DC&PT - Thời Sự 2007

 

Bŕi bŕo chữa cho Ls. Lę Thị Công Nhân

Tại tňa Phúc Thẩm Tňa án Nhân dân Tối cao tại Hŕ Nội

 

của bŕ Trần Thị Lệ (mẹ Lę Thị Công Nhân)

 

 

 

Kính thưa Hội đồng Xét Xử Phúc Thẩm

Kính thưa Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao

 

Tôi lŕ Trần Thị Lệ, mẹ Ls.Lę Thị Công Nhân. Con tôi đă bị Công an thŕnh phố Hŕ Nội bắt tạm giam ngŕy 06/3/2007 vŕ Tňa án nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă xét xử Sơ thẩm ngŕy 11/5/2007 về tội vi phạm điều 88 Bộ luật hěnh sự Việt Nam.

 

Con tôi đă có đơn kháng án ngŕy 14/5/2007 vŕ Tňa Phúc thẩm đă thụ lý hồ sơ. Tôi đă 2 lần lŕm đơn xin Tňa Phúc thẩm chấp thuận cho tôi lŕm người bŕo chữa cho con tôi theo điều 56 của Bộ Luật Tố tụng Hěnh sự. Đơn thứ nhất được ông Phó Chánh tňa Nguyễn Minh Mắn trả lời (công văn số 1881/2007/PT ngŕy 19/6/2007) với nội dung lŕ tôi không đủ điều kiện đáp ứng lŕm người bŕo chữa theo điều 56.1.a vŕ 56.1.b. Đơn thứ hai tôi xin lŕm người bŕo chữa nhân dân theo điều 56.1.c nhưng không được trả lời.

 

Với tấm lňng một người mẹ vŕ lŕ một công dân, dầu được hay không được chấp thuận lŕ người bŕo chữa tôi cũng xin gửi bản bŕo chữa của tôi đến quý tňa kính đề nghị quý tňa xem xét.

 

I. Nhận xét về phięn tňa sơ thẩm :

 

Trước hết tôi có vŕi nhận xét về phięn tňa Sơ thẩm.

 

1.      Các nguyęn tắc cơ bản về tố tụng ở phięn toŕ nŕy đă bị vi phạm ở nhiều khâu, không tôn trọng sự suy đoán vô tội của bị cáo.

2.      Dů Toŕ có tuyęn bố đây lŕ phięn toŕ được xét xử công khai nhưng thực tế công chúng không được tham dự, mŕ phňng xử trŕn đầy công an chěm nổi vŕ khách mời bęn an ninh, hoặc có thể bęn Toŕ án. Thân nhân chỉ độc nhất mẹ Lę Thị Công Nhân vŕ vợ Nguyễn Văn Đŕi. Bạn bč, thường dân những ai quan tâm đến vụ án đều không đuợc phép vŕo dự. Em của Lę Thị Công Nhân lŕ Minh Tâm thě bị giữ ở đồn Công An phường Trần Hưng Đạo đến 14 giờ mới được cho về.

3.      Lę Thị Công Nhân hôm xét xử đang bị ốm, do bị ốm từ mấy hôm trước, rồi lại phải thức rất sớm để được đưa đến phięn toŕ, khan giọng nęn bị ảnh hưởng đến việc tự bŕo chữa cho měnh tại phięn toŕ.

4.      Luật sư thě bị hạn chế không được nói hết những luận cứ gỡ tội cho bŕi bŕo chữa của měnh.

5.      Nhân chứng của Lę Thị Công Nhân vŕ Nguyễn Văn Đŕi, cụ thể lŕ công dân Phạm Văn Trội, thě không được hỏi đến.

6.      Hệ thống âm thanh của phięn toŕ thě không đồng bộ: Micro của Chủ toạ phięn toŕ vŕ Kiểm sát vięn thě rất rő, cňn micro của luật sư vŕ bị cáo thě nghe lúc đươc lúc không.

7.      Phięn toŕ xử một vụ mŕ nhŕ nước coi lŕ nghięm trọng như vậy lại diễn ra quá nhanh. Chỉ trong vňng buổi sáng đă kết thúc. Thời gian nŕy chỉ đủ để bęn Kiểm sát đọc cáo trạng, cho luật sư nói vŕi lời…vŕ Chánh án đọc bản án. Cňn bản án thě chắc lŕ đă lŕm sẵn theo lệnh tręn.

 

Vě vậy trong phięn toŕ Phúc thẩm sắp tới tôi mong sẽ không lặp lại những sự việc như tręn để phięn toŕ có thể diễn ra một cách công bằng, công khai nghięm túc vŕ đúng theo các quy trěnh của tố tụng.

 

II. Luận cứ biện hộ cho Lę Thị Công Nhân :

 

Bản án Hěnh sự Sơ thẩm cuả Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă tuyęn Lę Thị Công Nhân phạm tội "Tuyęn truyền chống Nhŕ nước Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam" theo điểm a, c khoản 1 điều 88 Bộ Luật hěnh sự vŕ bị xử phạt 4 năm tů với 3 năm quản chế kể từ ngŕy chấp hŕnh xong hěnh phạt tů.

 

Việc tuyęn án dựa tręn việc Lę Thị Công Nhân tham gia vŕo Đảng Thăng Tiến Việt Nam, với chủ trương đấu tranh "Bất bạo động", vŕo Khối 8406, tham gia phổ biến nhân quyền…với chứng cớ lŕ 25 đầu tŕi liệu cůng 01 CPU mŕ cơ quan an ninh điều tra đă tịch thu khi khám nhŕ ở của Công Nhân vŕo đầu tháng 02/ 2007.

 

Theo tôi, Điều 88 Bộ luật Hěnh sự thuộc chương XI về các tội xâm phạm "An ninh Quốc gia" lŕ một điều vi hiến, nó mâu thuẩn với điều 50, 53 điều 69 Hiến pháp 1992, trong đó quy định rő "Ở nước CHXHCHVN, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá vŕ xă hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân vŕ được quy định trong Hiến pháp vŕ Luật", vŕ "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu těnh theo quy định của pháp luật"…

Điều 88 với những quy định của nó cũng vi phạm nghięm trọng Công ước quốc tế về Dân sự vŕ Chính trị mŕ VN đă ký kết tham gia năm 1982, trong đó điều 19 quy định rất rő về quyền tự do ngôn luận nŕy.

 

Phần luận tội của bản án đối với Lę Thị Công Nhân nęu việc Công Nhân tham gia vŕ ủng hộ cương lĩnh hoạt động của Đảng Thăng tiến Việt Nam vŕ Khối 8406, lŕ vi phạm pháp luật. Trong khi rő rŕng lŕ trong Hiến Pháp 1992 không có điều khoản nŕo cấm một đảng chính trị hoạt động, vŕ công dân có quyền lŕm những điều pháp luật không cấm. Lę Thị Công Nhân chỉ thực hiện quyền công dân, quyền chính trị theo Hiến pháp vŕ Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự vŕ Chính Trị mŕ VN tham gia.

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đă tuyęn bố rằng "Bất đồng chính kiến lŕ việc běnh thuờng". Tự điển Tiếng Việt định nghĩa "Bất đồng chính kiến" lŕ có ý kiến khác nhau về việc thi hŕnh chủ quyền vŕ định chính thể của một nước về hai mặt đối nội vŕ đối ngoại. Lę Thị Công Nhân tham gia vŕo Đảng Thăng Tiến Việt Nam cũng như các hoạt động khác mŕ Bản án Sơ thẩm nęu, đều nói lęn Công Nhân bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam thě lại bị cho lŕ phạm pháp. Vậy lời nói của Chủ tịch nước lŕ sai, lŕ vô giá trị ư?

 

Như vậy con tôi, luật sư Lę Thị Công Nhân, nếu gọi lŕ vi phạm điều 88 Bộ luật hěnh sự thě Công Nhân chỉ vi phạm một điều luật phi lý, một điều luật tước đi những quyền tự do cơ bản của con người. Con tôi không lŕm điều gě sai đối với công lý, mŕ hoŕn toŕn đấu tranh cho chính nghĩa với phuơng thức đấu tranh BẤT BẠO ĐỘNG, mŕ bất bạo động thě không thể ghép vŕo tội xâm phạm an ninh quốc gia mŕ trong đó Điều 88 được quy định ở Chương VI nŕy. Công Nhân chỉ chống sự cai trị độc quyền đă đưa đến quá nhiều bất công, tham nhũng lŕm suy thoái nhiều mặt trong xă hội của Đảng Cộng sản, chứ tuyệt nhięn không hề chống tổ quốc Việt Nam.

 

Henry David Thoreau nói: "Người ta nghĩ rằng hŕnh xử chính đáng đối với luật pháp bất công lŕ cố gắng vận dụng những phương pháp chính trị để thay đổi nó, rằng phải tuân thủ vŕ tôn trọng luật pháp cho đến khi nó thay đổi. Nhưng nếu luật pháp rő rŕng lŕ bất công, tiến trěnh lŕm luật không nhằm xoá bỏ sự bất công nŕy, thě luật pháp đó không xứng đáng được tôn trọng – Hăy vi phạm pháp luật đó!"

Vŕ ai trong chúng ta đều biết trong lịch sử cách mạng thế giới, Gandhi, Martin Luther King Jr, Nelson Mandela...cũng như các nhŕ cách mạng Việt Nam trước kia đă phạm luật như thế. Nếu họ không phạm luật như thế thě những điều luật bất công vẫn măi măi sẽ không bao giờ thay đổi. Đất nước của họ sẽ vẫn măi măi chěm trong sự u mę, phi lý vŕ bạo ngược.

 

Chúng ta biết rằng Việt Nam ký kết tham gia Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự vŕ Chính trị từ năm l982. Măi đến tháng 6 năm 2005 mới công bố Luật ký kết, gia nhập vŕ thực hiện Điều ước quốc tế, trong đó có quy định rő việc thực hiện các điều ước quốc tế như sau:

 

Điều 4. Quản lý nhŕ nước về ký kết, gia nhập vŕ thực hiện điều ước quốc tế:

1.     

2.      Tổ chức vŕ bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế.

3.      Tuyęn truyền, phổ biến các điều ước quốc tế mŕ Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam lŕ thŕnh vięn.

4.      Tuyęn truyền, phổ biến vŕ hướng dẫn thi hŕnh pháp luật về ký kết, gia nhập vŕ thực hiện điều ước quốc tế.

….

Điều 6. Điều ước quốc tế vŕ quy định của pháp luật trong nước:

  1. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật vŕ điều ước quốc tế mŕ CHXHCHVN lŕ thŕnh vięn có quy định khác nhau về cůng một vấn đề thě áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
  2. Việc ban hŕnh văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm không lŕm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mŕ CHXHCN VN lŕ thŕnh vięn có quy định về cůng một vấn đề.

 

Như vậy các điều luật nói tręn đă khẳng định VN lŕ thŕnh vięn của điều ước quốc tế nŕo thě chính điều ước quốc tế đó có giá trị pháp lý cao nhất mŕ VN phải áp dụng khi có cůng một vấn đề trong đó pháp luật VN có quy định khác.

 

Như vậy điếu 88 Bộ Luật Hěnh sự VN hoŕn toŕn mâu thuẫn, đi ngược lại Hiến pháp vŕ CƯQT về DS vŕ CT nęn cần phải băi bỏ theo đúng tinh thần của điều 6 nęu tręn.

 

Lę Thị Công Nhân học Khoa luật quốc tế ở Đại học Luật Hŕ Nội nęn tất nhięn lŕ hiểu rő việc nŕy. Như vậy Công Nhân có phổ biến "Nhân quyền" cho các em sinh vięn thě Công Nhân chỉ thi hŕnh việc tuyęn truyền phổ biến, như các điều luật đă quy định ở tręn thôi. Vậy mŕ bản án kết tội Công Nhân vi phạm pháp luật !!! Thử hỏi nhŕ trường khi dạy cho sinh vięn có phải giải thích rằng, tuy VN có tham gia CƯQT về DS vŕ CT nhưng Đảng CS hiểu nhân quyền khác với thế giới hiểu? Hay có thể giảng cho sinh vięn rằng, Nhŕ nước chỉ ký kết để chứng tỏ cho thế giới thấy rằng VN cũng quan tâm đến tự do, nhân quyền hầu tranh thủ sự ủng hộ của họ mŕ thôi? Sinh vięn sẽ phải học như thế nŕo vŕ thực hŕnh như thế nŕo đây? Lŕm sao người dân có thể tin tưởng vŕo luật pháp cũng như chính quyền?

 

Thế mŕ Công Nhân phổ biến kiến thức về Nhân quyền thě bị kết tội hěnh sự. Lŕ luật sư, Công Nhân hiểu rő chức năng xă hội của luật sư được quy định ở điều 3, Luật Luật sư 2006 lŕ "góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế vŕ xây dựng xă hội công bằng, dân chủ, văn minh". Vŕ Công Nhân đă thực hiện điều nŕy thông qua các hoạt động của měnh trước khi bị bắt tạm giam.

 

Theo tôi thě chính Công an, Toŕ án vŕ nói chung chính quyền hiện tại mới vi phạm các điều luật mŕ Nhŕ nước đă ban hŕnh như Hiến pháp 1992, cũng như Công ước quốc tế về Dân sự vŕ Chính trị mŕ VN đă tham gia.

 

Thiết nghĩ VN đă ký kết thě phải nhanh chóng thực hięn, nếu không thě quốc tế sẽ coi thường VN, vě VN chỉ ký cho có ký. Từ đó, sau nŕy vě không tin tưởng VN, quốc tế nhất định sẽ giám sát gắt gao việc thực hiện. Việc chế tŕi có khả năng xảy ra vŕ tất nhięn sẽ có hậu quả nhất định. Chẳng lẽ chính quyền cứ lŕm mọi cách để chống đỡ măi sao.

 

Kết luận, con tôi, luật sư Lę Thị Công Nhân vô tội. Lę Thị Công Nhân thật sự lŕ nguời "Bất đồng chính kiến" với Đảng Cộng sản Việt Nam, điều mŕ chính Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đă tuyęn bố lŕ běnh thường.

 

Cựu Thủ tướng VN Vő Văn Kiệt cũng đă từng nói lŕ không chỉ người cộng sản mới yęu nước, mŕ cňn có những người yęu nước yęu tổ quốc Việt Nam nhưng không cộng sản.

 

Lŕ mẹ, tôi khẳng định con tôi lŕ một ngưňi yęu nước. Tất cả hoạt động của CN hoŕn toŕn lŕ để góp phần vŕo xây dựng một nuớc Việt Nam thật sự tốt đẹp hơn.

 

Kính mong Hội Đồng Xét Xử phięn toŕ Phúc thẩm sắp tới, với lương tâm vŕ trách nhiệm của měnh lŕm sáng tỏ công lý, xét xử công bằng, trả tự do cho con tôi, hầu để tạo niềm tin cho nhân dân, đặc biệt cho thanh nięn có can đảm nói lęn chính kiến của měnh góp phần xây dựng tổ quốc.

 

 

Hŕ Nội, ngŕy 16 tháng 11 năm 2007

 

Trần Thị Lệ

Mẹ luật sư Lę Thị Công Nhân

 

______________________________________________

 

 

Bŕi bęnh vực nhân phięn toŕ phúc thẩm

 

Chồng tôi yęu nước

Chồng tôi vô tội

 

Vũ Minh Khánh, vợ luật sư Nguyễn Văn Đŕi – Hŕ Nội

 

 

Ngŕy 14 tháng 11 năm 2007

 

 

Vŕo ngŕy 11.5.2007, Toŕ án Nhân dân Thŕnh phố Hŕ Nội đă kết án chồng tôi, luật sư Nguyễn Văn Đŕi, 5 năm tů vŕ 4 năm quản chế vě tội “Tuyęn truyền chống Nhŕ nước CHXHCN Việt Nam”. Ngay sau khi chồng tôi bị bắt giữ vŕo ngŕy 6.3.2007, nhiều cơ quan truyền thông của Đảng Nhŕ nước đă mở chiến dịch nói xấu chồng tôi, để đưa ra hěnh ảnh của một con người xấu xa, phản bội tổ quốc. Họ xuyęn tạc những hoạt động nhân quyền của chồng tôi bằng cách tuyęn truyền rằng, chồng tôi “tổ chức thu thập thông tin về mặt chính trị, xă hội, đặc biệt lŕ trong lĩnh vực tôn giáo để cung cấp cho nước ngoŕi xuyęn tạc, bôi nhọ Việt Nam” (SGGP online, 12.4.2007).

 

Xuất phát từ lňng yęu nước, chồng tôi đă nhiều lần công khai phę phán những việc lŕm sai trái, vi phạm pháp luật của những nhân vięn cơ quan nhŕ nước. Tôi cho rằng những hoạt động về nhân quyền của chồng tôi tręn thực tế đă giúp Việt Nam cải thiện těnh trạng nhân quyền vŕ nâng cao uy tín với thế giới. Chồng tôi không nói sai sự thực. Lŕ một luật sư về nhân quyền, chồng tôi đă tiếp nhận nhiều bằng chứng về việc xâm phạm quyền tự do tôn giáo ở các địa phương. Đó lŕ những tŕi liệu về việc giải tán các buổi nhóm tôn giáo, tịch thu tŕi sản của tín đồ, người Hmông bị chính quyền địa phương bắt bỏ đạo hay những tín đồ Tin lŕnh bị cán bộ công an đánh đập có thương tích. Chồng tôi đă viết đơn thư khiếu nại hợp pháp vŕ thường chọn con đường đối thoại ôn tồn với các cấp thẩm quyền trước khi đưa vấn đề ra công luận. Trong một số trường hợp, nhờ sự lęn tiếng báo động của chồng tôi mŕ chính quyền trung ương mới khám phá ra những việc lŕm vi phạm luật pháp của giới chức địa phương vŕ đă có biện pháp can thiệp. Ở một vŕi nơi, těnh hěnh được cải thiện khi sự chú ý của quốc tế đă khiến chính quyền trung ương hoặc địa phương phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề. Một phần nhờ chồng tôi mŕ Việt Nam đă cải thiện được těnh hěnh tự do tôn giáo. Vě thế Hoa kỳ rút tęn Việt Nam ra khỏi danh sách CPC vŕo tháng 11.2006 vừa qua. Nhờ những người như chồng tôi mŕ chính quyền cũng đă bớt nghi ngờ đạo Tin lŕnh lŕ đạo Mỹ, lŕ đạo phản động vŕ cho phép tín đồ Tin lŕnh được sinh hoạt běnh thường. Từ khi các điểm nhóm Tin lŕnh được phép sinh hoạt běnh thường từ giữa năm ngoái thě rő rŕng các sự cố gây căng thẳng đă giảm, giảm đi rất nhiều. Việc lŕm nŕy đă góp phần lŕm ổn định xă hội. Cho nęn những tiếng nói của những người như chồng tôi rất cần thiết, cho dů điều nŕy không lŕm vừa lňng một vŕi nhân vięn chính quyền.

 

Việc các cơ quan truyền thông nhŕ nước, bản cáo trạng bản án sơ thẩm đồng loạt cho rằng, chồng tôi lŕ luật sư nhưng“chưa bao giờ bŕo chữa cho ai kể từ ngŕy mở văn phňng luật sư cho đến ngŕy bị bắt” lŕ một sự xuyęn tạc vô cůng ác ý, lŕm cho quần chúng có cái nhěn sai lầm về chồng tôi. Ác ý nŕy cŕng lộ rő khi bản án sơ thẩm ghi sai sự thật rằng, chính chồng tôi đă khai nhận điều nŕy trong phięn xử. Để phản biện, tôi chỉ cần nęu một số trường hợp mŕ ai cũng có thể kiểm chứng được. Ít nhất, chồng tôi đă bŕo chữa cho chị Nguyễn Thị Thuý lŕ Quản nhiệm Hội thánh Ngũ Tuần ở thŕnh phố Việt Trě vŕo đầu năm 2000, đă bŕo chữa cho mục sư Nguyễn Hồng Quang lŕ tổng thư ký của Giáo hội Mennonite Việt Nam hồi tháng 04.2005 vŕ đă can thiệp pháp lý cho mục sư Thân Văn Trường thuộc Giáo hội Báp Tít Lięn hiệp Việt Nam khi ông bị giam giữ vô cớ trong bệnh viện tâm thần Bięn Hoŕ từ tháng 09.2004 đến tháng 09.2005. Chồng tôi đă lŕm Uỷ vięn Pháp chế Hội đồng Quản trị Sản nghiệp của Tổng hội Tin lŕnh Miền Bắc đă tư vấn miễn phí cho rất nhiều người.

 

Tręn những bŕi báo trong thời gian vừa qua đă không thiếu những thông tin sai lạc như tręn. Việc loan tin xấu đă tạo ra thŕnh kiến xấu về chồng tôi, gây cho dư luận cảm tưởng rằng, chồng tôi thực sự có tội vŕ cuối cůng tạo thuận lợi cho việc kết án chồng tôi. Theo tôi, các cơ quan điều tra, kiểm sát toŕ án đă chỉ lŕm việc với mục đích kết án chồng tôi.

 

Việc kết án chồng tôi trong phięn xử sơ thẩm ở Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă dựa tręn những suy diễn sai lầm, hậu quả của cách lŕm việc cẩu thả vŕ có thięn kiến của các cơ quan tiến hŕnh tố tụng. Trước vŕ trong phięn xử sơ thẩm, các cơ quan nŕy đă vi phạm nghięm trọng nhiều nguyęn tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hěnh sự Việt Nam. Cho nęn toŕ đă không těm được sự thật của vụ án.

 

Vě vụ án của chồng tôi cần được nhěn trong một tổng thể lớn nęn trong phần trěnh bŕy dưới đây tôi sẽ đóng góp những ý kiến để lŕm sáng tỏ một số vấn đề về quyền công dân trong Hiến pháp 1992 (HP) vŕ các Điều ước Quốc tế trước khi mổ xẻ về những cáo buộc đối với chồng tôi về tội “Tuyęn truyền chống Nhŕ nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hěnh sự Việt Nam.

