́nh. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi
khi có dịp qua Liên Xô trở về hồi 1978 lắc
đầu ngao ngán nói với tôi: "Chế độ
này hỏng tận gốc, không sống
được!", "Con người ở Liên Xô
vẫn chỉ là nông nô mới’’. Anh Từ Chi không
bất măn cá nhân, anh có trí tuệ và dũng khí của
một trí thức có tư duy độc lập.
Cụ Nguyễn Đổng Chi hồi trước, anh
Nguyễn Huệ Chi hiện nay (vừa gửi thư cho thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng yêu cầu sớm giải
quyết các vụ tham nhũng lớn nhất, không
thể lần lữa) h́nh như cùng có gien tư duy độc lập và nhân cách
kẻ sĩ, đâu có v́ bất măn. Tôi quư trọng
tướng Trần Độ sau 50 năm trong
Đảng, đến cuối đời vẫn nói
lớn lên điều ḿnh nhận ra là "Đảng
CS đă trở thành trở ngại nguy hiểm
nhất cho sự phát triển lành mạnh của dân
tộc’’. Tướng Trần Độ không bất
măn cá nhân, ông là tấm gương về trí tuệ và
tâm huyết cho trí thức và đảng viên cộng
sản hiện nay. Các nhà báo trẻ Nguyễn Khắc
Toàn, Nguyễn Vũ B́nh, các bậc nữ nhi như
luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Bùi Kim
Thành, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ… công khai bác
bỏ chế độ độc đảng,
độc đoán, độc quyền và độc ác
phi nhân, nêu cao khí phách dám nói lên điều ḿnh nghĩ,
bất chấp khủng bố của ngành công an, dù cho
bị vu cáo là bất măn cá nhân, là gián điệp.
Tôi cũng muốn
nhắc đến tấm gương về trí
tuệ của nhà triết học Jean François Revel,
từng ở hàng đầu trí thức cánh tả châu
Âu, từng sùng bái Staline và Mao, sau một thời gian
tự nh́n lại ḿnh và nh́n kỹ lại lịch
sử, dám phủ định dứt khoát những
khẳng định cũ của ḿnh, để
chủ biên tác phẩm Sách đen của chủ
nghĩa cộng sản. Với thái độ
công bằng, ông công nhận Stalin có đóng góp không
nhỏ trong cuộc chiến đấu chống
phát-xít, nhưng đóng góp ấy không thể che
giấu tội ác khủng khiếp, giết hại
hơn 40 triệu sinh linh Xô-viết (giới phú nông
cu-lắc, đảng viên Men-sê-vích, cộng sản
Bôn-sê-vích, hậu duệ Nga hoàng, trí thức tư
sản,... bị bức hại, bị đày ải
trong hàng trăm trại Gulag ở Sibérie, hàng triệu
nông dân bị bỏ đói ở nông thôn, công nhân
kiệt sức trên các công trường thế
kỷ…). J. F. Revel công nhận Mao có đóng góp vào công
cuộc thống nhất Trung Quốc, là một nhân
vật có tầm cỡ của thế kỷ 20,
nhưng điều ấy không thể che lấp
sự thật khác là Mao có hành động của
một bạo chúa bất nhân, cuồng dâm vô độ
và vô đạo, qua "Đại nhảy vọt’’ và
"Cách mạng Văn hoá vô sản’’ mê muội đă
tàn sát hàng trăm triệu lương dân, trong đó có
không ít đồng chí gần gũi nhất của
ḿnh. (Nhân đây xin thông tin rằng hiện nay ở
Trung Quốc người ta không c̣n hát bài tụng ca Mao
"Đông phương
hồng" và cũng đă hạ khẩu
hiệu "Mao Trạch Đông vĩ đại
sống măi trong sự nghiệp xă hội chủ
nghĩa của chúng ta"). J. F. Revel sùng bái
chủ nghĩa cộng sản từ tuổi sinh viên
đến tuổi ngoài 60 mới thay đổi chính
kiến, mà không v́ bất măn cá nhân nào
hết. Dư luận châu Âu quư trọng sự thay
đổi, quay lưng lại quá khứ như
thế, gọi đó là dũng khí tinh thần,
là sự lương thiện của
trí tuệ (la probité intellectuelle). Phủ
định một sự khẳng định cũ
khi nhận ra nó sai, dù cho cái sai đă được
số đông dựng nên thành thần tượng,
đó chính là khoa học, là biện chứng.