 

1) Cần huỷ bỏ bản án sơ thẩm vě các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm nghięm trọng Hiến pháp các nguyęn tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hěnh sự

 

a) Trong giai đoạn trước khi bị xét xử

Ngay ở Điều 1 của Chương I, Bộ luật Tố tụng Hěnh sự (BLTTSHSHhh HS) đă xác định nhiệm vụ của bộ luật nŕy lŕ xử lý công minh, không lŕm oan người vô tội vŕ bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Muốn thế BLTTHS phải được xây dựng tręn những nguyęn tắc cơ bản như được ghi trong chương II. Nhưng ngay từ trước khi chồng tôi bị đưa ra toŕ, các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm nặng nề những nguyęn tắc cơ bản của BLTTHS. Tôi xin đơn cử như sau:

 

Tręn nguyęn tắc, chồng tôi phải được xem lŕ vô tội cho đến khi nhận được một bản án đă có hiệu lực pháp luật của Toŕ án. Do đó mọi hŕnh vi kết tội trước đó của cá nhân, tổ chức hay cơ quan đều vi phạm quyền được suy đoán vô tội (Đ.72, HP) vŕ quyền được tôn trọng về danh dự vŕ nhân phẩm (Đ.71, HP) của chồng tôi. Thế nhưng khi gặp tôi ngay sau khi chồng tôi bị bắt giam, các nhân vięn công an đă khẳng định rằng, chồng tôi sẽ không thoát khỏi án tů. Dů toŕ chưa xử, công an đă biết rằng chồng tôi sẽ bị kết án, đă xem chồng tôi lŕ người có tội, đă đối xử với chồng tôi như đối với người có tội khi bắt chồng tôi mặc quần áo phạm nhân để đưa lęn truyền hěnh . Công an cũng đă cung cấp thông tin, hěnh ảnh về hồ sơ vụ án của chồng tôi cho các cơ quan truyền thông nhŕ nước để những nơi nŕy khởi động một chiến dịch bôi nhọ thanh danh vŕ xúc phạm nhân phẩm của chồng tôi. Tôi đă gửi thư đến 17 cơ quan truyền thông để yęu cầu họ phải điều tra kỹ lưỡng trước khi loan những tin xấu như vậy nhưng đến nay chưa nhận được bất cứ một sự đáp ứng nŕo. Đoŕn Luật sư Hŕ Nội đă dựa vŕo sự kiện chồng tôi bị tạm giam để ra quyết định thu hồi thẻ luật sư của chồng tôi vŕ Bộ Tư pháp đă dựa vŕo đó để thu hồi Giấy phép hŕnh nghề của Văn phňng luật sư Thięn Ân. Những cơ quan trong ngŕnh luật nŕy đă không cho chồng tôi có được cơ hội biện hộ vŕ không cần chờ quyết định có hiệu lực của toŕ án. Như vậy các cơ quan truyền thông, cơ quan công an điều tra, Viện kiểm sát, Đoŕn luật sư Hŕ nội vŕ Bộ tư pháp đă vi phạm các nguyęn tắc tố tụng cơ bản lŕ:

 

„Không ai bị coi lŕ có tội khi chưa có bản án kết tội của Toŕ án đă có hiệu lực pháp luật“ (Đ.9, BLTTHS)

„Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tŕi sản của công dân“ (Đ.7, BLTTHS),

 

Các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă không có thái độ vô tư như luật pháp đňi hỏi. Sự vô tư của các cơ quan tiến hŕnh tố tụng người tiến hŕnh tố tụng thể hiện ở việc họ thực hiện đúng, đầy đủ vŕ khách quan nhiệm vụ của měnh theo luật định trong quá trěnh tố tụng. Tôi thấy có nhiều chỉ dấu về sự thiếu vô tư của Viện Kiểm sát vŕ Toŕ án Nhân dân Thŕnh phố Hŕ Nội. Từ ngŕy nhận hồ sơ chồng tôi vŕo ngŕy 19.4.2007 đến khi viết xong cáo trạng vŕo ngŕy 23.4.2007, Viện Kiểm sát Nhân dân Hŕ Nội đă chỉ cần vỏn vẹn có 4 (bốn) ngŕy để hoŕn thŕnh tất cả trách vụ được qui định trong Đ.23 BLTTHS. Viện kiểm sát đă không tận dụng thời hạn 30 ngŕy mŕ BLTTHS dự trů cho những vụ án rất nghięm trọng như vụ của chồng tôi (Đ.166, BLTTHS). Theo tôi, thời gian 4 ngŕy đă không đủ để cho cơ quan nŕy kiểm soát kỹ lưỡng tính hợp pháp của các thủ tục truy tố trong một vụ án có số lượng vật chứng khá lớn (6 CPU, 1 máy tính xách tay, 2 ổ cứng, 121 tŕi liệu). Đáng lẽ khi nhận được 2 (hai) đơn thư của tôi khiếu nại về những cản trở trái pháp luật trong việc mời luật sư, Viện kiểm sát đă phải có ngay sự điều chỉnh cần thiết. Nhưng Viện Kiểm sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă không cứu xét những thư khiếu nại của tôi mŕ vẫn tiếp tục cách lŕm việc vội vă một cách khó hiểu để đưa ra một bản cáo trạng với nhiều nhận định thiếu cơ sở thực tế. Phięn xử sau nŕy đă sử dụng những nhận định nŕy để đưa ra những kết luận sai sót. Viện kiểm sát đă viết vội vŕng đến nỗi quęn đánh số công văn vŕ quęn đề ngŕy tháng tręn bản cáo trạng, khiến cho bản cáo trạng nŕy tręn nguyęn tắc phải bị toŕ án xem lŕ không hợp lệ vě đă vi phạm qui định trong Đ. 167 BLTTHS.

 

Nhưng sự kiện sau đây đă khiến tôi cũng nghi ngờ luôn cả về sự độc lập vô tư của toŕ án. Vŕo ngŕy 19.4.2007, hăng thông tấn AFP của Pháp đă dựa vŕo một nguồn tin từ toŕ án để loan báo một cách vô cůng chính xác rằng, chồng tôi sẽ bị đưa ra xét xử vŕo ngŕy 11.5.2007. Cần lưu ý rằng ngŕy 19.4.2007 chính lŕ ngŕy mŕ Sở Công an Hŕ Nội chuyển hồ sơ của chồng tôi sang cho Viện Kiểm sát Nhân dân Hŕ Nội. Như vậy khi sở công an Hŕ Nội vừa kết thúc điều tra, Toŕ án Nhân dân Hŕ Nội đă ấn định ngay ngŕy xử chồng tôi - cho dů vŕo lúc đó viện kiểm sát chưa viết xong cáo trạng vŕ vě thế toŕ án cũng chưa nhận được hồ sơ của chồng tôi. Điều nŕy cũng cho thấy rő rŕng rằng toŕ án đă chỉ muốn đưa chồng tôi ra xét xử chứ không cần cân nhắc đến những khả năng giải quyết khác như đă được qui định trong Đ.176 BLTHS, thí dụ như khả năng kiểm tra vŕ trả hồ sơ về cho viện kiểm sát điều tra bổ sung hoặc khả năng đěnh chỉ vụ án. Sự nghi ngờ nŕy được xác nhận một lần nữa khi báo Hŕ Nội Mới số ra ngŕy 25.4.2007 – nghĩa lŕ chỉ một ngŕy sau khi Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội chính thức nhận được hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển đến - loan tin rằng chồng tôi sẽ bị đưa ra xử vŕo ngŕy 11.5.2007. Tôi có cảm tưởng rằng ngay từ đầu các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă xác định chung phương hướng kết tội chồng tôi chứ không có mục đích bảo vệ sự tự do của chồng tôi vŕ těm ra sự thật của vụ án. Rő rŕng Viện Kiểm sát Nhân dân Toŕ án Nhân dân Hŕ Nội đă vi phạm nghięm trọng nguyęn tắc tố tụng cơ bản:

 

• „Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hŕnh tố tụng(Đ.14, BLTTHS)

 

Các cơ quan công an kiểm sát đă cố těnh cản trở việc bảo vệ chồng tôi khi không cho chồng tôi được gặp luật sư trong thời gian trước khi hồ sơ được chuyển sang toŕ án. Sự gây cản trở bắt đầu từ những việc nhỏ như không giao cho chúng tôi lệnh tạm giam, lệnh khám nhŕ, lệnh khám văn phňng, bięn bản thu giữ tŕi liệu đồ vật theo đúng những qui định của các điều 80, 85, 126, 145 BLTTHS, mặc dů tôi đă lŕm đơn khiếu nại nhiều lần. Vě không có các giấy tờ nŕy nęn vợ chồng tôi đă không biết chúng tôi bị thu giữ đồ vật gě vŕ trong một thời gian dŕi chúng tôi đă không biết một cách chính xác rằng chồng tôi bị khởi tố về tội gě.

 

Ngay sau khi chồng tôi bị bắt vŕo ngŕy 6.3.2007, tôi đă nhiều lần xin phép công an điều tra cho chồng tôi gặp luật sư nhưng không được công an đáp ứng. Đến ngŕy 5.4.2007 luật sư của chồng tôi gửi cho Sở Công an thŕnh phố Hŕ Nội đơn yęu cầu được cấp Giấy chứng nhận bŕo chữa. Công an điều tra vięn chỉ trả lời miệng rằng „vě chồng bŕ bị buộc tội trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia nęn luật sư không được tham gia trong giai đoạn điều tra“. Nếu đúng như vậy thě chiểu theo Đ.58 BLTHS, chính Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội phải ra quyết định đó. Tręn thực tế tôi đă không nhận được bất kỳ một văn bản nŕo từ phía Sở Công an Hŕ Nội hay Viện Kiểm sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội trả lời về việc hạn chế tham gia tố tụng của luật sư trong vụ án của chồng tôi. Việc mời luật sư của chồng tôi đă bị treo lửng cho đến khi hồ sơ được chuyển sang toŕ án. Vě luật sư của chồng tôi không được tham gia ngay từ đầu vŕo việc tố tụng cho nęn nhiều quyền lợi hợp pháp của chồng tôi đă không được bảo vệ. Vě luật sư không nhận được bản kết luận điều tra của Sở Công an thŕnh phố Hŕ Nội (Đ.162, BLTTHS) cũng như bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội (Đ.166, BLTTHS) nęn luật sư không kịp thời biết được quan điểm của các cơ quan tiến hŕnh tố tụng về các sự kiện xảy ra, các chứng cứ buộc tội vŕ hướng giải quyết của họ để bảo vệ cho chồng tôi một cách có hiệu quả.

 

Măi đến ngŕy 2.5.2007 luật sư của chồng tôi mới được Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội cấp „Giấy chứng nhận bŕo chữa“. Nếu tính đến ngŕy 10.5.2007 trừ đi các ngŕy nghỉ cuối tuần, luật sư của chồng tôi chỉ cňn thời gian tổng cộng lŕ 7 ngŕy lŕm việc để chuẩn bị cho việc bŕo chữa cho chồng tôi vŕ cô Lę Thị Công Nhân. Rő rŕng thời gian nŕy quá ngắn ngủi để luật sư có thể chu toŕn công việc xem xét số tŕi liệu lớn lao, gặp thân chủ, thu thập chứng cứ để bŕo chữa (Đ.58, BLTHS). Nếu xem đây lŕ một vụ án phức tạp đă được hŕng trăm bŕi báo, bŕi tường thuật tręn các phương tiện truyền thông nhŕ nước đề cập lięn tục trong nhiều tuần lięn tiếp thě bęn bị cáo đă bị lép vế rő rŕng so với bęn công tố vě thời gian dŕnh cho việc điều tra buộc tội (từ 3.2.2007 đến 19.4.2007) dŕi gấp 10 lần so với thời gian để chuẩn bị bŕo chữa. Tóm lại Sở Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân vŕ Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă vi phạm nguyęn tắc tố tụng cơ bản về việc

 

Bảo đảm quyền bŕo chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Đ.11, BLTTHS)

 

Trong thời gian chồng tôi bị giam chờ bị đưa ra xét xử, tôi đă gửi tổng cộng 61 đơn khiếu nại hoặc thư đề nghị, trong đó có 24 đơn gửi đến các cơ quan chức năng lięn hệ vŕ 37 đơn gửi đến các cơ quan có nhiệm vụ lănh đạo, giám sát để yęu cầu tôn trọng hoặc can thiệp để bảo vệ các quyền hợp pháp của chồng tôi. Nhưng đến nay tôi chưa nhận được của các cơ quan giám sát một sự trả lời nŕo về các vấn đề tố tụng. Vě những vi phạm nŕy đă giới hạn nghięm trọng quyền bŕo chữa của chồng tôi nęn tôi đă lŕm đơn xin hoăn phięn xử vŕo ngŕy 4.5.2007. Đơn nŕy được gửi đến 16 cơ quan chức năng nhưng đến nay tôi đă không nhận được hồi âm. Như vậy các cơ quan chức năng đă vi phạm các nguyęn tắc tố tụng cơ bản:

 

 • „Tôn trọng bảo vệ các quyền cơ bản của công dân“ (Đ.4, BLTTHS),

 • „Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hěnh sự“ (Đ.31, BLTTHS),

 • „Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hŕnh tố tụng, người tiến hŕnh tố tụng“ (Đ.32, BLTTHS)

 

b) Trong phięn xử sơ thẩm

Phięn xử sơ thẩm diễn ra vŕo ngŕy 11.5.2007 cũng đă vi phạm nghięm trọng những nguyęn tắc cơ bản của BLTTHS.

 

Phięn xử đă không đạt các tięu chuẩn công khai mặc dů toŕ không thông báo xử kín. Khi tham dự, tôi có cảm tưởng rằng, những người có mặt hôm đó thuộc thŕnh phần được chọn lọc. Trong số những người tham dự tôi nhận thấy nhiều khuôn mặt quen thuộc lŕm việc trong các cơ quan công an. Người thân, người quen vŕ bạn bč của các bị cáo đă không thể vŕo tham dự phięn xử. Họ bị chặn lại ngoŕi cổng toŕ vě không có giấy mời. Mỗi bị cáo chỉ có duy nhất một thân nhân trực hệ được tham gia nhưng họ chỉ vŕo được phňng xử sau khi phięn toŕ đă bắt đầu. Họ bị đưa ngồi vŕo hŕng ghế sau cůng của phňng xử nęn không thể nghe rő hết phięn xử nŕy. Các quan sát vięn quốc tế vŕ phóng vięn bị hạn chế sự quan sát vě họ bị đưa vŕo một phňng rięng để theo dői phięn xử qua mŕn ảnh truyền hěnh. Lời nói trong phięn toŕ được phát qua hệ thống loa. Trong khi lời nói của thẩm phán chủ toạ vŕ kiểm sát vięn luôn luôn được nghe thấy rất đầy đủ thě nhiều lúc lời phát biểu của các luật sư vŕ bị cáo đă không nghe được rő rŕng. Sự kiện nŕy đă khiến cho người tham dự không hiểu đầy đủ lý luận của phía bị cáo vŕ luật sư, đă cười chế giễu vŕ tạo nęn một áp lực đč nặng lęn tâm lý các bị cáo vŕ luật sư. Thẩm phán chủ toạ đă không can thiệp để thay đổi těnh trạng nŕy. Như vậy Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă vi phạm nguyęn tắc tố tụng cơ bản về:

 

Xét xử công khai (Đ.18, BLTTHS).

 

Cách bố trí chỗ ngồi trong phňng xử đă tố cáo một sự thięn vị rő rŕng. Trong khi 2 kiểm sát vięn được ngồi gần nhau tręn bục cao thě 2 luật sư của chồng tôi đă bị sắp xếp ngồi cách xa nhau. Họ không thể trao đổi với nhau vŕ với chồng tôi. Trong phięn xử, các bị cáo không được đối xử běnh đẳng vě họ không được cho nghe phần xét hỏi các người lŕm chứng. Tất cả các nhân chứng được thẩm phán chủ toạ mời ra xét hỏi đều lŕ nhân chứng buộc tội. Nhân chứng gỡ tội do chồng tôi mời đă không được chủ toạ mời tham gia phần xét hỏi nhân chứng tại toŕ. Thẩm phán chủ toạ cũng đă không mời luật sư xét hỏi các nhân chứng.

Bị cáo vŕ luật sư đă không được phép đề cập đến hoặc tranh luận vŕ bŕo chữa về các vấn đề tôn giáo, tổ chức chính trị vŕ đảng phái. Trong khi đó kiểm sát vięn lại được nói về vấn đề nŕy, tạo ấn tượng sai lầm rằng chồng tôi chống Nhŕ nước một cách có tổ chức.

 

Trong phần phát biểu sau cůng dŕnh cho bị cáo, thẩm phán chủ tọa đă nhiều lần cắt lời chồng tôi vŕ mặc dů chồng tôi có yęu cầu chủ toạ không được giới hạn thời gian phát biểu vě lŕm như thế lŕ vi phạm Đ.220 BLTTHS.

 

Bản án sơ thẩm đă phạm một lỗi lầm nghięm trọng khi không ghi trung thực lại diễn biến của phięn xử, đặc biệt ở những đoạn lięn quan đến lời khai của chồng tôi trước toŕ. Ở nhiều chỗ, bản án ghi rằng chồng tôi đă khai nhận một việc nŕo đó mặc dů tại phięn xử chồng tôi đă nói rő rŕng lŕ hoặc không thừa nhận, hoặc chỉ thừa nhận một phần hay không nhớ rő điều đó. Việc ghi sai nŕy đă tạo ngộ nhận tai hại rằng chồng tôi đă thú nhận tội lỗi vŕ việc kết án của toŕ lŕ đúng. Do đó Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă vi phạm nghięm trọng các nguyęn tắc tố tụng cơ bản sau đây:

 

Xác định sự thật của vụ án (Đ.10,BLTTHS)

Bảo đảm quyền běnh đẳng trước Toŕ án (Đ.19,BLTTHS)

Bảo đảm quyền bŕo chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Đ.11,BLTTHS)

 

Như thế việc xét xử chồng tôi đă không diễn ra một cách công bằng theo thủ tục luật định. Sự thật của vụ án do đó đă không được xác định một cách khách quan, toŕn diện đầy đủ vě trong tiến trěnh tố tụng đă xảy ra những vi phạm nghięm trọng BLTTHS. Vě các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm nghięm trọng quá nhiều nguyęn tắc cơ bản của BLTTHS nęn toŕ phúc thẩm không thể chỉ sửa mŕ cần huỷ bỏ toŕn bộ bản án sơ thẩm (BAST).

 

2) Chồng tôi đă thực thi các quyền công dân được ghi trong Hiến pháp CHXHCNVN 1992 được bảo đảm bởi các điều ước quốc tế về quyền con người mŕ Nhŕ nước Việt Nam đă tham gia ký kết

 

Theo Hiến pháp CHXHCNVN 1992 (HP 1992), công dân có các quyền hiến định về dân sự như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội theo qui định của pháp luật (Đ.69, HP), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Đ.70, HP), quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm (Đ.71, HP), quyền nghięn cứu khoa học tham gia các hoạt động văn hoá (Đ.60, HP), quyền được tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước (Đ.53, HP) vŕ quyền khiếu nại (Đ.74, HP). Chồng tôi trong tư cách lŕ một luật sư có ý thức về chức năng xă hội của měnh đă cương quyết thực thi bảo vệ đầy đủ những quyền hiến định nŕy vě đây lŕ những thŕnh tựu của quá trěnh dân chủ hoá đất nước.

Trong HP 1992 các văn bản quy phạm luật Việt Nam người ta không těm thấy định nghĩa về quyền tự do ngôn luận. Tuy nhięn vě Việt Nam đă gia nhập Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự vŕ Chính trị (CƯQT QDSCT) vŕo ngŕy 24.9.1982 vŕ vě Việt Nam không đưa ra bảo lưu nŕo khi ký kết Công ước nŕy cho nęn các định nghĩa về quyền tự do ngôn luận trong Điều 19 CƯQT QDSCT mặc nhięn được áp dụng một cách đầy đủ vŕ trọn vẹn cho các quyền dân sự tương ứng ghi trong HP 1992 như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền tự do tôn giáo, quyền nghięn cứu khoa học vŕ tham gia các hoạt động văn hoá vŕ quyền được tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước.

Ngoŕi ra, Luật Ký kết, Gia nhập Thực hiện Điều ước Quốc tế do Quốc hội Việt Nam ban hŕnh ngŕy 14.06.2005 định nghĩa rất rő rằng “Gia nhập lŕ hŕnh vi pháp lý do Quốc hội, Chủ tịch nước hoặc Chính phủ thực hiện để chấp nhận sự rŕng buộc của điều ước quốc tế nhiều bęn đối với nước CHXHCNVN” (Đ.2 K10). Luật nŕy cũng qui định việc ưu tięn áp dụng điều ước quốc tế tại Điều 6: “Trong trường hợp văn bản quy phạm luật vŕ điều ước quốc tế mŕ CHXHCNVN lŕ thŕnh vięn có quy định khác nhau về cůng một vấn đề thě áp dụng quy định của điều ước quốc tế”. Như vậy Nhŕ nước Việt Nam đă thừa nhận cho mọi công dân Việt Nam quyền tự do ngôn luận đầy đủ theo như quy định của điều 19 CƯQT QDSCT.

Điều 19 CƯQT QDSCT quy định rằng:

(1)   Mỗi người có quyền giữ vững quan điểm mŕ không bị ai can thiệp;

(2)   Mỗi người có quyền tự do bŕy tỏ; quyền nŕy bao gồm quyền tự do těm kiếm, tiếp nhận vŕ phổ biến mọi loại thông tin vŕ ý kiến bằng cách truyền khẩu, bằng bút tự hay ấn phẩm, dưới hěnh thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông tự chọn khác, không kể bięn giới quốc gia;

(3)   Việc hŕnh sử những quyền được ghi tại khoản 2 nęu tręn đňi hỏi đương sự phải có những trách nhiệm vŕ bổn phận đặc biệt. Do đó quyền nŕy chỉ có thể chịu một số giới hạn nhất định nŕo đó, nhưng những giới hạn nŕy phải được qui định bởi luật pháp vŕ vě nhu cầu:

a)      tôn trọng quyền tự do thanh danh của người khác;

b)      bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng vŕ đạo lý công cộng .

 

Article 19 International Covenant on Civil and Political Rights

 

1.      Everyone shall have the right to hold opinions without interference.

2.      Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.

3.      The exercise of the rights provided for in paragraph 2 of this article carries with it special duties and responsibilities. It may therefore be subject to certain restrictions, but these shall only be such as are provided by law and are necessary:

(a) For respect of the rights or reputations of others;

(b) For the protection of national security or of public order (ordre public), or of public health or morals.

 

Uỷ ban Nhân quyền Lięn Hiệp Quốc (Human Rights Committee) lŕ cơ chế được LHQ giao cho nhiệm vụ giám sát việc thi hŕnh CƯQT QDSCT ở tại các quốc gia thŕnh vięn nhiệm vụ diễn giải tổng quát về các điều khoản trong Công ước nŕy. Những diễn giải nŕy sẽ giúp cho các quốc gia thŕnh vięn thực thi Công ước một cách đúng đắn hơn. Các quốc gia thŕnh vięn có trách nhiệm phải gửi báo cáo định kỳ về việc thực thi CƯQT QDSCT đến Uỷ ban Nhân quyền LHQ nŕy. Trong văn bản CCPR/C/21/Rev.1 (19.05.1989) Uỷ ban nŕy đă giải thích rő về các khoản 1, 2 3 trong Điều 19 CƯQT QDSCT về quyền tự do ngôn luận như sau (trích đoạn):

 

1)     Khoản 1 (của Điều 19 CƯQT QDSCT, tôi chú thích) đňi hỏi phải bảo vệ “Quyền giữ vững quan điểm mŕ không bị ai can thiệp”. CƯQT QDSCT không chấp nhận bất cứ một hạn chế hoặc ngoại lệ nŕo đối với quyền nŕy (...)

2)     Khoản 2 qui định về việc bảo vệ quyền tự do bŕy tỏ. Quyền nŕy không chỉ bao gồm “quyền phổ biến mọi loại thông tin vŕ ý kiến” mŕ cňn gồm cả quyền tự do “těm kiếm” vŕ “tiếp nhận” những thông tin vŕ ý kiến nŕy dưới bất kể hěnh thức nŕo, “bằng cách truyền khẩu, bằng bút tự hay ấn phẩm, dưới hěnh thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông tự chọn khác, không kể bięn giới quốc gia”(…)

3)    

4)     Khoản 3 đặc biệt nhấn mạnh rằng việc thực thi quyền tự do bŕy tỏ cũng gắn liền với những trách nhiệm bổn phận đặc biệt. Vě thế CƯQT QDSCT cho phép (các quốc gia thŕnh vięn, tôi chú thích) đặt ra một số hạn chế đối với quyền nŕy trong trường hợp có lięn quan đến quyền lợi của các cá nhân khác hoặc quyền lợi của toŕn thể cộng đồng. Tuy nhięn nếu một quốc gia thŕnh vięn muốn giới hạn quyền tự do bŕy tỏ thě việc đó không được phá hỏng tự thân quyền nŕy. Khoản 3 đặt ra những điều kiện chỉ cho phép (quốc gia thŕnh vięn, tôi chú thích) đưa ra những hạn chế trong (khuôn khổ của, tôi chú thích) các điều kiện nŕy: việc hạn chế phải được “qui định bằng một đạo luật”; những hạn chế nŕy chỉ được đặt ra vě một trong các mục đích qui định bởi điểm a vŕ b của khoản 3; vŕ quốc gia thŕnh vięn phải biện minh được “sự cần thiết” của những hạn chế nŕy vě các mục đích đó.

 

Text of general comment :

1.      Paragraph 1 requires protection of "the right to hold opinions without interference". This is a right to which the Covenant permits no exception or restriction. The Committee would welcome information from States parties concerning paragraph

2.      Paragraph 2 requires protection of the right to freedom of expression, which includes not only freedom to "impart information and ideas of all kinds", but also freedom to "seek" and "receive" them "regardless of frontiers" and in whatever medium, "either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media" of one's choice. Not all States parties have provided information concerning all aspects of the freedom of expression. For instance, little attention has so far been given to the fact that, because of the development of modern mass media, effective measures are necessary to prevent such control of the media interfere with the right of everyone to freedom of expression in a way that is not provided for in paragraph

3.      Many reports of States parties confine themselves to mentioning that freedom of expression is guaranteed under the Constitution or the law. However, in order to know the precise regime of freedom of expression, in law and in practice, the Committee needs in addition pertinent information about the rules which either define the scope of freedom of expression or which set forth certain restrictions, as well as any other conditions which in practice affect the exercise of this right. It is the interplay between the principle of freedom of expression and such limitations and restrictions which determines the actual scope of the individual's right.

4.      Paragraph 3 expressly stresses that the exercise of the right to freedom of expression carries with it special duties and responsibilities and, for this reason certain restrictions on that right are permitted which may relate either to the interests of other persons or to those of the community as a whole. However, when a State party imposes certain restrictions on the exercise of freedom of expression, these may not put in jeopardy the right itself. Paragraph 3 lays down conditions and it is only subject to these conditions that restrictions may be imposed: the restrictions must be "provided by law"; they may only be imposed for one of the purposes set out in subparagraphs (a) and (b) of paragraph 3; and they must be justified as being "necessary" for that State party for one of those purposes.

 

Việt Nam đă sống trong hoŕ běnh đă phát triển ổn định từ năm 1975. Trong những năm qua Việt Nam không có cuộc bạo loạn nŕo ở tầm mức quốc gia. Do đó theo quan điểm của luật quốc tế, Việt Nam không nằm trong těnh trạng mŕ cả nước bị đe doạ về mặt chính trị hoặc an ninh hay trật tự. Ngoŕi ra, cũng theo quan điểm nŕy, sự kiện Việt Nam không ban hŕnh một đạo luật rięng biệt nŕo để giới hạn quyền tự do ngôn luận theo các mục đích được ghi rő trong Điều 19, Khoản 3, điểm a vŕ b của CƯQT QDSCT lŕ một chứng cứ cho thấy Nhŕ nước CHXHCNVN đă mặc nhięn công nhận cho công dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do có quan điểm rięng vŕ quyền tự do bŕy tỏ theo Điều 19 khoản 1 vŕ 2 của CƯQT QDSCT mŕ không chịu bất cứ một giới hạn luật định nŕo cả. Nói cách khác, nếu có một văn bản luật hay dưới luật nŕo giới hạn quyền tự do ngôn luận thě văn bản nŕy phải bị xem vi phạm việc ký kết gia nhập vŕ chính  CƯQT QDSCT.

Việc chồng tôi có quan điểm chính trị rięng, việc chồng tôi sử dụng quyền bŕy tỏ một cách ôn hoŕ qua những bŕi viết hoặc phát biểu hay trao đổi, hŕnh động tiếp nhận vŕ phổ biến bŕi viết hoặc ý kiến với người khác, dů người đó đang ở bất cứ nơi nŕo tręn thế giới lŕ những điều hoŕn toŕn phů hợp với quyền tự do ngôn luận trong Hiến pháp 1992 vŕ CƯQT QDSCT của LHQ. Như đă nęu ở tręn, khi Việt Nam đă hội nhập thế giới gia nhập những điều ước quốc tế, thě lý luận cho rằng, nếu lŕ công dân Việt Nam thě chồng tôi “phải tuyệt đối chấp hŕnh pháp luật của Việt Nam, nếu vi phạm thě sẽ phải bị nghięm trị theo quy định của pháp luật Việt Nam” (BAST, tr. 10) lŕ một lý luận cần nhưng không đủ. Không đủ vě ở đây toŕ sơ thẩm chỉ muốn giới hạn vŕo luật hěnh sự mŕ không xét đến các bộ luật khác vŕ không xét đến sự mâu thuẫn có thể xảy ra giữa luật hěnh sự vŕ điều ước quốc tế mŕ Việt Nam đă tham gia ký kết. Muốn cho đầy đủ thě cần phải xem Luật quốc tế vŕ Luật Việt Nam như lŕ một kết cấu chặt chẽ được rŕng buộc bằng Luật Ký kết, Gia nhập vŕ Thực hiện Điều ước Quốc tế 2005. Nếu luật Việt Nam đă được thích ứng với điều ước quốc tế thě sự phân biệt giữa luật Việt Nam luật quốc tế không cần phải đặt ra nữa. Cňn trong trường hợp luật Việt Nam chưa thích ứng được với điều ước quốc tế thě điều 6 của Luật Ký kết, Gia nhập vŕ Thực hiện Điều ước Quốc tế cho phép ưu tięn áp dụng điều ước quốc tế. Một cách cụ thể, nếu xét thấy Đ.88 Bộ luật Hěnh sự (BLHS) không phů hợp với điều ước quốc tế thě Nhŕ nước Việt Nam sẽ phải huỷ bỏ hay ngưng thi hŕnh nó.

 

Không phải chỉ có một měnh chồng tôi nhận thấy rằng hiện Việt Nam ta có nhiều quy phạm luật quy phạm dưới luật về quyền con người vŕ quyền công dân chưa hoŕn toŕn phů hợp với quy phạm của Hiến pháp. Quan điểm nŕy được nhiều nhŕ nghięn cứu chia xẻ, thí dụ như PGS TS Nguyễn Văn Động viết trong sách “Quyền Con Người, Quyền Công Dân Trong Hiến Pháp Việt Nam” (nxb Khoa học Xă hội, 8.2005). Cũng như nhiều người khác, chồng tôi cũng nęu lęn những ý kiến về việc phải có một Toŕ án Hiến pháp để phán xét về tính hợp hiến của các quy phạm luật vŕ dưới luật. Một vấn đề lớn khác đang được xă hội thảo luận lŕ việc nội luật hoá trong Hiến pháp vŕ luật pháp các điều ước quốc tế về quyền con người mŕ Nhŕ nước Việt Nam ký kết hoặc gia nhập mŕ, theo PGS TS Nguyễn Văn Động, việc tôn trọng vŕ thực hiện nghięm chỉnh các điều ước lŕ nghĩa vụ của nhŕ nước vŕ nhân dân (sđd, tr. 231). Do đó những phát biểu bŕi viết của chồng tôi lięn quan đến các vấn đề tręn cần được xem lŕ những đóng góp xây dựng để hoŕn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam vŕ để Việt Nam hội nhập trọn vẹn vŕo cộng đồng quốc tế.

 

Cũng cần nhấn mạnh rằng, chồng tôi không phải lŕ người duy nhất thực thi các quyền công dân hiến định. Từ trước khi chồng tôi bị giam giữ cho đến nay, đă có rất nhiều trí thức, nhŕ nghięn cứu, luật sư, chuyęn vięn, cán bộ cao cấp, đại biểu quốc hội vŕ những nhŕ lănh đạo Đảng vŕ Nhŕ nước khác – dů cňn tại chức hay đă về hưu – đă thực hiện quyền tự do ngôn luận hiến định nŕy tręn các phương tiện thông tin đại chúng ở trong cũng như ở ngoŕi nước. Không khác gě chồng tôi, họ cũng tham gia đóng góp những ý kiến sôi nổi về các vấn đề như Điều 4 Hiến Pháp, quan niệm đảng lănh đạo, đa nguyęn, đa đảng, dân chủ, nhân quyền, hoŕ giải với cộng đồng người Việt hải ngoại. Thông thường, Nhŕ nước cần khuyến khích một nền văn hoá trao đổi quan điểm một cách ôn hoŕ như thế về những vấn đề của đất nước.

 

3) Chồng tôi không vi phạm điều 88 của Bộ luật hěnh sự

 

a) Bản án dựa tręn nhiều kết quả điều tra thiếu chính xác để kết luận hŕm hồ

Bản án hěnh sự sơ thẩm số 153/2007/HSST đă dựa tręn thięn kiến buộc tội những điều tra cẩu thả của cơ quan công an nęn có nhiều kết luận hŕm hồ đến mức phi lý.

 

Ngay trong phần mở đầu, bản án đă cố těnh tạo ra ấn tượng phạm tội bằng một sự kiện bắt quả tang: “Sáng ngŕy 03.02.2007, tại văn phňng luật sư Thięn Ân - số 10 Đoŕn Trần Nghiệp, Cơ quan an ninh điều tra Công an thŕnh phố Hŕ Nội Bộ Công an phát hiện Lę Thị Công Nhân đang tuyęn truyền chống Nhŕ nước Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam vŕ xuyęn tạc các chủ trương chính sách của nhŕ nước ta về dân chủ, nhân quyền cho 03 sinh vięn Khoa Báo chí Trường Cao đẳng phát thanh truyền hěnh I Hŕ Nam” (BAST, tr. 2). Đây lŕ một xác định ngây ngô. Sự thật lŕ vŕo ngŕy 3.2.2007, luật sư Lę Thị Công Nhân chỉ vừa kịp chŕo hỏi phát bŕi viết “Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền” cho 3 sinh vięn Hŕ Nam thě công an đă ập vŕo. Theo lời khai thống nhất của Lę Thị Công Nhân, Phạm Văn Trội Bạch Ngọc Dương, mọi việc diễn ra trong khoảng thời gian chưa đầy 5 (năm) phút thě công an đă đến giải tán vŕo lúc 10g10’. Ngay cả Giáp Văn Hiếu lŕ người được Viện Kiểm sát mời ra lŕm nhân chứng cũng khai trước toŕ rằng, ông “chưa kịp đọc tŕi liệu thě công an đă vŕo bắt”. Năm (5) phút lŕ thời gian rất ngắn ngủi chắc chắn không thể đủ để cho Lę Thị Công Nhân lŕm công việc to tát kinh khủng lŕ “tuyęn truyền chống Nhŕ nước … vŕ xuyęn tạc các chủ trương chính sách của nhŕ nước ta về dân chủ, nhân quyền”. Cũng cần nói thęm rằng, bŕi “Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền” lŕ một bŕi nghięn cứu học thuật của tiến sĩ triết học Đỗ Mạnh Tri ở Pháp. Tính học thuật thể hiện ngay tại đầu bŕi khi tác giả Đỗ Mạnh Tri ghi rő “cách trěnh bŕy důng phương pháp phân tách, lồng vŕo phương pháp lịch sử. Nói cách khác: dựa vŕo một vŕi mốc lịch sử để tiếp cận ý niệm nhân phẩm dẫn chứng tính cách nền tảng của ý niệm nŕy trong tiến trěnh nhận thức vŕ đề cao nhân quyền”. Về nội dung, bŕi nŕy đă důng một số ý niệm triết học thần học vŕ không có một ý nŕo hoặc một chữ nŕo đả động đến Việt Nam. Khi toŕ chấp nhận một kết luận hoŕn toŕn không có cơ sở thực tế, không hợp lý sai sự thật như vậy, tôi cho rằng toŕ đă có sẵn thŕnh kiến với các bị cáo.

 

Toŕ sơ thẩm đă tiếp nhận một cách thiếu suy xét nhiều ý kiến khác của cơ quan điều tra. Cũng giống như cáo trạng, bản án đă gộp chung nhiều người, nhiều việc không lięn quan vŕo với nhau để tạo cảm tưởng về sự nghięm trọng vŕ rằng chồng tôi lŕ người cầm đầu xúi giục. Bản án viết: “cơ quan an ninh điều tra cňn xác định Phạm Văn Trội vŕ 4 nhân vięn văn phňng luật sư Thięn Ân lŕ: Phạm Sỹ Nguyęn, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh vŕ Nguyễn Thị Hương Lan do bị Nguyễn Văn Đŕi vŕ Lę Thị Công Nhân tuyęn truyền lôi kéo nęn đă tham gia vŕo các hoạt động tuyęn truyền xuyęn tạc chống nhŕ nước“ (BAST, tr. 3). Trước hết, những nhân sự tręn không lŕm việc tręn cůng lănh vực với nhau. Ông Phạm Văn Trội lŕ thŕnh vięn của Uỷ ban Nhân quyền Việt Nam. Ông Nguyễn Xuân Đệ lŕ nhân vięn lái xe bŕ Trần Thanh lŕ nhân vięn trong công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Luật. Chỉ rięng bŕ Nguyễn Thị Hương Lan lŕ kế toán vięn vŕ ông Phạm Sỹ Nguyęn lŕ nhân vięn của văn phňng luật sư Thięn Ân. Năm người nŕy có những công việc lŕm hŕng ngŕy khác nhau, có người chỉ lŕm những việc rất chuyęn môn như lái xe hay kế toán. Những nhân vięn thuộc 2 văn phňng khác nhau của chồng tôi đă khai rằng, họ không có hoạt động tuyęn truyền xuyęn tạc chống Nhŕ nước do đó cũng không bị ai lôi kéo cả. Ông Trội lŕ người hoạt động độc lập vŕ cũng khai không bị chồng tôi lôi kéo. Việc thẩm phán chủ toạ Nguyễn Hữu Chính không mời ông Phạm Văn Trội các nhân vięn của chồng tôi tham gia phần xét hỏi nhân chứng tại phięn toŕ ngŕy 11.05.2007 đă khiến cho sự thật của vụ án bị bóp méo theo hướng bất lợi cho chồng tôi.

 

b) Điều 88 BLHS có nhiều khái niệm quá mơ hồ bao quát

Từ ngŕy BLHS 1999 được ban hŕnh đến nay, Nhŕ nước đă chưa có văn bản pháp luật nŕo để hướng dẫn về nội hŕm của các hŕnh vi được ghi trong Chương “Xâm phạm An ninh Quốc gia” của bộ luật nŕy, ở đây cụ thể lŕ các hŕnh vi theo Đ.88 BLHS. Thế nŕo lŕ chống? Chống Nhŕ nước, chống chính quyền lŕ gě? Hŕnh vi như thế nŕo vŕ ở mức độ nŕo thě bị gọi lŕ chống Nhŕ nước, chống chính quyền? Tuyęn truyền lŕ gě, hoạt động ở mức độ nŕo thě bị xem lŕ tuyęn truyền? Phę běnh chính sách của Đảng hoặc của Nhŕ nước, phę běnh hoặc tố cáo các hŕnh vi vi hiến, vi luật của cán bộ Đảng, cán bộ công nhân vięn chức Nhŕ nước, nęu lęn những sự thật lịch sử có bị xem lŕ hŕnh vi xuyęn tạc, phỉ báng chính quyền không? Như thế nŕo lŕ tuyęn truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý? Tuyęn truyền như thế nŕo thě bị xem lŕ gây hoang mang trong nhân dân? Hŕnh vi lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh các tŕi liệu lŕ gě vŕ ở mức độ nŕo thě bị xem lŕ phạm luật? Những khái niệm nŕy đến nay vẫn cňn rất mơ hồ vŕ bao quát khiến ai muốn hiểu thế nŕo cũng được. Nói chung các luật gia, các nhŕ nghięn cứu ở Việt Nam vẫn cňn xem những vấn đề vừa kể thuộc vŕo loại chính trị “nhạy cảm” nęn đă tránh né các vấn đề nŕy vŕ không có công trěnh nghięn cứu lŕm sáng tỏ các khái niệm tręn. Họ vẫn cňn mang mặc cảm sợ sệt mŕ quęn rằng Việt Nam đang ở trong hoŕn cảnh mới, đang hội nhập quốc tế, đang xây dựng Nhŕ nước pháp quyền vŕ đang cần těm sự hoŕ hợp giữa những điều khoản trong Chương Xâm phạm An ninh Quốc gia của BLHS, những quyền công dân trong Hiến pháp vŕ nhân quyền trong điều ước quốc tế. Vě luật pháp không rő rŕng, vě không có cách hiểu chính thống nęn trong xă hội đă có nhiều cách hiểu khác nhau. Công dân nŕo bạo dạn thě cho rằng, měnh có quyền lŕm những gě mŕ pháp luật không cấm, công dân nŕo yếu đuối thě bị hoang mang không dám sử dụng quyền công dân hiến định của měnh một cách đúng mức. Cňn cơ quan thực thi pháp luật lại có cách hiểu rięng, áp dụng co giăn tuỳ tiện, khi bắt giam người nŕy khi lŕm ngơ người kia, lúc đưa ra truy tố lúc lại áp dụng biện pháp hŕnh chánh, khiến cho việc áp dụng luật không được nghięm minh, lŕm cho dân chúng hoang mang vě không biết hŕnh động thế nŕo cho đúng ý Nhŕ nước. Theo tôi, Nhŕ nước pháp quyền Việt Nam không thể để cho một điều luật quan trọng như Đ.88 BLHS bị diễn giải tuỳ tiện như thế được. Do đó các cơ quan nhŕ nước có chức năng lập pháp phải có nhiệm vụ mau chóng lŕm rő các khái niệm của Đ.88 BLHS. Trong khi chờ đợi, Nhŕ nước có thể tạm hoăn áp dụng Điều 88 nŕy dựa tręn nguyęn tắc “Không có tội khi không có luật” (Đ.2 BLHS). Trong phięn xử sơ thẩm, tuy kiểm sát vięn có thú nhận sự thiếu sót của BLHS, nhưng lại đưa ra những diễn giải rięng để kết tội chồng tôi. Do đó tôi xin phản bác như sau.

 

c) Chồng tôi không chống Hiến pháp không chống Nhŕ nước CHXHCNVN

Trong phần trěnh bŕy dưới đây tôi sẽ chủ yếu sử dụng những định nghĩa của Tự điển Bách khoa Toŕn thư Việt Nam (BKTT). Đây lŕ bộ tự điển được xem lŕ chính thống ở Việt Nam, vě nó được soạn thảo bởi một cơ quan chính phủ. Tự điển nŕy đă định nghĩa khái niệm Nhŕ nước một cách rất trừu tượng: “Nhŕ nước lŕ tổ chức chính trị của xă hội, công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xă hội có giai cấp” (BKTT Tập 3, 2003). Trong khi đó, theo Đ.2 HP 1992 thě Nhŕ nước Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam lŕ Nhŕ nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vě nhân dân.(…) Quyền lực nhŕ nước lŕ thống nhất, có sự phân công vŕ phối hợp giữa các cơ quan nhŕ nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hŕnh pháp, tư pháp”. Hiến pháp 1992 qui định rő các cơ quan nhŕ nước lŕ Quốc hội (Đ.83, HP), Chủ tịch nước (Đ.101, HP), Chính phủ (Đ.109, HP), Hội đồng nhân dân (Đ.119, HP), Toŕ án nhân dân vŕ Viện kiểm sát nhân dân (Đ.126, HP). Cần xác định rằng, theo HP 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam tuy lŕ “lực lượng lănh đạo Nhŕ nước xă hội” (Đ.4, HP) nhưng không được xem lŕ cơ quan nhŕ nước. Do đó nếu có một công dân Việt Nam nŕo chống đảng Cộng sản Việt Nam thě sự chống đối nŕy cũng không thể bị đem đồng hoá với việc chống Nhŕ nước.