Chính v́
thiếu dũng khí, v́ mù quáng và cố chấp mà khi
đă trót dại lao vào con đường sai lầm
lâu quá rồi, nhiều người rất ngần
ngại quay lại t́m con đường khác, có khi quay
lại chỗ cũ, cách đây 60 năm. Thật
vậy, 60 năm trước, những Bạch Thái
Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Ngô Tử Hạ,
những hăng buôn và thương hiệu Cự Phát,
Hưng Long, Tân Vinh, nhà in tư nhân Lê Văn Tân, nhà
xuất bản tư Nam Đồng thư xă, báo tư
nhân Trung Bắc tân văn, Tiểu thuyết
thứ Bảy, Phong hoá, Nam phong, xà pḥng Cô
Ba… đều bị coi là hết thời, không c̣n
đất sống. Đến nay, những nhà tư
bản dân tộc, những công ty, sản phẩm,
thương hiệu tư nhân như thế lại
trở nên thời thượng, trở thành sinh tử
cho nền kinh tế phồn vinh của đất
nước. Về mặt kinh tế, 60 năm bỗng
như con số không. Nếu như không có chủ
trương tiêu diệt tư hữu, không coi tư
hữu là tội ác, không coi tập thể là phép
thần thông mầu nhiệm duy nhất, th́
nước ta đâu có chậm hơn Thái Lan
đến 20 năm, chậm hơn Đại Hàn
đến 30 năm như hiện nay.
60 năm
trước người ta đóng cửa
trường Đại học Luật, xử án không
cần luật sư, nay lại quay lại làm
luật, mở trường Đại học
Luật, đào tạo hằng vạn luật sư,
thẩm phán, có phải quay lại từ điểm 60
năm trước không? 60 năm lầm
đường lạc lối, với nền
độc lập thiếu vắng tự do và tự
chủ, ngỡ là đi lên thiên đường, hoá ra
đi vào ngơ cụt lạc hậu bất công cho
đại chúng, mà vẫn không chịu tỉnh! Vẫn
c̣n mơ màng ngạo nghễ "đánh thắng hai
đế quốc to", và "cả thế
giới quư mến chế độ ta vào dịp
thượng đỉnh APEC vừa qua"! Hăy nh́n cho
rơ cả hai mặt, thời cơ và nguy cơ, thời
cơ vàng và thảm hoạ đen, chân kinh tế
tiến chân chính trị lùi, chế độ
độc đảng tước đoạt mọi
công sức của dân lao động, người ngay
làm cho kẻ gian ăn, những bài toán
hiểm nghèo nhất của đất
nước về phát triển vững chắc, công
bằng xă hội, môi trường, giáo dục, chế
độ pháp quyền nghiêm minh… đều chưa có giải pháp.
Điều trớ
trêu là khi nền kinh tế đă trở về với
chế độ tư hữu và chủ nghĩa tư
bản thông thường trong cuộc sống th́
người ta lại không dám nói thẳng ra như
thế và cũng không xử sự hoàn toàn như
thế. V́ sĩ diện, v́ xấu hổ, v́ không có
dũng khí nhận sai lầm, v́ sợ nhân dân nổi
giận? Làm mà không dám nói, làm một đằng nói
một nẻo. Cho nên quyền tư hữu vẫn
không được công khai thừa nhận một cách
đầy đủ. Cho nên vẫn cứ gắn ḷng
tḥng cái đuôi "định
hướng xă hội chủ nghĩa" mà không có
nội dung riêng. Cho nên không dám trả lại cho dân các
quyền tự do của công dân ghi rơ trong Hiến pháp
nhưng bị tước đoạt qua một
số luật lệ vi hiến.
Xin hỏi Đông La,
nên chăng chờ đến khi mọi đảng
viên cộng sản phát sinh "bất măn cá nhân"
để từ bỏ một con đường sai
lầm đă hiển nhiên, hay là nên kêu gọi những nhân cách
kẻ sĩ trong trí thức, cổ vũ
những trí tuệ bừng dậy theo kịp thời
đại mới, phát hiện và nhân gấp những
Nguyễn Trường Tộ, Chu Văn An, Lê Văn Siêu, Phan Chu Trinh
của đầu thế kỷ 21 này?