 

Chống nhŕ nước được hiểu lŕ chống một hay nhiều cơ quan nhŕ nước hiến định kể tręn. “Chống” lŕ lŕm trái lại, ngược lại. Theo nghĩa chính trị, chống lŕ “Chống đối”, nghĩa lŕ chống lại với thái độ đối địch. Vấn đề đầu tięn cần đặt ra ở đây lŕ nếu một công dân Việt Nam có quan điểm (trong đầu) trái với quan điểm của Nhŕ nước Việt Nam thě công dân đó có phạm tội hěnh sự không? Các vị lănh đạo nhŕ nước Việt Nam trả lời lŕ không. Bằng chứng lŕ các vị luôn luôn khẳng định rằng, chính quyền Việt Nam không giam giữ ai vě lý do bất đồng chính kiến hoặc Việt Nam không có tů nhân chính trị mŕ Việt Nam chỉ giam giữ những người vi phạm luật pháp. Vậy câu hỏi tiếp theo lŕ, khi một công dân đă có quan điểm “chống đối” thě hŕnh vi nŕo của công dân nŕy bị xem lŕ phạm tội vŕ hŕnh vi nŕo lŕ hŕnh vi được bảo vệ bởi quyền hiến định về tự do ngôn luận (vŕ như thế không phạm tội)? Vě Đ.88 BLHS xem ý thức chống Nhŕ nước lŕ yếu tố chủ quan của tội phạm cho nęn điều luật nŕy rất dễ bị lạm dụng khi được áp dụng trong thực tế. Luật quốc tế giải quyết vấn đề nŕy một cách đơn giản hơn khi phân biệt rő rŕng rằng các hŕnh vi chống đối bằng bạo lực lŕ hŕnh vi phạm tội hěnh sự vŕ hŕnh vi bŕy tỏ ý kiến chống đối một cách ôn hoŕ lŕ không phạm tội hěnh sự. Để tôn trọng việc gia nhập CƯQT QDSCT, Nhŕ nước Việt Nam phải xem những hŕnh động đấu tranh, phę běnh, chỉnh sửa một cách ôn hoŕ, bằng lời nói hay bằng chữ viết của công dân đối với các cơ quan hoặc nhân vięn nhŕ nước lŕ những hŕnh vi hợp pháp vě được bảo vệ bởi quyền công dân trong Hiến pháp (Đ.50, Đ.69 HP) vŕ quyền tự do ngôn luận trong CƯQT QDSCT. Quyền nŕy cũng đang được bảo vệ khuyến khích ở mọi quốc gia khác tręn thế giới.

 

Chồng tôi đă nhiều lần khẳng định - cả trong phięn xử sơ thẩm - rằng chồng tôi không chống Nhŕ nước CHXHCNVN mŕ chỉ thực hiện các quyền công dân hiến định. Nhưng toŕ sơ thẩm vẫn cứ dựa vŕo những suy đoán hời hợt để kết luận rằng chồng tôi chống nhŕ nước. Toŕ sơ thẩm đă đưa ra 3 lý do để kết tội chồng tôi chống Nhŕ nước: vě chồng tôi chống Hiến pháp, vě có lięn lạc với những người chống Nhŕ nước vŕ vě lŕ cảm těnh vięn hoặc thŕnh vięn của các tổ chức chống nhŕ nước. Cả 3 lý do nŕy đều không vững.

 

Nếu xét kỹ thě lập luận của toŕ sơ thẩm nhằm chứng minh rằng chồng tôi chống Hiến pháp 1992 đă dựa tręn một tiền đề sai. Tôi khẳng định rằng, chồng tôi không chống mŕ cňn thường có hŕnh vi bảo vệ tinh thần của Hiến pháp 1992, đặc biệt tinh thần tôn trọng quyền công dân trong hiến pháp nŕy. Trong bŕi viết “Quyền Tự do Thŕnh lập đảng ở Việt Nam” được toŕ xem lŕ một chứng cớ tięu biểu, chồng tôi nhận xét rất chính xác rằng, Hiến pháp 1992 không có điều khoản nŕo ngăn cấm việc thŕnh lập các chính đảng khác bęn cạnh đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó - dưới cái nhěn của một luật gia - chồng tôi cho rằng công dân Việt Nam có quyền thŕnh lập chính đảng. Chồng tôi đă áp dụng nghięm túc một nguyęn tắc chính yếu của Nhŕ nước pháp quyền, đó lŕ nguyęn tắc “người dân có quyền lŕm mọi điều mŕ pháp luật không cấm” (BKTT, sđd). Theo BKTT, “Nguyęn tắc nŕy thể hiện nội dung dân chủ của nhŕ nước, phát huy mọi sáng tạo của các chủ thể phục vụ lợi ích của xă hội, của Nhŕ nước vŕ của công dân”. Tręn thực tế, Hiến pháp 1992 không cňn qui định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lŕ lực lượng duy nhất lănh đạo Nhŕ nước vŕ xă hội nữa. Đây lŕ một thay đổi lớn vě Hiến pháp 1980 cňn qui định rằng Đảng cộng sản Việt Nam lŕ “lực lượng duy nhất lănh đạo Nhŕ nước, lănh đạo xă hội” (Điều 4, HP1980). Vŕo thời điểm năm 1980, tręn chính trường Việt Nam, ngoŕi đảng Cộng sản cňn có thęm hai đảng Dân chủ vŕ đảng Xă hội, vŕ hai đảng nŕy cňn tồn tại đến năm 1988. Như vậy trong 8 năm thực thi Hiến pháp 1980 với một qui định rő rŕng về sự lănh đạo duy nhất của đảng Cộng sản, Nhŕ nước Việt Nam cũng không xem đảng Dân chủ vŕ đảng Xă hội lŕ những đảng bất hợp pháp. Xin nhấn mạnh rằng, hai chính đảng nŕy được thŕnh lập vŕo các năm 1944, 1946 vŕ đă tự ý giải thể vŕo năm 1988 chứ không phải bị chính quyền giải tán hay cấm hoạt động. Ngŕy nay, khi Điều 4 Hiến pháp 1992 đă bỏ đi chữ “duy nhất” trong cụm từ “lănh đạo duy nhất” của Điều 4 Hiến pháp 1980, thě mọi suy diễn về sự duy nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tręn chính trường Việt Nam vŕ từ đó cho rằng hoạt động của các đảng phái khác lŕ bất hợp pháp đều không có cơ sở lý luận vŕ thực tế vững chắc. Vě đă důng một tiền đề sai về tính chất “duy nhất” (“Đảng Cộng sản Việt Nam lŕ Đảng duy nhất lănh đạo Cách mạng Việt Nam”) cho nęn toŕ sơ thẩm đă lięn tiếp kết luận sai khi cho rằng “mọi đảng phái, hoạt động (chép theo đúng nguyęn bản, tôi ghi chú) đều lŕ vi phạm, đều lŕ bất hợp pháp“ vŕ “mọi hŕnh vi phę phán Đảng Cộng sản … lŕ vi phạm nghięm trọng Hiến pháp” (BAST, tr. 6). Bản án đă dựa tręn lập luận sai nŕy nęn đă kết án chồng tôi một cách phi lý về tội chống Nhŕ nước.

 

Viện Kiểm sát Nhân dân Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă tiếp nhận thiếu suy xét những suy đoán hŕm hồ của cơ quan an ninh điều tra. Toŕ sơ thẩm đă dựa vŕo sự kiện lŕ chồng tôi có lięn lạc với các Việt kiều hải ngoại như các ông Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đěnh Thắng vŕ Trần Ngọc Thŕnh để kết luận rằng, chồng tôi chống Nhŕ nước (BAST, tr. 6). Cả bản cáo trạng lẫn bản án đă có kết luận vơ đũa rằng, họ lŕ “những phần tử người Việt Nam lưu vong ở nước ngoŕi có ý thức chống đối Nhŕ nước ta quyết liệt” (BAST, tr. 6). Nhưng bản án sơ thẩm không dẫn chứng được rằng, trong số những người nęu tręn có người nŕo đă lŕm gě để bị toŕ xem lŕ “phần tử có ý thức chống đối Nhŕ nước ta quyết liệt”. Những người kể tręn lŕ những nhân vật hoạt động công khai trong nhiều lănh vực khác nhau ở nước ngoŕi trong đó có hai người lŕm việc trong những tổ chức phi chính phủ quốc tế. Toŕ đă không nghięn cứu kỹ về họ nęn đă viết sai cả tęn họ cũng như tęn của tổ chức của họ. Một người tęn Vũ Quốc Dụng vŕ đang lŕ Trưởng ban Á châu của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế (International Society for Human Rights, ISHR) chứ không phải lŕ Vũ Đức Dụng của Mạng lưới Nhân quyền Quốc tế. Cái tęn “Mạng lưới Nhân quyền Quốc tế” thoát thai từ định kiến sai lầm rằng “Vũ Quốc Dụng lŕ người cầm đầu Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam ở Mỹ” (báo An ninh Thế giới online ngŕy 22.4.2007 vŕ nhiều báo khác). Người kia, Tiến sĩ Nguyễn Đěnh Thắng lŕ Giám đốc Điều hŕnh của Uỷ ban Cứu Người Vượt Biển (Boat People SOS) chứ không phải lŕ “người cầm đầu Uỷ ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt Nam ở Mỹ”. Chữ cầm đầu důng trong câu nŕy cố ý gây cảm tưởng rằng uỷ ban nŕy lŕ một tổ chức bất hợp pháp. Tręn thực tế hai tổ chức phi chính phủ nŕy đă hoạt động uy tín lâu năm tại quốc gia sở tại mŕ họ đăng ký tổ chức cũng như tại nhiều quốc gia khác. Cho đến nay không có bằng chứng nŕo cho thấy rằng các tổ chức nŕy chủ trương hay có hoạt động chống đối bất cứ một nhŕ nước cá biệt nŕo. Ngoŕi ra, tổ chức ISHR đă được Lięn Hiệp Quốc cấp cho Quy chế Tham Vấn (Consultative Status) nęn không thể vượt ra ngoŕi phạm vi của Hiến chương LHQ để hoạt động lật đổ chính quyền của một quốc gia thŕnh vięn của LHQ được. Do đó kết luận rằng, chồng tôi có ý định cůng với những người nŕy – mŕ không xác định cụ thể lŕ ai - “thŕnh lập một số tổ chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại nước Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam” (BAST, tr. 6) lŕ một cáo buộc hoŕn toŕn vô căn cứ vŕ phi thực tế.

 

Bản án cňn cáo buộc chồng tôi lŕ thŕnh vięn của tổ chức “Công đoŕn Độc lập”, “Đảng Thăng tiến” “Khối 8406”, vŕ lŕ cảm těnh vięn của “Đảng Dân chủ 21”. Tại phięn xử, thẩm phán chủ toạ đă không cho chồng tôi vŕ các luật sư bŕo chữa được tranh luận về vấn đề đảng phái mặc dů đây lŕ vấn đề quan trọng, có mục đích qui kết về ý thức chống Nhŕ nước có tổ chức của chồng tôi. Đây lŕ một thiếu sót lớn. Tôi sẽ không xét đến cáo buộc rất yếu lięn quan đến vấn đề “cảm těnh vięn của Đảng Dân chủ 21”. Cáo buộc nŕy rất yếu vě khi chính Nhŕ nước chưa truy cứu trách nhiệm pháp lý của các thŕnh vięn lănh đạo của đảng Dân chủ 21 nŕy, nghĩa lŕ chưa xem đảng nŕy lŕ bất hợp pháp, thě chưa thể kết tội một người bị cáo buộc lŕ cảm těnh vięn như chồng tôi . Bản án đă xác định một cách nhập nhằng vŕ cẩu thả rằng, “Bị cáo đă tham gia vŕ ủng hộ tích cực cương lĩnh hoạt động của cái gọi lŕ „Đảng Thăng Tiến Việt Nam“ vŕ „Khối 8406“ của Nguyễn Văn Lý - một tổ chức hoạt động bất hợp pháp tại Việt Nam” (BAST, tr. 6). Viết như thế lŕ sai. Thứ nhất, việc gộp chung Khối 8406 vŕ đảng Thăng Tiến vŕo lŕm một tổ chức lŕ sai, vě ai cũng biết rằng Khối 8406 vŕ Đảng Thăng tiến lŕ 2 thực thể khác nhau. Thực tế đă cho thấy rằng, có nhiều người nằm trong Khối 8406 nhưng không phải lŕ đảng vięn của đảng Thăng Tiến. Thứ nhě, chồng tôi không hề tham gia đảng Thăng tiến mŕ chỉ tham gia Khối 8406. Vậy cáo buộc rằng chồng tôi tham gia đảng Thăng tiến lŕ sai. Khối 8406 gồm những người ký tęn ủng hộ “Tuyęn ngôn Tự do Dân chủ” vŕ không phải lŕ của rięng của linh mục Nguyễn Văn Lý. Cần xác định rằng Khối 8406 không có cương lĩnh vŕ cũng không có chương trěnh lŕm việc thống nhất vě Khối 8406 không phải lŕ một đảng chính trị. Có khi, có những người trong nhóm nŕy có quan điểm hŕnh động khác nhau. Thí dụ, trong vấn đề bầu cử Quốc hội khoá 7, linh mục Nguyễn Văn Lý chủ trương tẩy chay cuộc bầu cử nŕy vŕ đă có nhiều văn bản kęu gọi cho việc nŕy. Trong khi đó ai cũng biết rằng, chồng tôi lŕ người công khai tuyęn bố không tẩy chay bầu cử ủng hộ việc công dân ra ứng cử độc lập. Vậy, việc qui kết chồng tôi ủng hộ tích cực “cương lĩnh hoạt động của Khối 8406”, một cái không hiện hữu, cũng hoŕn toŕn sai.

 

Việc cáo buộc chồng tôi lŕ thŕnh vięn của tổ chức “Công đoŕn Độc lập” cũng dựa tręn cách lập luận cẩu thả tương tự. Thay vě chứng minh bằng cách đưa ra danh sách thŕnh vięn của tổ chức nŕy, toŕ sơ thẩm đă dựa vŕo những dấu hiệu mơ hồ như, “Theo lời khai của nhân chứng Trần Văn Hoŕ khẳng định tháng 9 năm 2006, Đŕi yęu cầu Hoŕ lęn Hŕ Nội để cůng Đŕi sang Trung Quốc gặp người có tęn lŕ Trần Ngọc Thŕnh lŕ Việt kiều ở Ba Lan sang bŕn về thŕnh lập cái gọi lŕ „Tổ chức Công đoŕn" (BAST, tr. 7). Toŕ đă không cho kiểm chứng lời khai nŕy. Sau nŕy nhân chứng Trần Văn Hoŕ đă cho biết rằng, ông ta bị công an tra tấn để mớm cung vŕ ép cung trong thời gian bị giam giữ từ ngŕy 21.9.2006 đến ngŕy 3.10.2006 (lời khai ngŕy 13.7.2007). Do đó tręn nguyęn tắc, các lời khai mŕ công an lấy được của ông Hoŕ trong thời gian nŕy phải bị xem lŕ vô giá trị trước toŕ. Ông Hoŕ cho biết rằng, dů bị ép cung ông đă chỉ khai về những việc lięn quan đến chính měnh. Ông Hoŕ khẳng định, ông không hề khai rằng chồng tôi đă yęu cầu ông ta lęn Hŕ Nội để đi cůng đi với chồng tôi sang Trung quốc. Tręn thực tế, chồng tôi cũng không có dự định đi Trung quốc vŕo ngŕy 21.9.2006 vě đă chuẩn bị đi du lịch Thái Lan vŕo ngŕy 23.9.2007. Nhưng chuyến đi Thái Lan vŕo hôm ấy cũng như chuyến đi sang Ấn Độ được dự định thực hiện vŕo ngŕy 25.10.2006 sau đó đă bất thŕnh. Cơ quan điều tra có thể kiểm chứng một cách dễ dŕng sự kiện chồng tôi bị công an chặn không cho xuất cảnh tại phi trường Nội Bŕi vŕo 2 ngŕy ấy. Cáo buộc chồng tôi lŕ thŕnh vięn của tổ chức Công đoŕn Độc lập lŕ vő đoán do đó vô căn cứ.

 

d) Cần có đánh giá thật chính xác về các vấn đề “tuyęn truyền xuyęn tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” “lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh tŕi liệu chống Nhŕ nước”

Như đă phân tích ở tręn, đối với chồng tôi, tội phạm theo Đ. 88 BLHS không được cấu thŕnh vě thiếu yếu tố chủ quan lŕ động cơ chống Nhŕ nước.

 

Tuy nhięn tôi xin được bŕn thęm về những khái niệm được nęu lęn trong các điểm a c của khoản 1 Đ.88 BLHS vě tôi có cảm tưởng rằng, toŕ sơ thẩm đă có quan niệm rất tuỳ tiện, lŕm cho quyền tự do ngôn luận hiến định bị mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Theo tự điển BKTT (sđd), tuyęn truyền lŕ “hŕnh vi phổ biến một chủ trương, một học thuyết để lŕm chuyển biến thái độ của quần chúng thúc đẩy quần chúng hŕnh động theo một đường lối vŕ nhằm một mục đích nhất định”.

 

Trước hết cần xác định rằng, tuyęn truyền lŕ một từ ngữ được důng rięng trong lănh vực chính trị với một nội hŕm nhất định nęn không thể bị đem ra sử dụng một cách bừa băi được. Cách nói “ông bạn A tuyęn truyền với ông bạn B rằng …” hay “ông bố tuyęn truyền với đứa con rằng …” lŕ lối důng từ bừa băi. Tuy nhięn tuỳ cách nhěn từ các nền văn hoá hoặc thể chế chính trị khác nhau mŕ bản thân từ tuyęn truyền mang nghĩa tięu cực hay tích cực. Trong những nền văn hoá xem trọng nhân phẩm của con người cá nhân ở phương Tây, hŕnh vi tuyęn truyền - với bất kể nội dung tuyęn truyền nŕo - luôn mang nghĩa tięu cực vě bản thân hŕnh vi nŕy đă có chủ ý lčo lái đối tượng về một lối suy nghĩ hoặc hŕnh động mŕ chính đối tượng đó không muốn có. Trong cách hiểu nŕy, tuyęn truyền lŕ nhồi sọ hoặc che lấp khả năng phę phán của đối tượng. Trong khi đó, tręn các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam, tuyęn truyền được sử dụng với nghĩa trung dung. Theo đó, hŕnh vi tuyęn truyền được đánh giá xấu hay tốt lŕ tuỳ vŕo nội dung được tuyęn truyền. Người nŕo tuyęn truyền tốt cho chính sách của Nhŕ nước Việt Nam thě lŕ người tốt, người nŕo tuyęn truyền chống đối nó thě bị xem lŕ phạm pháp. Nhưng dů hiểu thế nŕo, hŕnh vi tuyęn truyền cũng có một số đặc điểm chung khiến người ta không thể lầm lẫn nó với các hŕnh vi truyền thông khác.

 

Về mặt nội dung, những điều được đem ra tuyęn truyền phải xuất phát từ một học thuyết hoặc chủ trương, tức lŕ tập hợp những suy tư có hệ thống lớp lang. Không ai gọi sự bŕy tỏ những ý nghĩ vụn vặt, nông cạn hay ngẫu hứng lŕ tuyęn truyền. Hiện nay cộng đồng nhân loại có chung quan điểm chống lại một số chủ trương như chủ trương diệt chủng, chống nhân loại, chống hoŕ běnh, kỳ thị chủng tộc, khủng bố. Do đó mọi hŕnh vi tuyęn truyền cho chúng vŕ thực hiện chúng cũng bị cấm. Thông thường, muốn cấm một đề tŕi chính trị, các Nhŕ nước pháp quyền phải đưa ra luật để định nghĩa rő rŕng về đề tŕi bị cấm đó. Luật pháp cũng sẽ phải ấn định thật rő những phương tiện nŕo bị cấm důng để tuyęn truyền cho đề tŕi nŕy. Thí dụ có thể chỉ cấm důng tŕi liệu, phim ảnh hoặc dấu hiệu nhưng không cấm lời nói. Như vậy không phải bất cứ một hŕnh vi nŕo lięn quan đến một đề tŕi bị cấm tuyęn truyền thě cũng đương nhięn bị cấm. Luật pháp nhiều nước cňn nęu rő cả các trường hợp ngoại lệ, thí dụ qui định rő việc cho phép sử dụng những phương tiện tuyęn truyền - chẳng hạn như tŕi liệu, phim ảnh - cho những đề tŕi bị cấm khi chúng được důng trong mục đích giải thích, giáo dục quần chúng, nghệ thuật, nghięn cứu, tường thuật về lịch sử,…Thí dụ trong một bŕi nghięn cứu về lịch sử chủ nghĩa Apartheid thě được sử dụng những hěnh ảnh, trích dẫn lấy từ những tŕi liệu về chủ nghĩa kỳ thị người da đen ở Nam Phi.

 

Về mặt hěnh thức, người tuyęn truyền luôn luôn těm cách đưa ra thông tin một cách thięn vị để dễ lčo lái đối tượng. Những thông tin nŕy không nhất thiết phải sai lạc. Chúng có thể đúng ở một mặt nŕo đó nhưng nhất định không thể hiện vấn đề một cách trọn vẹn vŕ đầy đủ. Ngoŕi ra, để dễ kích động quần chúng, người tuyęn truyền thường důng cách trěnh bŕy giản lược, có khuynh hướng đánh động vŕo những cảm xúc hơn lŕ khơi dậy sự suy xét của đối tượng. Phương tiện tuyęn truyền lŕ tờ rơi, bích chương, phim ảnh, báo chí, truyền hěnh, radio vŕ các phương tiện truyền thông đại chúng khác. Để thực hiện hiệu quả việc tuyęn truyền, chủ thể tuyęn truyền đặt ra một kế hoạch quy mô để lập đi lập lại vấn đề một cách có hệ thống tręn các phương tiện truyền thông.

 

Nếu thiếu một hay nhiều đặc điểm về nội dung, phương thức thực hiện cả về sự qui mô nęu tręn thě một hŕnh vi sẽ không cňn được gọi lŕ tuyęn truyền nữa. Thí dụ, nếu thiếu đặc điểm thięn vị vŕ đánh động cảm tính thě phương cách trěnh bŕy sẽ có thể được gọi lŕ một bŕi thuyết trěnh khoa học, bŕi nghięn cứu hay lý luận học thuật. Nếu thiếu tính chất hệ thống thě người ta gọi lŕ lời phát biểu ngẫu hứng hay ý kiến rięng. Nếu (trong lănh vực kinh tế) có một món hŕng được trěnh bŕy lập đi lập lại nhiều lần tręn bích chương dán tręn đường phố thě người ta có thể gọi đó lŕ quảng cáo. Trong lănh vực giáo dục vŕ tôn giáo người ta důng chữ truyền bá hay truyền giáo. Nếu không có sự qui mô về nội dung hěnh thức, thí dụ như trong trường hợp của một người phát biểu ngẫu hứng về một đề tŕi thời sự trước vŕi người bạn trong một buổi gặp gỡ rięng thân mật, thě một hŕnh vi cũng không thể gọi lŕ tuyęn truyền. Cả sự gộp chung tất cả những phát biểu rời rạc ấy cũng không thể gọi lŕ tuyęn truyền.

 

Chủ thể của hŕnh vi tuyęn truyền có thể lŕ một chính quyền, một tổ chức hay một chính đảng. Lịch sử ngŕy nay cňn nhắc đến những chủ thể tuyęn truyền nổi tiếng như nhŕ nước Lięn Xô, Đức thời Quốc Xă, Cộng hoŕ Dân chủ Đức. Tręn thực tế, nếu xét về mặt hiệu quả, tầm mức quy mô vŕ tầm mức ảnh hưởng, cũng chỉ có một nhŕ nước mới có khả năng tuyęn truyền một cách hữu hiệu vě chỉ có nhŕ nước mới có đủ phương tiện để phổ biến chủ trương hoặc học thuyết một cách có hệ thống, trong thời gian lâu dŕi, bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, đến đông đảo quần chúng để lŕm chuyển biến thái độ của quần chúng vŕ thúc đẩy quần chúng hŕnh động theo một đường lối nhất định. Để tuyęn truyền, Nhŕ nước Việt Nam đă sử dụng một bộ máy khổng lồ gồm khoảng 700 cơ quan truyền thông lŕm việc có qui củ dưới sự lănh đạo rất chặt chẽ của các cơ quan văn hoá, thông tin vŕ tư tưởng. Để tuyęn truyền cho một chính sách hoặc chủ trương, các cơ quan nhŕ nước Việt Nam thường cho phổ biến hẳn một kế hoạch về tuyęn truyền trong đó ấn định rő mục đích, yęu cầu, nội dung, hěnh thức, phương tiện thực hiện bộ phận chỉ đạo. Trước ưu thế ấy, một cá nhân ở Việt Nam khó có thể lŕm được công việc tuyęn truyền hoặc phản tuyęn truyền cho có kết quả.

 

Theo tôi, các cơ quan điều tra đă thổi phồng quá đáng về qui mô cũng như tầm ảnh hưởng của các hoạt động của chồng tôi khi cho rằng, chồng tôi tuyęn truyền chống chính quyền. Khi xem xét vụ việc của chồng tôi, các cơ quan nŕy đă không áp dụng cůng một tięu chuẩn đánh giá như đối với các cơ quan Nhŕ nước. Cơ quan điều tra không chứng minh chồng tôi đă có kế hoạch tuyęn truyền cho học thuyết nŕo, với mục đích, yęu cầu, nội dung, hěnh thức, phương tiện hoạt động vŕ bộ phận chỉ đạo ra sao. Trong phięn xử sơ thẩm, danh từ tuyęn truyền đă bị hiểu đơn giản lŕ hŕnh vi nói hay viết một điều gě đó cho người khác nghe một vŕi lần. Nếu hiểu tuyęn truyền theo nghĩa đó thě bất cứ ai trao đổi điều gě với người khác cũng có thể bị xem lŕ phạm pháp nếu công an cho rằng điều đó có mục đích chống Nhŕ nước. Hiểu theo nghĩa đó thě bất cứ lời phát biểu bất măn nŕo dů ở trong quán nhậu hay phạm vi gia đěnh đều lŕ hŕnh vi phạm pháp. Với cách hiểu như thế, số người vi phạm pháp luật ở Việt Nam sẽ rất lớn . Hậu quả lŕ các cơ quan thi hŕnh luật sẽ xử lý không xuể các trường hợp phạm tội. Việc phải nhắm mắt lŕm ngơ đối với số đông vŕ chỉ xử lý chọn lọc một số trường hợp đă đẻ ra těnh trạng áp dụng luật một cách tuỳ tiện hoặc độc đoán. Nếu như vậy thě Đ. 88 BLHS nŕy – ít nhất trong phięn bản hiện nay – đă không khả thi nữa. Khi thấy có một điều luật bị vô hiệu hoá như vậy thě tręn nguyęn tắc cơ quan lŕm luật Việt Nam cần phải xét đến việc sửa đổi điều luật đó như thế nŕo đế việc áp dụng được thực hiện nghięm minh vŕ tạo niềm tin hơn vŕo công lý pháp quyền.

 

Về mặt hěnh thức, những điều mŕ chồng tôi đă lŕm không có qui mô của hŕnh vi tuyęn truyền, nếu hiểu từ ngữ nŕy theo đúng nghĩa của nó. Chồng tôi chỉ mới gặp có một lần cả 3 người sinh vięn Hŕ Nam, trong đó có một người đă gặp 3 lần, mỗi lần từ 30 đến 90 phút, trong đó nội dung trao đổi luôn bị thay đổi, bao gồm nhiều lănh vực khác nhau từ hỏi thăm cá nhân, tư vấn pháp lý, các vấn đề triết học, nhân quyền vŕ thời sự. Toŕ dẫn chứng rằng, chồng tôi đă viết 2 bŕi “Quyền tự do thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” vŕ gửi đăng tręn đŕi BBC ở Anh Quốc. Nhưng 2 bŕi nŕy không mang nội dung chống Nhŕ nước, như tôi đă phân tích trong vấn đề Đảng vŕ Hiến pháp ở tręn. Những bŕi nŕy, rő rŕng nhất lŕ bŕi thứ 2, mang tính cách đóng góp cho một cuộc thảo luận công khai tręn một trang web truyền thông vŕ không mang tính tuyęn truyền. Như đă đề cập ở tręn các nhân vięn của chồng tôi đều khai rằng, họ không hoạt động tuyęn truyền vŕ không bị chồng tôi lôi kéo vŕo các hoạt động nŕy. Ông Phạm Văn Trội cũng khai rằng, ông tự ý těm đến chồng tôi để nhờ tư vấn về nhân quyền pháp luật chứ không phải để hoạt động tuyęn truyền. Tất cả những người nŕy đều có trěnh độ đại học nęn biết rő điều họ đă lŕm.

 

Về mặt nội dung, bản án ghi rằng, chồng tôi đă viết một số bŕi trả lời phỏng vấn tręn một vŕi trang internet vŕ kết luận chung chung rằng, những điều chồng tôi nói  hoặc viết lŕ “sai sự thật, bóp méo, xuyęn tạc về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích động nói xấu chế độ xă hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, kęu gọi thay đổi chế độ, v.v…” (BAST, tr. 7). Toŕ sơ thẩm không vạch được ra những điều cụ thể nŕo do chồng tôi trực tiếp viết hoặc nói ra mŕ bị toŕ xem lŕ “xuyęn tạc chính quyền nhân dân”. Theo BKTT (sđd), xuyęn tạc lŕ “trěnh bŕy sai sự thật với dụng ý xấu”, cňn chính quyền lŕ “bộ máy điều hŕnh, quản lí công việc của nhŕ nước”. Như vậy, nếu điều được trěnh bŕy lŕ đúng sự thật thě đó không phải lŕ xuyęn tạc. Ngay cả khi điều được trěnh bŕy đúng sự thật ấy có nhằm phę phán chính quyền thě hŕnh vi nŕy cũng không nằm trong phạm vi truy tố của điểm a Khoản 1 của Đ.88 BLHS vě điều nŕy chỉ qui định về việc xuyęn tạc. Trong lănh vực nhân quyền, tôi có thể khẳng định rằng, những điều mŕ chồng tôi từng phát biểu đều có cơ sở thực tế, có chứng cứ, có nhân chứng nęn không thể sai sự thật. Chồng tôi vốn biết rằng, nhân quyền lŕ lănh vực mŕ chính quyền xem lŕ nhạy cảm nęn đă lŕm việc rất cẩn thận vŕ trung thực, không bao giờ dám phóng đại hoặc vu cáo. Nếu toŕ sơ thẩm mŕ để cho chồng tôi tranh luận về đề tŕi nŕy thě chắc chắn toŕ đă không thể kết luận hŕm hồ như thế. Tương tự, vě toŕ sơ thẩm không nęu được chứng cứ cụ thể về việc chồng tôi “phỉ báng chính quyền” nęn lời cáo buộc nŕy cũng không đứng vững. Phỉ báng lŕ “chę bai, nói xấu” (sđd) vŕ thường tuỳ thuộc vŕo quan điểm cá nhân. Theo tôi, đối với bất cứ việc lŕm nŕo cũng có người khen kẻ chę. Cho nęn đňi hỏi không có lời chę lŕ một đňi hỏi không thực tế. Toŕ đă dẫn chứng rằng, chồng tôi “nói xấu chế độ xă hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam” trong khi vấn đề nŕy lại hoŕn toŕn nằm ngoŕi phạm vi truy tố của Đ. 88 BLHS 1999. Tôi thiết nghĩ toŕ sơ thẩm đă không phân biệt rạch rňi chính quyền với chế độ XHCN vŕ Đảng CSVN. Cần nói thęm rằng, chỉ có BLHS của năm 1992 mới có tội danh “Tuyęn truyền chống chế độ XHCN” (Đ. 82) mŕ thôi. BLHS 1999 đă bỏ điều nŕy. Rięng cá nhân tôi cňn cho rằng, những người đứng ra gánh vách việc nước – dů ở bất cứ nước nŕo - cũng cần phải chấp nhận một mức độ bị phę phán cao hơn người thường vě có như vậy họ mới nhạy bén đón nhận những bức xúc của nhân dân vŕ từ đó có thể lŕm tốt hơn công việc mŕ nhân dân giao phó cho họ được.

 

Chồng tôi lŕ một luật sư nhân quyền. Để giúp thân chủ đňi hỏi quyền lợi chính đáng hợp pháp, chồng tôi có quyền vŕ có trách nhiệm nâng cao sự hiểu biết của měnh bằng cách nghięn cứu các luồng tư tưởng vŕ các quan điểm tręn các lĩnh vực khác nhau của xă hội. Luật khoa học vŕ công nghệ cho biết: “Nghięn cứu khoa học lŕ hoạt động phát hiện, těm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhięn, xă hội vŕ tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vŕo thực tiễn” (Đ.2, Luật khoa học vŕ công nghệ). Toŕ sơ thẩm đă kết án chồng tôi vě tội “tŕng trữ, lưu hŕnh tŕi liệu chống Nhŕ nước”. Theo tôi, vě các nhŕ lŕm luật Việt Nam chưa lŕm rő được các khái niệm “tŕng trữ vŕ lưu hŕnh” trong thời đại mới nęn họ đă để cho các qui định nŕy của Đ.88 BLHS đục ruỗng nội dung của các quyền hiến định về dân sự của công dân như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền nghięn cứu khoa học vŕ quyền được tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước. Tôi cho rằng, nội dung của Đ.88 BLHS đang có mâu thuẫn trầm trọng với nội hŕm của quyền tự do nghięn cứu vŕ sáng tạo (Đ.51, Bộ luật Dân sự 2005) vŕ chức năng xă hội của luật sư (Đ.3, Luật Luật sư 2006), trong đó chức năng xă hội của luật sư lŕ “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế vŕ xây dựng xă hội công bằng, dân chủ, văn minh” . Ở đây rő rŕng các nhŕ lŕm luật Việt Nam cần cấp tốc điều chỉnh các qui định khác nhau để bảo đảm tính nhất quán của các quyền hiến định đối với các bộ luật con.

 

Để kết tội “lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh” của Đ.88 BLHS, toŕ đă sử dụng 121 đầu tŕi liệu thu giữ được ở nhŕ hoặc văn phňng của chồng tôi. Vợ chồng chúng tôi hiện không thể xác nhận có phải tất cả 121 tŕi liệu nŕy lŕ của chúng tôi hay không. Cá nhân tôi đă nhiều lần khiếu nại để xin công an gửi cho tôi bięn bản thu giữ đồ vật của chúng tôi nhưng vẫn chưa được các cơ quan công an vŕ giám sát trả lời. Toŕ đă không phân loại tính chất vŕ phân tích nội dung của 121 tŕi liệu nŕy nęn tôi giả thiết rằng chỉ có một số tŕi liệu trong số nŕy bị toŕ xem lŕ có “vấn đề” vŕ được liệt kę trong bản án sơ thẩm. Chồng tôi thừa nhận có viết 2 bŕi “Quyền tự do thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” mŕ toŕ cho rằng “có nội dung bôi nhọ, hạ thấp vai trň lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng trong điều kiện hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực để lănh đạo cách mạng nęn cần phải có một đảng khác thay thế hoặc phải đa nguyęn, đa đảng mới đưa đất nước thoát khỏi těnh trạng nghčo đói” (BAST, tr. 4 vŕ 5). Như đă xác định ở phần 2, việc viết hai bŕi nŕy hoŕn toŕn nằm trong phạm vi của quyền tự do ngôn luận của chồng tôi lŕ điều được Hiến pháp 1992 vŕ Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự vŕ Chính trị bảo vệ. Ngoŕi ra theo phân tích ở tręn, toŕ sơ thẩm cũng đă không đưa đủ cơ sở lý luận vŕ thực tế để qui kết 2 bŕi nŕy có tính cách chống Nhŕ nước. Cách důng từ như “bôi nhọ, hạ thấp vai trň lănh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam” cho thấy toŕ đă těm cách áp đặt quan điểm chủ quan của měnh vŕ đi ra ngoŕi phạm vi truy tố của Đ. 88 BLHS. Ngoŕi ra bản án sơ thẩm đă kết luận rằng chồng tôi lŕ “người trực tiếp soạn thảo ‘Điều lệ Đảng Dân chủ’ … của Hoŕng Minh Chính” (BAST, tr. 6) mặc dů trong phięn xử, toŕ đă không těm đủ chứng cứ để buộc tội chồng tôi về điểm nŕy. Dư luận xă hội hiện đang đŕm tiếu rất nhiều về việc Nhŕ nước đang lŕm chuyện ngược ngạo lŕ khi chưa có biện pháp xử lý đối với đảng Dân chủ 21 mŕ đă đi buộc tội chồng tôi về việc có lięn quan đến đảng nŕy. Do đó cáo buộc chồng tôi “lŕm ra tŕi liệu chống Nhŕ nước” lŕ vô căn cứ.

 

Tŕng trữ lŕ việc cố ý “cất giấu cẩn thận, không muốn cho ai biết” (BKTT, sđd). Ở đây, các tŕi liệu thu được tại văn phňng cũng như nhŕ rięng của chồng tôi lŕ những tŕi liệu được chồng tôi sử dụng lŕm tŕi liệu nghięn cứu nęn chồng tôi không có ý định che giấu chúng. Các nhân vięn công an theo dői chồng tôi trong những tháng qua có thể xác nhận rằng cửa của văn phňng luật sư Thięn Ân lúc nŕo cũng rộng mở cho mọi người ra vŕo vŕ các máy tính ở đó cũng đă để cho nhiều người sử dụng chung cho nęn cáo buộc chồng tôi bí mật cất giấu tŕi liệu lŕ một cáo buộc phi thực tế. Khi công an đến khám xét văn phňng cũng như nhŕ rięng của chồng tôi, các tŕi liệu nŕy đang ở trong 5 máy tính hoặc được để tręn các giá sách vŕ trong tủ tŕi liệu cůng với các tŕi liệu nghięn cứu về pháp luật Việt Nam vŕ pháp luật quốc tế cũng như các hồ sơ của khách hŕng. Tính chất sưu tầm để nghięn cứu thể hiện rő ở 2 điểm. Thứ nhất, những tŕi liệu nŕy thể hiện nhiều quan điểm khác nhau, có bęnh có chống, nằm lẫn lộn với những tác phẩm nghięn cứu vŕ những tŕi liệu pháp lý. Thứ hai, chồng tôi không nhất thiết phải có cůng quan điểm với những tŕi liệu mŕ měnh đang có. Thí dụ chồng tôi không chống bầu cử trong khi vẫn giữ những tŕi liệu kęu gọi tẩy chay bầu cử của linh mục Lý. Để nghięn cứu vŕ těm hiểu thấu đáo một vấn đề, chồng tôi không thể chỉ nghe người khác nói không thôi hoặc chỉ đọc những tŕi liệu được viết theo cůng một quan điểm. Khi biết chồng tôi quan tâm đến một số vấn đề, nhiều người đă đem đến trao tận tay hoặc gửi lại văn phňng một số tŕi liệu bị toŕ đánh giá lŕ “cực kỳ phản động, bóp méo, xuyęn tạc sự thật” như “Đảng cộng sản Việt Nam lŕ nghiệp chướng”, “Nhật ký Dân oan” hay tŕi liệu của Quốc-Quốc. Trong phięn xử sơ thẩm, chồng tôi trung thực nhận có giữ những tŕi liệu nŕy mặc dů có nhiều tŕi liệu chồng tôi không hay biết lŕ có trong văn phňng hoặc chưa đọc qua. Điều nŕy thể hiện rằng, chồng tôi không có ý giấu diếm – ngay cả đối với những tŕi liệu bị cáo buộc nặng nề nhất – vě tin vŕo quyền tự do ngôn luận, quyền tự do nghięn cứu hiến định của měnh. Việc cáo buộc chồng tôi tŕng trữ đă vi phạm các quyền tự do hiến định nŕy của chồng tôi.

 

Tôi xin nói thęm về khái niệm “tŕng trữ tŕi liệu trong máy tính. Trong thời đại nối mạng toŕn cầu ngŕy nay, khái niệm nŕy đă bị lỗi thời. Hŕng ngŕy, dů muốn hay không, người sử dụng email đă phải nhận hŕng trăm tŕi liệu từ những người quen lẫn người lạ. Nếu có sięng năng mŕ huỷ đi các tŕi liệu nŕy thě một người sử dụng máy tính běnh thường cũng không thể xoá sạch vết tích tręn máy tính được. Thông thường, ít ai có thể quản lý hữu hiệu được khối lượng email nhận được hŕng ngŕy. Ngoŕi ra mạng internet toŕn cầu cňn lŕ một kho lưu trữ thông tin khổng lồ. Bất cứ lúc nŕo người sử dụng cũng có thể lęn internet để lấy thông tin cần thiết, hoặc có thể lưu trữ thông tin rięng tręn internet, mŕ không cần phải “tŕng trữ” rięng tręn máy tính cá nhân nữa. Do đó trong thời đại internet hiện nay, việc ấn định bięn giới địa lý trong việc lưu trữ tŕi liệu lŕ một hŕnh động trái tự nhięn vŕ không thể thực hiện hữu hiệu được trong thực tế.

 

Trong bản án sơ thẩm không có một chỗ nŕo cáo buộc rő chồng tôi về hŕnh vi “lưu hŕnh các tác phẩm, văn hoá phẩm có nội dung chống phá Nhŕ nước”. Lưu hŕnh lŕ “đưa ra sử dụng rộng răi từ người nŕy, nơi nŕy đến người khác, nơi khác trong xă hội” (BKTT, sđd). Tuy nhięn trong phần xét về tội trạng của chồng tôi ở trong BAST, tôi lại thấy có đoạn ghi: “Các bị cáo đă phát tán các tŕi liệu nŕy tręn các phương tiện thông tin cho các tổ chức phản động người Việt tại nước ngoŕi” (BAST, tr. 5). Để loại bỏ mọi ngộ nhận, tôi giả thiết rằng toŕ hiểu phát tán lŕ lưu hŕnh. Ngay cả trong giả thiết nŕy, việc cáo buộc đă thiếu hẳn sự chính xác cần thiết. Thay vě liệt kę cụ thể rằng chồng tôi đă có những hŕnh vi phạm tội gě, bằng phương tiện nŕo vŕ ở đâu thě toŕ lại mô tả sự việc bằng một chuỗi những từ không xác định như “các bị cáo”, “các tŕi liệu”, “các phương tiện thông tin”, “các tổ chức phản động” trong câu nęu tręn. Cũng như ở nhiều chỗ khác trong bản án sơ thẩm, việc vơ đũa sự kiện ở đây đă lŕm vấn đề trở nęn mơ hồ vŕ khó hiểu. Trong ngữ cảnh của bản án, cụm từ “các tŕi liệu nŕy” chắc đă được důng để chỉ 2 tŕi liệu “Quyền tự do thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” đă được liệt kę ngay trong đoạn viết trước đó. Như đă phân tích ở tręn, toŕ không có đủ lý luận để cáo buộc 2 bŕi nŕy có mục đích chống Nhŕ nước. Chồng tôi đă thừa nhận gửi đăng hai bŕi nŕy tręn trang web của (MỘT) đŕi phát thanh BBC. Đŕi BBC lŕ một cơ quan truyền thông hoạt động có uy tín tręn thế giới từ nhiều năm qua vŕ hiện có đại diện chính thức vŕ hợp pháp tại Hŕ Nội. Không ai có thể hŕm hồ nói rằng đŕi BBC lŕ của người Việt ở nước ngoŕi hoặc lŕ phương tiện thông tin của CÁC tổ chức phản động người Việt tại nước ngoŕi. Nhiều nhân vięn cao cấp chính phủ, dân biểu, cán bộ nghięn cứu nước ta đă thường lęn đŕi nŕy để phát biểu, trong số đó có nhiều ý kiến phę phán chính quyền khá mạnh mẽ. Toŕ không có chứng cứ nŕo về việc chồng tôi phát tán 2 tŕi liệu nŕy đến các cơ quan truyền thông khác. Trong thời đại internet, các tờ báo vŕ trang web có thể dễ dŕng sao chép, sử dụng, nhân rộng các thông tin có sẵn ở tręn một trang web khác để lŕm rộng đường dư luận mŕ không cần phải xin phép tác giả. Tóm lại kết luận cho rằng chồng tôi đă thực hiện hŕnh vi lưu hŕnh tác phẩm có nội dung chống phá Nhŕ nước lŕ hoŕn toŕn vô căn cứ.

 

4) Kết luận kiến nghị với toŕ án phúc thẩm

 

Chồng tôi lŕ một người yęu nước. Lŕ một luật sư nhân quyền, chồng tôi đă hết lňng bảo vệ quyền công dân hiến định vŕ đă đấu tranh phę phán những việc lŕm sai trái, vi phạm pháp luật của những nhân vięn vŕ cơ quan nhŕ nước. Tręn thực tế, những đóng góp trong lănh vực tự do tôn giáo của chồng tôi đă giúp Việt Nam cải thiện těnh trạng nhân quyền vŕ nâng cao uy tín với thế giới. Những đóng góp nŕy của chồng tôi cũng giúp cho chính quyền hiểu hơn về những người theo đạo Tin lŕnh vŕ từ đó giúp cho těnh hěnh Việt Nam thęm ổn định.