Nhiều nhân cách
mới như vậy đă lóe lên từ một số
trí tuệ thời đổi mới, như các trí
thức Lê Đăng Doanh, Phan Đ́nh Diệu, Trần
Văn Hà, Đặng Quốc Bảo, Dương Trung
Quốc, Trần Quang Cơ, Cao Hồng Lĩnh, Đào
Xuân Sâm, Phạm Như Cương, Hoàng Tụy…, như
các nhà văn hoá Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ Chi,
Nguyễn Duy, Lại Nguyên Ân, Dư Thị Hoàn…, như
các chiến sĩ dân chủ Hoàng Minh Chính, Nguyễn
Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Phạm Quế Dương, Lê
Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thuỷ, Nguyễn
Chính Kết, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc
Toàn cùng hàng ngh́n dũng sĩ mới của khối
8406, và hàng vạn vạn nhân cách đang âm thầm vào
cuộc.
Trong thời hội
nhập, được thông tin đầy đủ
để so sánh chính xác nước ta với các
nước, mọi công dân yêu nước đều
đau xót thấy
nước ta bị xếp hạng quá thấp
về nhiều mặt. Đă hết cái thời ấu
trĩ kiêu ngạo là dân tộc tiên phong, ra ngơ gặp
anh hùng! Nên biết rơ rằng ta c̣n rất kém để
mà t́m mọi cách vươn dậy, xốc tới.
Về tự do báo chí, Việt Nam bị xếp thứ
144 trên 176 nước. Về nạn tham nhũng,
Việt Nam cũng xếp gần cuối. Về
thực thi pháp luật công minh cũng là đèn
đỏ. Về tŕnh độ của các trường
đại học, chúng ta ở thứ 68 trên số 82
nước được xếp hạng. Trong
nước, một bài trên mạng VietNamNet đă báo
động về t́nh trạng khoa học và công
nghệ ta chưa hề hội nhập với thế
giới, khi đang là thời văn minh trí tuệ. Trí
thức ta vẫn vắng mặt hoàn toàn trên các tạp
chí khoa học đăng các t́m ṭi, phát minh có tầm
cỡ thế giới...
Nhiều bạn
quốc tế lo hộ cho ta là Việt Nam chưa có
một think-tank nào,
nghĩa là những viện nghiên cứu tư nhân
cấp cao, ngoại hạng, chuyên nghiên cứu
đường lối, chính sách, chiến lược
mới cho đất nước, được coi là
cái túi khôn thần kỳ, hiến diệu
kế cho hiện tại và dự kiến cho hàng
chục năm sau. Họ dám đề xuất
những điều táo bạo, người
thường không nghĩ đến, đề
xuất những tranh luận, phản biện
đầy trí tuệ, vượt qua những quyền
lợi đảng phái thiển cận, để công
luận cân nhắc, xem xét. Đây là sự yếu kém
nguy hại nhất. V́ cái túi
khôn ở nước ta được dốc ra
mỗi 5 năm Đại hội Đảng, thật
ra chỉ làng nhàng ở tŕnh độ cấp huyện
hay cấp tỉnh về trí tuệ.
Các bạn trí
thức trẻ nước ta hăy quan tâm bù đắp
sự thiếu vắng này, và biết đâu cùng
những cơ quan truyền thông khác, mạng talawas có thể đóng góp
để h́nh thành một think–tank
Việt, góp phần hội nhập trọn vẹn
với thế giới văn minh trong kỷ nguyên trí
tuệ của loài người, bù đắp một
thời gian 60 năm nước Việt Nam ta gần
như biệt lập với phần lớn của
thế giới.
Xin cám ơn Đông
La dù sao đă có những ư kiến kích động
những suy nghĩ chân thực của tôi. Cám ơn talawas đă cho tôi có
dịp nói chuyện rộng răi với bạn
đọc trên mạng và có dịp sớm chúc mừng
năm mới 2007 nhiều hứa hẹn tới các
bạn quan tâm đến những tâm t́nh trên đây
của tôi.
Paris, 20-12-2006
© 2006 talawas
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|