 

Việc bắt giam xét xử chồng tôi đă không được thực hiện một cách hợp pháp vŕ đúng thủ tục qui định. Cơ quan công an đă điều tra cẩu thả về các việc lŕm của chồng tôi vŕ đưa ra những suy đoán buộc tội hŕm hồ. Viện Kiểm sát Nhân dân vŕ Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă tiếp nhận thiếu suy xét những kết luận sai lầm nŕy để buộc tội vŕ kết án chồng tôi theo Đ.88 BLHS. Vě đă phạm quá nhiều sai sót về thủ tục sẵn có thŕnh kiến với bị cáo nęn phięn toŕ sơ thẩm ngŕy 11.5.2007 đă không těm ra sự thật của vụ án vŕ kết án oan chồng tôi.

 

Chồng tôi đă thực thi có ý thức quyền tự do ngôn luận của měnh. Quyền dân sự của công dân nŕy được bảo vệ bởi Hiến pháp 1992. Quyền hiến định nŕy cũng được bảo vệ một cách vững chắc về pháp lý bởi Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự vŕ Chính trị kể từ khi Nhŕ nước CHXHCNVN ký kết tham gia công ước nŕy vŕo năm 1982 vŕ bởi Luật Ký kết, Gia nhập vŕ Thực hiện Điều ước Quốc tế vŕo năm 2005. Như thế, công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ vŕ trọn vẹn quyền tự do ngôn luận theo qui định của điều 19 của CƯQT QDSCT mŕ không chịu bất cứ một giới hạn luật định nŕo khác. Luật quốc tế xem hŕnh vi bŕy tỏ ý kiến phản đối chính quyền một cách ôn hoŕ lŕ không phải lŕ tội phạm hěnh sự. Như vậy hŕnh động đấu tranh, phę běnh, chỉnh sửa một cách ôn hoŕ, bằng lời nói hay bằng chữ viết của chồng tôi đối với các cơ quan hoặc nhân vięn nhŕ nước cần được xem lŕ những hŕnh vi hợp pháp.

 

Dů đứng tręn quan điểm của luật hěnh sự Việt Nam, những lý luận buộc tội chồng tôi cũng không đứng vững. Để cáo buộc chồng tôi tội chống Nhŕ nước CHXHCNVN, toŕ đă viện dẫn lý do chồng tôi chống Hiến pháp, có lięn lạc với những những người Việt Nam lưu vong có ý thức chống Nhŕ nước quyết liệt vŕ lŕ thŕnh vięn của những tổ chức chống Nhŕ nước CHXHCNVN. Nhưng tất cả các cáo buộc nŕy đều sai vě đă dựa tręn một sự ngộ nhận về tính duy nhất của sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vŕ dựa vŕo những suy luận, vő đoán, gán ghép vô căn cứ vŕ phi thực tế về một số cá nhân vŕ tổ chức ở trong vŕ ngoŕi nước. Vě không chứng minh được rằng chồng tôi có ý thức chống Nhŕ nước – lŕ yếu tố chủ quan của tội phạm – nęn hŕnh vi phạm tội theo Đ.88 BLHS cũng đă không được cấu thŕnh.

 

Ngoŕi ra, như tôi đă phân tích ở tręn, Nhŕ nước cần xét lại toŕn bộ nội dung của Đ.88 BLHS để bảo đảm tính nhất quán với các bộ luật khác, với Hiến pháp vŕ điều ước quốc tế mŕ Việt Nam đă tham gia ký kết. Đ.88 BLHS hiện có những khái niệm rất mơ hồ vŕ bao quát nęn đă tạo cơ hội cho các cơ quan thi hŕnh pháp luật diễn giải sai, tuỳ tiện hay độc đoán khiến cho việc áp dụng luật pháp không cňn nghięm minh nữa. Trong khi chờ đợi sửa đổi vŕ soi sáng điều luật nŕy, tôi có đề nghị Nhŕ nước ngưng thi hŕnh Đ.88 BLHS.

 

Sau khi phân tích lại toŕn bộ vụ án của chồng tôi, luật sư Nguyễn Văn Đŕi, tôi kiến nghị toŕ phúc thẩm những điều sau đây:

 

a)      Huỷ bản án sơ thẩm mang số 153/2007/HSST tuyęn bố đěnh chỉ vụ án theo Đ.251 BLTTHS vě các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm nghięm trọng quá nhiều nguyęn tắc cơ bản của BLTTHS vŕ vě chồng tôi thực sự vô tội theo nguyęn tắc “Không có tội khi không có luật” của Đ.2 BLHS;

b)      Trả tự do ngay cho chồng tôi;

c)      Hoŕn trả cho chúng tôi mọi tŕi sản bị tịch thu;

d)      Phục hồi danh dự cho chồng tôi bằng cách huỷ bỏ quyết định thu hồi thẻ luật sư giấy phép hŕnh nghề của văn phňng luật sư Thięn Ân.

 

_____________________________________

 

Plea of Mrs. Vu Minh Khanh, Wife of Attorney Nguyen Van Dai

To Be Tried in Appeal Court on November 27, 2007

 

My Husband Is a Patriot,

My Husband Is Innocent

 

 

Hanoi, November 14, 2007

 

On May 11, 2007, the Hanoi People’s Court sentenced my husband, attorney Nguyen Van Dai, to five years of imprisonment and four years of house arrest on the charge of “propaganda against the Socialist Republic of Vietnam. Right after my husband’s arrest on March 6, 2007, many media belonging to the Communist Party of Vietnam (CPV) and to the Government have launched a campaign of vilification against my husband in order to project the image of a bad element, a traitor to the Fatherland. They misrepresent the human rights activities of my husband, spreading the propaganda that he “organized the gathering of political and social information, especially in the field of religion, so as to provide foreign countries with fodder which they can use to distort and blemish the image of Vietnam.” (Sai Gon Giai Phong, April 12, 2007)

Motivated by his patriotism, my husband has on many occasions openly criticized the misdeeds and violations of the law perpetrated by government personnel and agencies. It is my belief that my husband’s human rights activities have in actuality helped Vietnam improve its human rights situation and raise its standing with the world. He does not tell untruths. As a human rights lawyer, he has received many reports of violations of religious freedom from various localities. These are reported breakups of religious gatherings, confiscations of the faithful’s property, H’mongs being forced by local authorities to renounce their religion, and beatings of Protestant followers by public security cadres leaving wound traces. My husband has written legal complaints and usually chose the path of quiet exchange with the authorities before bringing out issues to the attention of the public. In a number of instances, it was thanks to his alert bulletins that the central government learned about violations of the law by local officials and subsequently has intervened. In other localities, the situation has improved because it has drawn international attention, thus forcing the central government or local authorities to pay more attention to the matter. It was partly owing to my husband that Vietnam has been able to improve on its religious freedom record. This led the U.S. to remove Vietnam from the CPC (country of particular concern) list in November 2006. It was thanks to people like my husband that the authorities have lessened their suspicion of Protestantism, the so-called “American” and “reactionary” religion, and allowed its followers to carry out normal religious activities. Ever since the middle of last year, when various Protestant house church groups were allowed to carry out normal religious functions, it is clear that happenings leading to a tense situation have noticeably decreased. This has helped to stabilize society. Thus the voices of people like my husband’s are very much needed, even though this is something that has upset a few government officials.

The fact that the government media, the indictment and the findings of the Court of First Instance (generic term for Toa So Tham, the preliminary trial court in Vietnam; hereinafter


 

1

Toa So Tham referred to as the “Court of First Instance”) have unanimously claimed that my husband is a lawyer “who has never spoken on behalf of anyone ever since the opening of his law firm up to the day that he was arrested” is a very malevolent distortion, thus providing the public with a very erroneous image of my husband. This malevolence appears even more obvious when the Court of First Instance sentence asserts that my husband has so admitted at the trial. To rebut, I only need to cite a couple of cases, which everyone can check on. At the very least, my husband has defended Ms. Nguyen Thi Thuy, who was representative of the Vietnamese Assembly of God Church in Viet Tri at the beginning of 2000; he has defended Pastor Nguyen Hong Quang, Secretary-General of the Vietnam Mennonite Church in April 2005; he has also intervened in legal matters involving Pastor Than Van Truong of the Vietnam Baptist General Conference when the latter was kept without a valid reason in the Bien Hoa mental hospital from September 2004 to September 2005. My husband was the legal counsel of the Asset Management Council of the Evangelical Church of Vietnam North and he has counseled pro-bono for a great number of persons.

There is no lack of misinformation like the above in many articles published in the recent past. The spreading of misinformation has created a bad prejudice against my husband, thus giving to the public the impression that he is therefore guilty; it also created an atmosphere favorable to a sentence against him. I am of the belief that the investigative organs, the People’s Procuracy (Vien Kiem Sat Nhan Dan) and the court have done nothing but aimed at seeking a sentence against my husband.

The sentencing of my husband at the trial of first instance in the Hanoi People’s Court (Toa An Nhan Dan) was based on misinterpretations, the result of sloppy and prejudicial work by the prosecutorial organs. Before and during the trial, these organs have severely violated many fundamental principles of the Vietnam Code of Criminal Procedure (Bo Luat To Tung Hinh Su). That is why the court was unable to discover the truth about the matter. Because the trial of my husband has to be seen in a comprehensive way, I am going to contribute ideas towards clarifying a number of issues regarding civil rights in the 1992 Constitution and human rights in the International Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a party. I am also analyzing the charges aimed at my husband’s so-called crime of “propaganda against the SRV” in accordance with Article 88 of the Vietnam Criminal Code (Bo Luat Hinh Su).

1) The sentence in the Court of First Instance needs to be nullified because the prosecutorial organs have severely violated the Constitution and the very fundamentals of the Code of Criminal Procedure.

            a) In the pre-trial period

 

In the very first article of Chapter I of the Code of Criminal Procedure, it is asserted that this code is aimed at forming fair judgment --not prejudicing the innocent-- and protecting the legal interests of citizens. In order to do so, the Code of Criminal Procedure must be built on the fundamental principles as found in Chapter II. But even before my husband was brought


 

2

before the court, the prosecutorial organs have already severely violated the fundamental principles of the Code. Here are some examples.

In principle, my husband is presumed innocent until he is given a court sentence having the power of law. For this reason, all condemnations of my husband by individuals, organizations or governmental organs constitute violations of the right to a presumption of innocence (Article 72, Constitution) and of my husband’s right to have his honor and dignity be respected (Article 71, Constitution). Yet, when they met me right after his arrest, public security (cong an) personnel affirmed right up front that my husband would not escape an imprisonment sentence. Even though the court had yet to try my husband, they already knew that he would be sentenced to jail. They already considered my husband to be guilty and forced him to wear a prisoner’s outfit when they put him on television. The public security also provided State media with information and pictures belonging to the trial case of my husband so that they could launch a campaign of vilification of his integrity and thus violate his dignity. I have written to 17 mass media, requesting that they investigate carefully before they disseminate bad information about my husband, but up until now, I have yet to receive an answer from any of them. The Hanoi Bar Association has based itself on the fact of my husband’s temporary detention to withdraw his membership card and the Ministry of Justice has based on this decision to cancel the license of the Thien An Law Office. All these judiciary organs did not allow my husband an opportunity to defend himself and they did not even wait for the valid sentencing of a court. In this way, the mass media, the public security’s investigative organs, the People’s Procuracy, the Hanoi Bar Association and the Ministry of Justice have violated the following fundamental procedural principles, to wit:

            “No one is considered guilty without a court sentence having the power of law.” (Article 9, Code of Criminal Procedure)

            “To protect the citizen’s life, health, honor, dignity and assets.” (Article 7, Code of Criminal Procedure)

 

The prosecutorial organs did not have a fair-minded attitude as required by the law. The fair-mindedness of prosecutorial organs and individuals is shown in the way they correctly, completely and objectively realize their mission in accordance with the law during the prosecutorial process. I noticed many indications of lacking of fair-mindedness on the part of the Hanoi People’s Procuracy, and that of the Hanoi People’s Court. From the day they received the file on my husband, on April 19, 2007, to the day they completed the indictment on April 23, 2007, the Hanoi People’s Procuracy needed just four (04) days to complete all the tasks as specified in Article 23 of the Code of Criminal Procedure. The People’s Procuracy did not fully use the 30 days limit envisioned in the Code of Criminal Procedure for extremely serious cases like the one involving my husband (Article 166, Code of Criminal Procedure). In my view, four days are not sufficient for the People’s Procuracy to closely inspect the legality of prosecutorial procedures in a case involving a relatively large amount of evidence (6 personal computers, 1 laptop, 2 hard disks, and 121 documents). When they received two (02) letters of complaint from me concerning illegal obstacles to my securing an attorney, the People’s Procuracy should have made necessary adjustments right away. The Hanoi People’s Procuracy not only did not study my letters of complaint, incomprehensibly but it also hastily went ahead with producing an indictment based on assertions without substance. And the trial that followed used these assertions to draw up defective conclusions.


 

3

The People’s Procuracy did such a hasty job that it even forgot to number and date the indictment --this alone should invalidate the indictment for having violated the stipulations of Article 167 of the Code of Criminal Procedure.

The following, in particular, makes me suspect even the independence and fair-mindedness of the court. On April 19, 2007, the French press agency AFP, on the basis of a source inside the Hanoi People’s Court, very accurately announced that my husband would be tried on May 11, 2007. It should be noted that April 19, 2007 was the very day that the Hanoi Public Security Office transferred my husband’s case file to the Hanoi People’s Procuracy. This means that as soon as the police completed its investigations, the Hanoi People’s Court already decided about the trial date for my husband—even though the People’s Procuracy has yet to complete its indictment and the Court has yet to receive the file from the latter. This also clearly shows that the Court was only interested in having him tried and that no considerations were given to other possible solutions as stipulated in Article 176 of the Code of Criminal Procedure, e.g. the possibility of reviewing and returning the file to the People’s Procuracy for supplementary investigations or the possibility of even stopping the trial. This suspicion is further reinforced when the newspaper Ha Noi Moi (“New Hanoi”) on April 25, 2007, i.e. only one day after the Hanoi People’s Court officially received my husband’s file from the People’s Procuracy —announced that he would be put on trial on May 11, 2007. I have the impression that from the very start, the organs in charge of prosecuting my husband have assented to ascertain his guilt and have no interest in protecting his freedom or finding out the truth about the matter. It is thus clear that both the Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi People’s Court have gravely violated the fundamental procedural principle of

           “Guaranteeing the unbiased approach of those in charge of the prosecution.” (Article 14, Code of Criminal Procedure)

 

Both the public security police and the People’s Procuracy have deliberately impeded the defense of my husband as they did not allow him to meet with a defense attorney in the period preceding the transfer of his file to the Court. The impeding started with little things like refusal to provide me with the arrest order, the house search order, the office search order, and the copy listing the documents and objects taken by the police, in accordance with Articles 80, 85, 126 and 145 of the Code of Criminal Procedure despite my repeated letters of complaint. Because I am not given these documents both my husband and I do not know what has been taken from us, and for a long time we could not know for sure the reasons for which he has been charged.

Right after my husband was arrested on March 6, 2007, I have on numerous occasions asked that the investigative police allow him to see a defense attorney, but that request was simply not granted. On April 5, 2007, his attorney wrote to the Hanoi Public Security Office (So Cong An Ha Noi) asking that he be acknowledged as my husband’s defense attorney. The public security officer in charge of his case only answered orally “because your husband has been charged with allegedly violating national security codes his attorney cannot participate in the investigation stage.” If that were correct, then according to Article 58 of the Code of Criminal Procedure, it is up to the Chief Procurator of the Hanoi People’s Procuracy to issue that decision. In actuality, I have yet to receive any document from either the Hanoi Public Security Office or the Hanoi People’s Procuracy addressing this question of limitations of my


 

4

husband’s attorney participating in the prosecutorial period of his court case. The question of his defense attorney had been left hung up in the air until his file reached the Court. And because his attorney was not allowed to participate since the beginning of the prosecution process many of my husband’s legal rights have not been protected. Since he did not receive the conclusive report of investigation from the Hanoi Public Security Office (Article 162, Code of Criminal Procedure) or the indictment of the Hanoi People’s Procuracy (Article 166, Code of Criminal Procedure), he had no time to learn of the opinions of the prosecutorial organs on the various facts adduced in the case, the evidence supporting the charges, and the proposed solutions so as to effectively defend my husband.

It was not until May 2, 2007 that my husband’s attorney was provided by the Hanoi People’s Court with an “Attestation of Defense Attorney.” If counted until May 10 inclusive and leaving out the weekend holidays, he had altogether seven (7) working days to prepare for the defense of my husband and attorney Le Thi Cong Nhan. It is clear that this was too short a period for the attorney to complete the study of a large amount of documents involved, to meet with his clients and to collect needed evidence for the defense (Article 58, Code of Criminal Procedure). If this is seen as a complex case in view of the hundreds of articles and reports carried on government media over several weeks, then the defendant clearly has had the “short end of the stick” as compared to the time that the prosecution was given to investigate and prepare the indictment (from February 3, 2007 to April 19, 2007), ten times more than the time given to the defense attorney to prepare his case. In summary, the Hanoi Public Security Office, the Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi People’s Court have violated a basic procedural principle regarding

           “Guaranteeing the defense right of detainees, convicts and defendants” (Article 11, Code of Criminal Procedure)

 

During the time my husband was in detention awaiting trial, I have sent a total of 61 letters of complaint or various proposals, some 24 of which were sent to the functional organs in charge and 37 to the organs in charge of leadership and supervision asking them to respect or intervene so as to protect my husband’s legal rights. Until now I have yet to receive any answer from the supervisory organs concerning my questions about procedural matters. And because these violations have severely limited his right to a defense, on May 4, 2007, I have made an application asking for a postponement of the trial. This application was sent to 16 functional organs but I have yet to receive one response. For this reason, these organs have violated the following fundamental procedural principles:

           “To respect and protect the fundamental rights of the citizens” (Article 4, Code of Criminal Procedure)

           “To guarantee the right to complaint and denunciation in criminal procedure” (Article 31, Code of Criminal Procedure)

           “The supervision by government organs, mass organizations and publicly elected representatives over the prosecutorial organs and individuals” (Article 32, Code of Criminal Procedure)

 

b) In the court trial of first instance


 

5

The court trial of first instance, which took place on May 11, 2007 also severely, violated the basic principles of the Code of Criminal Procedure.

The trial did not reach the standards of a public trial even though there was no announcement that it was to be a behind-closed-doors trial. When I attended the trial I got the impression that those present were a group of people who had been previously selected. Among the participants, for instance, I recognized many familiar faces that I have met in the various public security offices. Immediate family members, acquaintances and friends of the accused have not been able to attend the event. They were stopped at the door on the pretext that they could not produce invitation letters. Each defendant was allowed to have only one immediate family member in the courtroom, but even that person could step into the room only after the trial had begun. The two family members were led to the last row in the courtroom, thus could not hear clearly the proceedings of the court. International observers and reporters were limited in their observation since they were allowed only into an adjacent room to observe the trial through close-circuit TV. The exchanges in the trial were rebroadcast over an intercom. While the words of the presiding judge and the Procuracy person could always be heard clearly throughout the trial, many responses of the lawyers and defendants could not be heard distinctly. This made the participants unable to understand fully the arguments of the defendants and their attorneys, leading to laughter and derision sometimes, which created very heavy pressure on the psychology of the defendants and their attorneys. The presiding judge has not intervened to change this situation. In this way the Hanoi People’s Court has violated a fundamental procedural principle regarding:

           A public trial (Article 18, Code of Criminal Procedure)

 

The assignment of seats in the courtroom also shows a clearly prejudicial disposition. While the two persons from the People’s Procuracy (i.e. prosecutors) were allowed to sit next to each other on a high pedestal, the two defense attorneys were seated far from each other. There was no way that they could exchange anything either between them or with my husband. In the trial the defendants were not given equal access [to the prosecution] since they were not allowed to listen to the witnesses’ testimonies. All the witnesses invited by the presiding judge were the witnesses for the prosecution. The witnesses for the defense were not invited to speak when it came time to cross-examine the witnesses. The presiding judge also did not invite my husband’s attorney to cross-examine the witnesses.

The defendants and their attorneys were not allowed to mention or argue or made a defense on religious grounds or to discuss issues relating political organizations and parties. On the other hand, the prosecutors were allowed to discuss these issues, thus giving the wrong impression that my husband is organizationally involved in anti-State activities.

In the final statement allowed to the defendant, the presiding judge repeatedly interrupted my husband’s remarks despite the fact that the latter had asked that he not be limited in the time of his statement since such a limitation would constitute a violation of Article 220 of the Code of Criminal Procedure.

The trial of first instance has committed an egregious mistake when it did not faithfully record the proceedings as it happened, especially when it related to my husband’s declarations


 

6

before the court. In many instances, the sentence recorded that my husband has admitted to actions that he clearly denied in court, acknowledged only partially or said that he did not remember. This misreporting led to the damaging misapprehension that my husband has admitted his guilt and that the sentence meted out to him was correct. This way, the Hanoi People’s Court has severely violated the following fundamental procedural principles:

           Confirming the veracity of the trial (Article 10, Criminal Procedural Law)

           Guaranteeing equality of access in front of the Court (Article 19, Criminal Procedural Law)

           Guaranteeing the defense right of detainees, convicts and defendants (Article 11, Criminal Procedural Law)

 

In this way, the trial of my husband did not proceed in a fair manner as stipulated by the law. The truth of the case was for that matter not established in an objective, full and comprehensive way because in the procedural process there have been severe violations of the Code of Criminal Procedure. This is because the prosecutorial organs have severely violated too many fundamental principles of the Code of Criminal Procedure. That is why the Court of Appeal (Toa Phuc Tham) should not just simply correct various deficiencies of the trial of first instance; it should instead nullify the entire sentence reached by that lower court.

2) My husband has exercised his civil rights, as specified in the 1992 Constitution of the S.R.Vietnam and guaranteed by the International Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a State party.

According to the 1992 Constitution, citizens are guaranteed such civil rights as the rights to freedom of speech, freedom of the press, the freedom to be informed, freedom of association, as stipulated by the law (Article 69 of the Constitution), the freedom of religion and worship (Article 70), the inviolable rights of their honor and dignity (Article 71), the rights to conduct scientific research and participate in cultural activities (Article 60), the right to discuss the common issues and concerns of the nation (Article 53), and the right to seek redress for grievances (Article 74). In the capacity of an attorney-at-law, my husband, being fully aware of his civil rights, has been resolute in carrying out and defending these constitutional rights because they are the accomplishments earned in Vietnam’s democratization process.

When examining the 1992 Constitution and other Vietnam statutes and legislations, one cannot find the definition regarding the freedom of expression. However, since Vietnam has accessed the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) on September 24, 1982 and has not expressed any reservations at the signing of the Covenant, the definition of the freedom of expression in Article 19 of the ICCPR has been ipso facto affirmed and should be fully carried out and applied to the corresponding civil rights of the 1992 Constitution, such as the freedom of expression, freedom of the press, freedom to be informed, freedom of religion, and the freedom to conduct scientific research and participate in the national discussion of common issues and concerns.

Moreover, the Law on Signing, Accession and Implementation of International Treaties, which the Vietnamese National Assembly has passed on June 14, 2005, clearly states: “Accession


 

7

is a legal act of the National Assembly, the President or the Government expressing the consent of the SRV to be bound by a multilateral international treaty.” (Article 2, Paragraph 10). This law also explicitly gives precedence to the application of regulations of international treaties as stipulated in Article 6: “In the event that Vietnamese legislation conflicts with international treaties, to which Vietnam is a State party, then the regulations of international treaties apply.” Therefore the Vietnamese government has fully agreed to give all Vietnamese citizens the unabridged freedom of expression according to Article 19 of the ICCPR.

Article 19 of the ICCPR stipulates that:

1. Everyone shall have the right to hold opinions without interference.

2. Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of froniers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.

3. The exercise of the rights provided for in Paragraph 2 of this article carries with it special duties and responsibilities. It may therefore be subject to certain restrictions, but these shall only be such as are provided by law and are necessary:

(a) For respect of the rights or reputations of others;

(b) For the protection of national security or of the public, or of public health or morals.

The Human Rights Committee is an organization entrusted by the United Nations (U. N.) to monitor the implementation of the ICCPR in its member states. The Committee has the duty to interpret the overall intent of the Covenant articles. These interpretations will help the member states carry out the Covenant in a more serious manner. The member states are responsible to send periodical reports to the Human Rights Committee with regard to their implementation of the Covenant. In the General Comment (CCPR/C/21/Rev.1; May 19, 1989) the Committee has explained fully Paragraphs 1, 2, and 3 of Article 19 of the ICCPR regarding the freedom of expression as follow (excerpt):

1. Paragraph 1 (Article 19, ICCPR) requires protection of "the right to hold opinions without interference". This is a right to which the Covenant permits no exception or restriction (…)

2. Paragraph 2 requires protection of the right to freedom of expression, which includes not only freedom to "impart information and ideas of all kinds", but also freedom to "seek" and "receive" them, in whatever medium, "either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media" of one's choice (…)

3. (…)

4. Paragraph 3 expressly stresses that the exercise of the right to freedom of expression carries with it special duties and responsibilities and, for this reason certain restrictions on that right are permitted which may relate either to the interests of other persons or to those of the community as a whole. However, when a State party


 

8

imposes certain restrictions on the exercise of freedom of expression, these may not put in jeopardy the right itself. Paragraph 3 lays down conditions and it is only subject to these conditions that restrictions may be imposed: the restrictions must be "provided by law"; they may only be imposed for one of the purposes set out in Subparagraphs (a) and (b) of Paragraph 3; and they must be justified as being "necessary" for that State party for one of those purposes.

Vietnam has been at peace and has a stable development since 1975. In the last several years Vietnam has not had any violent rebellion on a national scale. Therefore, according to international laws, Vietnam does not fall into a situation where the entire country is under a security or political threat. Moreover, as regards the fact that Vietnam has not passed any special laws that limit the freedom of expression as stipulated in Article 19, Paragraph 3(a) and Paragraph 3(b) of the ICCPR is proof that the SRV has ipso facto recognized that the citizens of Vietnam shall enjoy the full extent of their right to hold their own opinions and the right to freedom of expression in accordance with Paragraphs 1 and 2 of Article 19 of the ICCPR without any legal limitations. In other words, if there is no legislation and regulations that limit the freedom of expression then that statute or legislation must be regarded as violating the Vietnamese government’s accession to the ICCPR.

The fact that my husband holds his own political views and exercises his peaceful expression through his articles or verbal exchanges, as well as promotes his writings or ideas with others -- no matter where one resides in the world -- is absolutely in accordance with the freedom of expression as stated in the 1992 Constitution and the ICCPR of the U.N. As mentioned above, once Vietnam has joined the world community to sign several international treaties, the argument that my husband, being a Vietnamese citizen, “has to fully obey Vietnam law, if not he will be punished severely to its full extent, pursuant to Vietnam law” (Preliminary Court Sentence, p. 10) is a necessary argument but not a sufficient one. It is not sufficient because the Court of First Instance only wants to limit its ruling according to the [Vietnam] Criminal Code, not applying other codes that look into the conflict that the law of Vietnam may interfere with other international treaties, which Vietnam has signed. In order to have an unabridged view, one must consider both the international law and the Vietnam law as integral parts, bound by the [Vietnam] 2005 Law on Signing, Accession and Implementation of International Treaties. Therefore, if the Vietnamese law corresponds with the appropriate international treaty then the distinction of the laws is not the contention here. Yet in this case, if the Vietnam law is not in line with the required treaty then Article 6 of the Law on Signing, Accession and Implementation of International Treaties provides for the application of the necessary international treaty. More concretely, if Article 88 of the Vietnamese Criminal Code is deemed not in line with the ICCPR then the Government of Vietnam must annul or suspend it at once the implementation of that law.

My husband is not the only one who realizes that presently Vietnam has many legislations and regulations on civil and human rights, which are not appropriate with the Constitution. His opinion is shared by many analysts such as Associate Prof. Dr. Nguyen Van Dong, who wrote “Human Rights and Civil Rights in the Vietnam Constitution” (Khoa Hoc Xa Hoi Publisher, August 2005). Like other people, my husband has also raised the idea that Vietnam needs a Constitutional Court to rule on the constitutionality of legislations passed


 

9

under the law. Another critical at-large issue is the implementation of international treaties on human rights to which Vietnam is a State party. According to Prof. Nguyen Van Dong, honoring and properly implementing these treaties is the duty of the government and the people (ibid, p. 231). Those are the constructive expressions of my husband relative to the improvement of the current system of laws in Vietnam in order for Vietnam to integrate fully into the world community.

We need to reiterate that my husband is not the only one who exercises the constitutionally guaranteed civil rights. Before his arrest, there have been intellectuals, researchers, lawyers, professionals and high-ranking cadres, as well as many government leaders, representatives of the National Assembly and the Party – both current and retired -- who have exercised this freedom of expression in official mass media outlets, both within and outside Vietnam. Just like my husband, they have debated heatedly on issues such as Article 4 of the Constitution, the views on leadership role of the Party, multiparty and pluralism, democracy, human rights, reconciliation with overseas Vietnamese. Normally, the government needs to encourage such a culture of peaceful exchange regarding issues that face our nation.

3) My husband did not violate Article 88 of the Criminal Code

            a) The verdict is based on groundless and inaccurate investigations and arrived at false accusations

 

The preliminary court sentence (PCS), No. 153/2007/HSST was based on the prejudicial accusations and careless investigations of the public security organ to arrive at false, even illogical, conclusions.

The opening of the verdict has deliberately created a false sense of guilt under the pretext that the defendants were caught red-handed in my husband’s law office. “In the morning of February 3, 2007, at the Thien An Law Office, 10 Doan Tran Nghiep, the investigative organs of the Hanoi Public Security Office and the Ministry of Public Security have discovered Le Thi Cong Nhan to be spreading propaganda against the SRV and distorting the government policies regarding democracy and human rights to three journalism students of the Ha Nam 1 Advanced School of Television and Radio” (PCS, p. 2). This is an ignorant affirmation. The truth is on February 3, 2007, attorney Le Thi Cong Nhan only had time to greet and distribute a handout titled “Dignity, the Foundation of Human Rights” to the three students of Ha Nam before the police entered. According to the collaborated testimonies by Le Thi Cong Nhan, Pham Van Troi and Bach Ngoc Duong, everything that had taken place took no more than five (5) minutes before the police arrived to disperse them at 10:10 a.m. Even the People’s Procuracy witness, Giap Van Hieu, stated at the court trial that: “They have not had time to read the documents when the police came to arrest them.” Five minutes is such a short time and certainly it is not going to be sufficient for Le Thi Cong Nhan to perform such a formidable task of “spreading propaganda against the SRV … and distorting the government policies regarding democracy and human rights.” I must also add that the essay: “Dignity, the Foundation of Human Rights” is a scholarly research paper by Dr. Do Manh Tri, who lives in France. The scholarly nature presents itself at the beginning of the article where Do Manh Tri


 

10

clearly states: “[the article] utilizes an analytical method of examining historical records. In other words, based on a few watershed events in history it uses the idea of human dignity to illustrate the foundation of this concept in the process of appreciating and extolling the virtue of human rights”. The article uses a few concepts of philosophy and theology, and there is not a single idea or word that mentions Vietnam. My belief is when accepting a conclusion that completely has no base in reality, logic and truth, the court has already prejudiced the accused.

The Court of First Instance has accepted at face value many opinions of the investigative organs. Just like the indictment, the verdict has bundled together many people and events that are not even related to create an impression of gravity so as to implicate my husband as the leading instigator. The verdict states: “The Police investigative agency has affirmed Pham Van Troi and the four employees of the Thien An Law Office Pham Sy Nguyen, Nguyen Xuan De, Tran Thanh and Nguyen Thi Huong Lan were influenced by Le Thi Cong Nhan and Nguyen van Dai to carry out distortion of truths and propaganda against the State” (PCS, p. 3). First of all, those individuals do not work in the same field. Mr. Pham Van Troi is a member of the Committee for Human Rights in Vietnam. Mr. Nguyen Xuan De is a driver and Miss Tran Thanh is an employee of the Viet Luat Limited Liability Company. Only Miss Nguyen Thi Huong Lan, an accountant, and Mr. Pham Sy Nguyen are both employees of the Thien An Law Office. These five people perform different duties each day, some people whose duties are limited to just driving or accounting. The employees in my husband’s two separate offices have all declared that they did not carry out anti-State propaganda; therefore, no one was converted. Mr. Troi, an individual who acts on his own volition, also declared that my husband had never guided him. The fact that presiding judge Nguyen Huu Chinh did not invite Mr. Pham van Troi and my husband’s employees to participate in the cross examinations at the court trial on May 11, 2007 has in fact twisted the truth against my husband.

            b) Article 88 of the Criminal Code contains too many vague and catchall terms.

 

Since the Criminal Code was instituted in 1999, the State has not had any legislation to guide and explain what constitutes a “violation of national security” as stipulated in the Criminal Code. To be specific, with reference to Article 88 of the Code what constitutes “opposing” the State? How would one be against the State or against the Government? What constitutes “propaganda”? What kind of conduct and at what level or degree is one’s speech considered propaganda? To critique the policies of the Party and the government, as well as the unconstitutional, illegal acts of Party cadres, government officials, and civil servants, to point out the occurrences of history --would these be considered actions that distort and slander the government? How does one’s speech constitute psychological warfare? What kind of propaganda would be considered creating confusion and unrest among the people? How would one act be considered producing, storing and circulating materials and at what level would this act be deemed to be in violation of the law? These precepts are still very general and vague as people can arbitrarily interpret in any way they see fit. In general, many legal scholars and researchers in Vietnam still treat these issues as being “politically sensitive” issues, yet to be avoided; therefore, there has been no serious study to illuminate these issues. People are still operate on a skittish mode, forgetting that Vietnam is in a new


 

11

transition, trying to build the rule by law and integrate into the world community, and that it endeavors to reconcile between the provisions of the “violating national security” articles of the Criminal Code, the civil rights as provided for in the [Vietnam] Constitution, and human rights stipulated in international treaties. As the Criminal Code is not clear and lacking conventional understanding, there exist a variety of interpretations of this law in society. The citizens who are bold would do anything that is not prohibited by law; others who are puzzled, meek and reserved dare not reasonably engage nor exercise their constitutionally guaranteed rights. The law enforcement agency, on the other hand, has its own way of interpreting the law and applies it out of expediency. One time they would arrest a person; the other time they would overlook him. One time they would prosecute him; the other time they would enforce administrative measures, creating an inconsistent and loose application of the law and causing a shrouded curtain of uncertainty among the citizenry. They don’t know when they are judged fairly in the eyes of the government.

To me, a rule-by-law Vietnam cannot let an important law such as Article 88 of the Criminal Code be implemented out of sheer expediency. Therefore, the legislative organ must clarify responsibly and promptly the intent of Article 88 of the Criminal Code. In the meantime, the State could temporarily suspend Article 88 on the basis of Article 2 of Criminal Code “nullum crimen sine lege” (No crime without a previous penal law). In the court trial of first instance, although having attested to the shortcomings in the Criminal Code the prosecutor still handed out his own interpretations before passing judgment on my husband. Therefore, I would like to protest as follows:

c) My husband is not against the Constitution and is not against the SRV.

In the presentation below, I will essentially apply the definitions of the Vietnam Encyclopedia, Unabridged Volume (VietEncyclopedia). This is considered the official and standard encyclopedia of Vietnam because it has been compiled by a government agency. This encyclopedia defines the “State” in a very abstract term: “The State is a political organization of society, the basic instrument of political power in a class society” (VietEncyclopedia, Volume 3, 2003). At the same time, according to Article 2 of the 1992 Constitution “The Socialist Republic of Vietnam is a rule-by-law socialist State created by the people, of the people, for the people… The power of the State is integrated though there is division and coordination of responsibilities between different State agencies in the establishment of the legislative, executive and judicial powers.” The Constitution of 1992 explicitly stipulates the agencies of the State as the National Assembly (Article 83, Constitution), the President (Article 101, Constitution) the Government (Article 109, Constitution), the People’s Council (Article 119, Constitution), the People’s Court and the People’s Procuracy (Article 126, Constitution). We need to ascertain that, according to the 1992 Constitution, although the CPV is a “power that leads the State and society” (Article 4, Constitution) it is not viewed as an agency of the State. Therefore, if a Vietnamese citizen opposes the CPV then he/she cannot be regarded as being against the State.

To oppose the State is understood as opposing one or many of the State agencies that derive their power from the above mentioned Constitution. “To oppose” is to diametrically contradict. In political terms, “to oppose” is to be against something with malicious intent. The first


 

12

contention that needs to be considered here is whether a citizen who holds an opposing view (in his mind) with that of the government is guilty of a crime? The leaders of Vietnam have answered this with a resounding “No”. The evidence is they always affirm that the Vietnamese government does not imprison anyone because he/she holds a difference of opinions, and that Vietnam does not imprison political dissidents but only those who violate the law. The next contention is if a citizen holds an “opposing” view, then which action of this citizen is considered a violation of the law and which action is considered to be protected under the constitutionally guaranteed freedom of expression (and thus not considered guilty). Because Article 88 of the Criminal Code regards the idea of opposing the State as a subjective factor of the crime thereby this Article is easily abused when applied in real life. The international laws resolve this issue in a simpler straightforward manner when it differentiates clearly an action, considered a crime that is committed with violence from another action, not a crime that simply expresses an opposing idea in a peaceful manner. Being a State party to the ICCPR, the Government of Vietnam must treat a citizen’s attempt to express, to criticize, to propose and rectify by peaceful means, orally or by written words, with the government agencies as an lawful action protected by the civil rights guaranteed in the Constitution (Article 50, Article 69, Constitution) and by the freedom of expression guaranteed in the ICCPR. This right is also protected and upheld in all other countries in the world.

My husband has reiterated many times – even at the preliminary court trial – that he does not oppose the SRV but only exercises his constitutional civil rights. Yet, the Court of First Instance still issued its loose ruling based on flimsy evidence, accusing my husband of opposing the State. The Court of the First Instance has cited three reasons to hold my husband for the crime of opposing the State: opposing the Constitution, communicating with people who oppose the government and being a sympathizer or member of organizations that oppose the State. All three reasons cannot hold water.

If carefully examined, the arguments that the Court of First Instance used to accuse my husband of opposing the 1992 Constitution were based on a false premise. I can assert that not only my husband does not oppose the 1992 Constitution but also he often is of the opinion that we need to protect the constitutional spirit by defending citizens’ rights.

In his article “The Right to Found a Political Party in Vietnam,” which the Court has admitted as significant evidence, my husband observed correctly that there are no provisions in the 1992 Constitution forbidding the formation of legitimate parties alongside the CPV. Therefore, my husband believes, from the perspective of an attorney, that a citizen has the right to establish a legitimate political party. My husband has applied justifiably the main principle of a rule-by-law nation that is, “the people could do anything that the law does not forbid” (VietEncyclopedia, ibid). According to this Encyclopedia “This principle represents the democratic underpinning of a nation, promoting all creative ideas of the subjects that are trying to serve the benefits of society, the government, and the people.” In reality, the 1992 Constitution no longer stipulates that the CPV is the sole power that leads the State, and society. This is a big change from the 1980 Constitution, which dictates that the CPV is the “sole power that leads the State and society” (Article 4, 1980 Constitution).


 

13

In 1980, in addition to the CPV there were two other parties, the Democratic Party and the Socialist Party, in the political arena of Vietnam. Both existed until 1988. Therefore, during the eight-year enactment of the 1980 Constitution, which clearly reserved the sole existence of the CPV in the leadership role, the Government of Vietnam did not consider the Socialist and Democratic parties illegal. It is noteworthy that these two political parties were established in 1944 and 1946. They voluntarily discontinued in 1988, but were not disbanded or declared unlawful by the government. Today, when Article 4 of the 1992 Constitution struck out the word “sole” as in the “sole power that leads the State and society” of Article 4 of the 1980 Constitution, then all the interpretations regarding the sole existence of the Party in the political arena and henceforth ascertaining that the operation or existence of other political parties as unlawful is simply groundless and lacking reason and reality. Due to a false premise regarding the characteristic of “sole” (“The CPV is the sole party to lead Vietnam”) the Court of First Instance has repeatedly made false conclusions as “all political parties and activities (sic!) are illegal” or “all acts criticizing the CPV … strongly violate the Constitution” (PCS, p. 6). The Court has based on this false argument to accuse my husband of opposing the State.

The Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi People’s Court have heedlessly admitted many disputable presumptions from various investigative agencies. The Court of First Instance has relied on the fact that my husband has maintained contacts with overseas Vietnamese such as Messrs. Vu Quoc Dung, Nguyen Dinh Thang and Tran Ngoc Thanh to conclude that my husband is against the State (PCS, p. 6). Both the indictment and the verdict have reached a sweeping conclusion that they are “Vietnamese elements overseas whose resolute intent is to oppose our State” (PCS, p. 6). Yet, the verdict of the preliminary trial could not prove among those mentioned there was anybody who has done anything who the Court could consider an “element who resolutely intends to oppose our State”? These people are all working publicly in different fields overseas, two of them for INGOs (international non-governmental organization). The Court has not carefully checked out their background so as to even misspell their names as well as the names of their organizations. One is named Vu Quoc Dung, currently Head of the Asia Desk of ISHR (The International Society for Human Rights), but not Vu Duc Dung of The International Human Rights Network. The appellation “The International Human Rights Network” derived from the false assumption that “Vu Quoc Dung is the leader of The Vietnam Human Rights Network in USA” (An Ninh The Gioi, the online edition of The Journal of World Security, April 22, 2007, and other online editions). The other person is Nguyen Dinh Thang, Ph.D., Executive Director of Boat People SOS, but not “the leader of the Relief to Vietnamese Boat People Committee in America.” The term “leader” in this context deliberately gives the connotation that the organizations are unlawful. In reality, these two NGOs have earned great credibility for their long-standing operation in their countries where they are registered as well as in many other countries. To date, there is not a single thread of evidence that any of these organizations has been opposing any single, individual nation. Moreover, the ISHR, accorded Consultative Status with the U.N., cannot go beyond the framework of the U.N. Charter to conspire the overthrow of any of the U.N. member states. For this reason, to conclude that my husband has the intention to conspire with these people – their names are not specifically mentioned – “to form a number of organizations with the expressed purpose of opposing the SRV” (PCS, p. 6) is totally groundless and has no base in reality.


 

14

The verdict has also accused my husband of being a member of the “Independent Union” (Cong Doan Doc Lap), “The Vietnam Progression Party” (Dang Thang Tien) and “Bloc 8406” (Khoi 8406), as well as a sympathizer of “The Democracy Party, Century 21” (Dang Dan Chu The Ky 21). At the court trial the presiding judge, being intent on proving my husband’s organized anti-government activities, did not allow him and his defending attorneys to argue about these parties, though being pivotal ones. This is a great omission. I will not examine the weak accusation with respect to [Dai] being the sympathizer of “The Democracy Party, Century 21”. This accusation is very shaky because the government itself has not yet launched criminal proceedings against The Democratic Party, Century 21 leadership, thus it cannot accuse the person in question, my husband, for being a sympathizer.

The Court affirmed a twisted and careless ruling that: “The accused has participated and supported wholeheartedly the operating by-laws of the so-called ‘The Vietnam Progression Party’ and ‘Bloc 8406’ of Nguyen Van Ly – an organization operating illegally in Vietnam(PCS, p. 6). This affirmation is simply false. First, the mixture of Bloc 8406 and The Progression Party into one organization is erroneous because they are widely known as two separate entities. Reality shows that many people belong to Bloc 8406 but they are not necessarily members of The Progression Party. Second, my husband has never joined The Progression Party, but he only participated in Bloc 8406. Therefore, the accusation that my husband belongs to The Progression Party is false. Bloc 8406 has included the people who signed to support “The 2006 Manifesto on Democracy and Freedom” and it does not belong solely to Catholic priest Nguyen Van Ly. We need to reiterate that Bloc 8406, not a political party, does not have a bylaw nor does it have a joint plan of action. Sometimes, there are people in this group who have different ideas concerning a plan of action. For example, with regard to the 7th National Assembly Election while Father Nguyen Van Ly supported the boycotting of the election and issued many statements calling for such action, my husband is known to have publicly called against a boycott and supported citizens to run for the National Assembly independently. Therefore, to accuse my husband of wholeheartedly supporting Bloc 8406’s actions is an accusation that could not be real and is blatantly false.

The act of accusing my husband for being a member of the “Independent Union” is also based on similar careless assumptions. Instead of producing as evidence a member roster of this organization, the Court of First Instance has relied on vague notions, e.g. “According to the testimony of witness Tran Van Hoa who affirmed that in September 2006, Dai has requested that Hoa go to Hanoi so that they could depart together to China to meet a person named Tran Ngoc Thanh, an expatriate living in Poland, in order to form an organization that is so-called ‘The Independent Union’” (PCS, p. 7). The Court has not had this statement verified. Later witness Tran van Hoa divulged that he was tortured to make a false confession during his incarceration from September 21, 2006 to October 3, 2006 (Testimony on July 13, 2007). In principle, the false confession that the police obtained during this time must be considered worthless before the court of law. Mr. Hoa said that although he was forced to make a false confession under duress he had only given out information that concerns him. Mr. Hoa reiterated that he had never given any statement that my husband had asked him to go to Hanoi in order to travel together to China. In reality, my husband had no intention to go to China on September 21, 2006, because he had prepared to leave for Thailand two days


 

15

later on September 23, 2007. However, both his September trip to Thailand and his trip to India, planned for October 25, 2007, did not take place. The investigative agencies can easily verify with the Public Security Police about how my husband was stopped at the airport on both of those dates. To accuse my husband of being a member of The Independent Union is pure conjecture and therefore baseless.

d/ the need to precisely validate the issues of “propaganda, distortion of the truths and defaming the People’s Government,” as well as those of “production, hidden storage and circulation of anti-State materials.”

As per the above analysis relative to my husband, his crime according to Article 88 of the Criminal Code is immaterial for lack of the subjective factor of “motivation” against the State.

However, I wish to further discuss the precepts mentioned in Paragraphs 1 (a) and 1(c) of Article 88 of the Criminal Code because I was under the impression that the Court of First Instance has made its assumptions out of expediency, thus distorting the true meaning of the freedom of speech as stipulated in the Constitution. According to the VietEncyclopedia (ibid) propaganda is defined as “an act to disseminate a policy or an ideology with the purpose of changing the populace’s attitude and influence them to act in a certain way with a certain purpose.”

First, I want to make certain that “propaganda“ is a specific terminology used only in the political arena with a specific implication, which is not to be used wantonly. To say: “Mr. A propagandised to Mr. B that...“ or “The father propagandised to his son...“ would constitute a wantonly use of this term. Nevertheless, the term “propaganda”, viewed from different cultural and political perspectives, may be construed either negative or positive. In Western cultures respect for one’s dignity, regardless of its content, “propaganda“ has a negative implication because the act itself is aimed at steering a subject towards a specific ideology or action that he/she never intends to subscribe to. In this sense, propaganda amounts to brainwashing or clouding one’s conscious judgment. Furthermore, propaganda has been widely used in the Vietnamese mass media in a broader, non-specific sense. As such, the act of propaganda is judged good or bad, depending on its content. If one advocates positively for the Vietnamese government he/she is considered a good citizen whereas one advocates against it, he/she is considered being in violation of the law. However it is defined, the act of propaganda always has a number of characteristics that distinguish propaganda from other acts of communications.

With respect to its content, what is used in propaganda must originate from a doctrine or ideology that is in fact a collective of systematically organized thoughts. To express one’s trivial, shallow or impromptu thinking cannot be judged as an act of propaganda. On a global scale, there is a consensus on opposing such policies as genocide, anti-humanity, anti-peace, racial discrimination, and terrorism. Therefore, all acts to advocate for or attempts to carry out these policies are to be prohibited. As a common practice, should a government wish to ban certain political topics or subjects, there has to be laws written to define what is or isn’t


 

16

banned politically. The law also has to specify forbidden means to carry out these illegal acts of propaganda. For example, a banned topic could not be broadcast on films, printed materials or signs but it would be acceptable to converse on these topics. As such, not all activities relating to this banned topic can be summarily forbidden by law. In many countries, exceptions are made with regard to specific uses of means of propaganda for banned topics, as in the case of making films or publications to educate the public or to illustrate historical or artistic matters. For example, in the study of the history and ideology of Apartheid, it is allowed to use pictures or quotations from these documents to illustrate the discrimination of blacks in South Africa.

With regard to the form, a propagandist always wants to disseminate information, often biased or slanted, in order to steer the opinions of his listeners in his favor. This information needs not be untrue. The information may be correct in certain aspects, but as a whole it does not fully and completely represent the facts. Furthermore, in order to incite the public, the propagandist tends to simplify issues with the purpose to stir up one’s emotions, rather than his/her rational thinking. The employed means are flyers, posters, films, and the press, TV, radio and other mass media. To make it more effective, the designer establishes a large-scale plan to repeat over and over again certain issues on these media.

However, it is important to note that should one’s act lack a certain characteristic, whether it’s content, presentation or large-scale organization, then his/her act cannot be considered propaganda. For example, if one’s action is short of biases or not intended to excite the public’s emotions, then it could be as simple as a scientific or a research presentation or an intellectual argument. If it lacks systematic “modus operandis“ then this could be considered an impromptu statement or a personal opinion. If, as in the economics sphere, a product is shown repeatedly on wall posters on public streets, then this is a matter of advertisement. In the areas of education and religion, this is called preaching or giving a sermon. If there is a lack of large-scale organization in both content and form, as in the case of a person who speaks up impromptu regarding a current affairs subject in a private meeting amongst friends, then his action cannot be considered an act of propaganda. Even the totality of fragmentary expressions in such meetings should not be considered as a propaganda matter.

The initiator of propaganda acts may be a governmental agency, an organization, or a political party. The most famous propaganda campaigns commonly known in modern history were those of the Soviet Union, Nazi Germany and German Democratic Republic (East Germany). In reality, if such factors as impact, organizational scope and effect are to be measured one can see that only a governmental power can bring about most effective propaganda results. That is because only those in control of a country have the means to popularise their ideology or dogma in a most systematic and sustaining way via the most used media to change the populace’s thinking, as well as to steer them towards a certain pre-determined direction. To accomplish its propaganda mission, the Government of Vietnam has under its control a huge propaganda machine that includes about 700 media agencies. These agencies work under the strictest direction of various bureaus in charge of culture, information and ideology. The Government of Vietnam, in order to propagandise specific policy or


 

17

governmental actions, often publishes a propaganda planning agenda which details specific purposes and goals of propaganda campaigns, contents, formats, and means of operation, as well as steering organs. Against such enormous force, it is almost impossible for a single Vietnamese individual to conduct an effective [anti-State] propaganda and/or counter-propaganda campaign.

In my opinion, the Vietnamese government’s investigative agencies have blown things way out of proportion when they accused my husband of anti-State propaganda, both in terms of scope and effectiveness. In their investigations, they have not applied the same evaluation standards as other agencies do. They could not prove that my husband had any plans to propagandise for any specific ideology or with an identified purpose, goal, content, format, means of operation, or leadership structure. In the preliminary court trial, the term propaganda was simply made to convey the understanding that it is an act of saying or writing something to others more than once. If this sense were to be used then anybody could be guilty of propaganda acts as long as the police considered them anti-State. This way, any complaint uttered at a drinking place or even at home could be misconstrued as anti-State propaganda, thus an illegal act. If that were the case then there will be an enormous number of Vietnamese citizens guilty of this behavior. The end result is that it will be impossible for the law-enforcement agencies to have the deluge of cases tried. The fact that they choose to ignore some cases and prosecute certain others has created a situation whereas the law would be being applied either arbitrarily or at the agency’s own wish. If that were the case then Article 88 of the Criminal Code –as it currently stipulates— could not be implemented. If this legislation were invalidated then it would be incumbent upon [Vietnamese] lawmakers to change it in order to bring justice and trust in the government to the people, as well as effectiveness to law-enforcement agencies.

With regard to the form, the acts that my husband has committed show no large-scale organization of a propaganda campaign if the meaning of propaganda is correctly construed. My husband has only once met with all three (3) students from Ha Nam, one of whom he has met three (3) times, each time from 30 to 90 minutes. At each meeting, the contents of their exchange varied from personal greetings to legal counselling to issues of human rights and philosophy to current affairs. The Court exhibited the two (2) articles that my husband writes, namely “Freedom to found a political party“ and “The Vietnamese people are politically sophisticated enough to build a multiparty system“ which were publicized on the BBC, England homepage. Nothing in these articles indicates that they are anti-State as I have just indicated in my above analysis of the CPV and the Vietnam Constitution. The two articles, especially the second one, were only meant to contribute to a public debate on a website, not at all documents of propaganda nature. As stated above, my husband’s employees have confirmed in their written testimonies that they were not involved in a propaganda campaign and my husband did not recruit them to join these activities. Mr. Pham Van Troi also stated that he voluntarily sought out my husband’s counselling on human rights and legal issues and that he did not commit any propaganda act. These people were all university-educated and thus fully aware of their activities.


 

18

With reference to the content of his activities, my husband was charged with penning several articles and responding to interviews on the Internet. The authorities concluded that what my husband has said or written was “untrue and distorted with the aim of misinforming about the democracy and human rights situation in Vietnam, smearing socialism and the CPV, as well as inciting the public to demand a change of regime“ (PCS, p. 7). However, the Court of First Instance did not find anything that he has explicitly written or said, with an intent to “distort the facts about the people’s government.“ According to the definitions in Bach Khoa Toan Thu (VietEncyclopedia, ibid), distortion means to present “falsehood with malice“ and government is “the machine to run and manage the country“. As such, if an event is presented factually, it cannot be misconstrued as distortion. Even if what is factually presented is believed to be critical of the government this does not rise to being a charge according to Paragraph 1 (a), Article 88 of the Criminal Code, which regulates only distortion matters.

As for the human rights situation, I can reaffirm that all that my husband has said and done was based on factual events and supported by proofs and witnesses. In this way, they cannot be misconstrued as false. Fully aware of the fact that human rights are sensitive issues for this government, my husband has carried out everything with care and truthfulness. Never did he exaggerate an issue nor he falsely accused anyone. Should the Court of First Instance allow my husband to debate this issue, I’m sure that such an ill-founded conclusion would have not been arrived. Likewise, the Court could not prove that my husband “defames the government“, so the charge was groundless. Defamation denotes “negatively criticize or badmouth“ (ibid) and this is the matter of one’s personal viewpoint. I believe that anything you do, there will be those who either praise or are critical of you. Therefore, it is not realistic if one expects to be praised all the time. The Court attempts to prove that my husband “defames socialism and the CPV“ (PCS, p. 7) whereas this issue is beyond the jurisdiction of Article 88 of the Criminal Code of 1999. It is my belief that the Court clearly does not understand this matter enough to distinguish what constitutes the Government of the SRV and the CPV. I wish to add that only the Criminal Code of 1992 contains an “anti-Socialism propaganda“ clause (Article 82). The Criminal Code of 1999 later on abolished this statute. As far as I’m concerned, those who are in charge of governing a country, regardless of what country it is, should be prepared to accept criticism of a higher standard than one levelled at an ordinary citizen. This will make them more sensitive to the sufferings of the people and accordingly will do a better job that the country has assigned them to do.

My husband is a lawyer specializing in human rights. In order to fight for his clients’ just and lawful rights, it is within his rights and responsibilities to improve his knowledge by studying the new schools of thought and various concepts relative to society. According to the Science and Technology Code, “scientific research and study are activities to discover and understand events, facts, as well as the laws of nature, society, and personal thinking. This is done to discover solutions for practical applications” (Article 2 of the Science and Technology Code). The Court of First Instance has convicted my husband of “storing and circulating materials of anti-State nature.“ It is my opinion that as long as the lawmakers in Vietnam have not been able to clarify the concept of “storage and circulation“ in this new age, the stipulations of Article 88 of the Criminal Code would inevitably continue to eviscerate the contents of such


 

19

constitutional civil rights as the rights of freedom of speech, freedom of the press, freedom to be informed, the rights to conduct scientific research and to participate in a debate of national issues. It is my belief that Article 88 of The Criminal Code is also in profound conflict with the contexts of the rights to research and invent (Article 51 of The Civilian Code of 2005) and the social responsibilities of lawyers (Article 3 of The Lawyers Code of 2006). One of the articles relative to the lawyer’s social responsibilities is to “contribute to the protection of justice and development of economic issues, as well as to build a just, advanced and democratic society.“ It is obvious that Vietnamese lawmakers need to urgently amend these conflicting laws to bring consistency between the rights stipulated in the Constitution and in its derivative legislations.

In order to accuse my husband of “production, hidden storage and circulation of anti-State materials” pursuant to Article 88 of the Criminal Code, the Court presented as evidence 121 documents which were allegedly removed from my house and my husband’s office. We cannot at this time confirm whether all these 121 documents really belong to us. I personally have filed complaints asking for [police] receipts listing seized items, but neither the police nor the People’s Procuracy has responded to our demand. That the Court has not declared the nature and analysed the contents of these 121 documents has caused me to assume that there might be some “legal problems” with only a number of these documents that were already listed in the preliminary court verdict. My husband has freely admitted to having written the two articles titled “The right to found a political party,” and “The Vietnamese people are politically sophisticated enough to build a multiparty system“. The Court’s view of these articles was that “their contents were meant to smear and degrade the leading role of the VCP and suggest that under current circumstances, because the VCP did not have enough ability to lead the Revolution, Vietnam is in need of a change of the ruling party or change to a pluralistic, multi-party system in order to emerge out of poverty“ (PCS, pp. 4 and 5). As indicated above in Part 2, my husband’s writing of these two articles is within his right to free speech, which is protected by the Vietnamese Constitution of 1992, as well as the ICCPR. Furthermore, the above analysis shows that the Court of First Instance has not presented adequate arguments and court evidences before reaching the conclusion that these two articles were of “anti-State” nature. The usage of descriptive terms such as “smear and degrade the leading role of the CPV” reveals that the Court has attempted to inject into this matter its biased, subjective thinking and gone beyond its jurisdiction as stipulated in Article 88 of the Criminal Code. In addition, the Court’s sentence concludes that my husband, ”is the person who drafted the ‘Bylaws of the Democratic Party’ of Mr. Hoang Minh Chinh“ (PCS, p. 6), despite the fact that throughout the trial the Court could not produce enough evidence to back up their accusations. This has become a laughing matter in our society that the government has committed so many contradicting acts. One of these was their rush to convict my husband on grounds of his relationship with the Democratic Party [Century 21] while they have not yet come to a resolution of the legality of this party. For these reasons, the government’s charges of my husband of “producing anti-State materials” are absolutely groundless.

Hidden storage (Tang-Tru) is an intentional “act of carefully hiding items away from others' knowledge” (VietEncyclopedia, ibid). In this case, all the items confiscated at my husband’s law office and our residence were the documents used for his research, and there was no


 

20

intent on his part to hide them. All the security agents who had followed my husband in the past months will attest to the fact that the door to my husband’s law office was always open to the public, and that the computers were available for others’ use. Thus, the charge of “secretly hiding documents” is the one, which is absolutely without merit. When the investigative agents searched my husband’s office and our residence, the seized documents were in the five computers, on the bookshelves, or on his research bookcase where all the research materials, including the research materials of Vietnam and international laws, together with his client files, were kept. The fact that these materials were collected simply for research purposes can be demonstrated. First, these documents represent various political viewpoints; some were pro, others against in various issues. They were found in a clutter of materials, legal and otherwise. Second, the presence of these materials alone does not necessarily mean that my husband agrees with them. For example, my husband was not against the [National Assembly] election but he did have amongst his research papers documents containing Father Ly’s calls for boycott against it. In order to understand thoroughly an issue, my husband should not hear from one side nor should he read only documents that concur with his thinking. When it is known that my husband was concerned about certain subjects, various sources would either personally hand him or bring without his knowledge to his law office documents, considered by the Court to be “extremely anti-State, distorting or twisting the truth,“ such as “The Communist Party of Vietnam is a scourge”, ”Journal of a victim of injustice”, or a document by Quoc Quoc. In the preliminary court trial, my husband freely admitted that he had possession of these materials, even though he had not seen many of them, nor had he read them. This proves that my husband never had any intent to hide anything, even some were related to the most serious charges, because of his belief in freedom of speech and freedom to do research – the rights guaranteed by the Vietnam Constitution. Therefore the charge of hidden storage against my husband is a violation of his civil rights guaranteed by the Constitution.

I wish to further clarify the matter of “hidden storage of data in the computer”. In this age of global connectedness via the Internet, the charge [storing data] is an obsolete concept. On a daily basis, one receives hundreds of emails from numerous senders, friends and strangers alike. If one meticulously erases all these emails, the residual proofs of them are still in the computer. As a normal practice, very few people can successfully manage the volume of emails he or she receives everyday. Furthermore, the Internet represents a huge depository of news and information. Anybody can get on the Internet to retrieve or deposit the information without having to “secretly store” it in his/her personal computer. As a result, in the age of the Internet, the control of stored data by setting geographical barriers is rather out of the ordinary and it cannot be effectively carried out in reality.

In the Court of First Instance sentence, there was no mentioning of my husband being accused of having circulated (luu-hanh) printed materials and cultural products with anti-State content”. Circulation means “to give out broadly to the public in various places” (VietEncyclopedia. ibid). However, in the itemized list of indictment counts in the preliminary trial sentence, I notice one paragraph which says: “The accused have disseminated (phat-tan) these documents on various channels of information to reactionary Vietnamese organizations overseas.” (PCS p. 5). To avoid any misundestanding, I presume that the Court took


 

21

dissemination” to mean the same as “circulation.” Even if this presumption were correct, the charge against my husband was vague and imprecise. Instead of listing factually item by item his violations of the law, e,g. via what means, where and how, the Court only described the events in a series of nebulous terms which did not specify who were “the accused”, what were “the documents”, “the means of communications, and the name of “reactionary Vietnamese organizations”. There are numerous items cluttered together in the Court of First Instance sentence which can only be viewed as arbitrarily, vague and hard to understand. In the context of the sentence, this cluster “these documents” could only be construed as references to the two above-referenced articles titled ”The right to found a political party,” and “The Vietnamese people are politically sophisticated enough to build a multiparty system“. As per the above analysis, the Court does not have adequate reasons to decide that the two articles are of anti-state nature. My husband admitted to having sent these articles to the homepage of a SINGLE radio station which is the BBC. BBC has been for years one of the world’s most respected media agencies. It has its official office and representatives in Hanoi. Nobody can summarily argue that BBC belongs to a group of Vietnamese expatriates or BBC is an instrument of reactionary Vietnamese organizations overseas. There have been numerous high-ranking Vietnamese government officials, elected representatives, research cadres who often voiced their opinions on the BBC --at times strong negative criticism against the [Vietnamese] government. Other than the BBC, the Court has not presented any proofs that my husband had distributed the two articles to any other media organizations. If this were to happen, it is simply because in these days of the Internet, printed media and any websites could easily download, copy, and disseminate broadly any materials which appear at another website. This can be done to broaden information to the public without the author’s consent. In summary, the decision reached by the Court of First Instance that my husband has committed acts of circulating anti-State articles, is absolutely groundless.

4) Conclusion and Appeal to the Court of Appeals

My husband is a patriot. As a human rights lawyer, my husband is wholeheartedly devoted to protecting the constitutional rights of Vietnamese citizens; therefore, he has criticized and opposed wrongful and illegal activities of government officials and agencies. In actuality, my husband’s contribution to protecting religious freedom has helped Vietnam to improve the human rights situation in the country, thus elevating international respect for Vietnam. His contributions also help the Vietnamese government to better understand problems involving Protestant followers, thus maintaining stability in Vietnam.

The arrest and subsequent trial of my husband were not carried out legally and in conformity with current regulations and procedures. As the police had conducted a very sloppy investigation of my husband’s activities they arrived at vague and summary accusations. Both the Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi People’s Court, having wrongly accepted these erroneous conclusions without further deliberation, charged and sentenced my husband pursuant to Article 88 of the Criminal Code. Because of numerous procedural errors and biases against my husband, the Court of First Instance of May 11, 2007 could not discover the truth of this case; consequently, he was unjustly convicted.


 

22

All that my husband did was to exercise his freedom of speech. The Vietnam Constitution of 1992 guarantees this civil right. This constitutional right is also firmly protected by the International Covenant on Political and Civil Rights since the Government of the SRV signed on to this document in 1982 and enacted the Law on Signing, Accession and Implementation of International Treaties in 2005. Accordingly, a Vietnamese citizen is entitled, according to Article 19 of the Covenant, to the freedom of speech fully and completely without any legal restrictions. International laws view that peaceful opposition to a government does not constitute a crime. As such, activities to criticize, correct, and protest in a non-violent way, either verbally or in print, against certain government departments or their employees should be considered lawful.

Even if the Vietnamese Criminal Code is strictly applied to deal with this matter, the Court of First Instance’s arguments have no merit. In order to accuse my husband of having committed a crime against the Government of the SRV the Court reasoned that his activities were against the Constitution, that he has contacts with overseas Vietnamese who resolutely intend to oppose the SRV and that he is member of anti-State organizations. All of these accusations are false because of the erroneous assumption of the unique role of leadership of the CPV. They were also based on the irrational speculations, as well as groundless and unlikely labeling of certain individuals and organizations, domestic and overseas alike. Without the proof of intent to oppose the State – the subjective factor of the crime – my husband’s act does not constitute a crime according to Article 88 of the Criminal Code.

Moreover, my analysis above shows that the government should review the entire contents of Article 88 of the Criminal Code to ensure its consistency with other laws, with the Constitution, as well as with international treaties to which Vietnam is a signatory. As currently stated, Article 88 contains too many vague and catchall terms that many law-enforcement agencies have utilized to intepret and apply the law incorrectly, wantonly and arbitarily, and therefore the integrity of the law has been damaged. In the meantime, I ask that Article 88 be suspended while this legislation is pending for amendment or clarification.

Having analyzed the entirety of the case of my husband, attorney Nguyen Van Dai, I hereby request the Court of Appeals to consider the following:

            a) To nullify the sentence in the Court of First Instance, No. 153/2007/HSST and suspend the case pursuant to Article 251 of the Code of Criminal Procedure for the prosecutorial agencies have gravely violated so many fundamental principles of the Code of Criminal Procedure, and my husband is not guilty according to Article 2 of the Criminal Code, which reads: “No crime without a previous penal law”;

            b) To immediately release my husband;

            c) To return all of our confiscated properties;

          d) To reinstate the good name of my husband by way of annuling the decision to withdraw my husband’s membership card and the license of the Thien An Law Office.

 


 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ vŕ Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục