|
|
DC&PT - Thời
Sự 2007
Bŕi bŕo chữa cho Ls. Lę Thị
Công Nhân
Tại tňa Phúc Thẩm Tňa án
Nhân dân Tối cao tại Hŕ Nội
của
bŕ Trần Thị Lệ (mẹ Lę Thị Công Nhân)
Kính thưa Hội
đồng Xét Xử Phúc Thẩm
Kính thưa Đại
diện Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
Tôi lŕ Trần Thị
Lệ, mẹ Ls.Lę Thị Công Nhân. Con tôi đă bị
Công an thŕnh phố Hŕ Nội bắt tạm giam ngŕy
06/3/2007 vŕ Tňa án nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă xét xử
Sơ thẩm ngŕy 11/5/2007 về tội vi phạm
điều 88 Bộ luật hěnh sự Việt Nam.
Con tôi đă có
đơn kháng án ngŕy 14/5/2007 vŕ Tňa Phúc thẩm đă thụ
lý hồ sơ. Tôi đă 2 lần lŕm đơn xin Tňa
Phúc thẩm chấp thuận cho tôi lŕm người bŕo
chữa cho con tôi theo điều 56 của Bộ Luật
Tố tụng Hěnh sự. Đơn thứ nhất
được ông Phó Chánh tňa Nguyễn Minh Mắn trả
lời (công văn số 1881/2007/PT ngŕy 19/6/2007) với
nội dung lŕ tôi không đủ điều kiện
đáp ứng lŕm người bŕo chữa theo điều
56.1.a vŕ 56.1.b. Đơn thứ hai tôi xin lŕm người
bŕo chữa nhân dân theo điều 56.1.c nhưng không
được trả lời.
Với tấm lňng một
người mẹ vŕ lŕ một công dân, dầu
được hay không được chấp thuận
lŕ người bŕo chữa tôi cũng xin gửi bản
bŕo chữa của tôi đến quý tňa kính đề
nghị quý tňa xem xét.
I. Nhận xét về
phięn tňa sơ thẩm :
Trước hết
tôi có vŕi nhận xét về phięn tňa Sơ thẩm.
1.
Các nguyęn tắc cơ bản về tố tụng
ở phięn toŕ nŕy đă bị vi phạm ở nhiều
khâu, không tôn trọng sự suy đoán vô tội của
bị cáo.
2.
Dů Toŕ có tuyęn bố đây lŕ phięn toŕ được
xét xử công khai nhưng thực tế công chúng không
được tham dự, mŕ phňng xử trŕn đầy
công an chěm nổi vŕ khách mời bęn an ninh, hoặc có thể
bęn Toŕ án. Thân nhân chỉ độc nhất mẹ Lę Thị
Công Nhân vŕ vợ Nguyễn Văn Đŕi. Bạn bč,
thường dân những ai quan tâm đến vụ án
đều không đuợc phép vŕo dự. Em của Lę
Thị Công Nhân lŕ Minh Tâm thě bị giữ ở đồn
Công An phường Trần Hưng Đạo đến
14 giờ mới được cho về.
3.
Lę Thị Công Nhân hôm xét xử đang bị ốm,
do bị ốm từ mấy hôm trước, rồi lại
phải thức rất sớm để được
đưa đến phięn toŕ, khan giọng nęn bị ảnh
hưởng đến việc tự bŕo chữa cho
měnh tại phięn toŕ.
4.
Luật sư thě bị hạn chế không
được nói hết những luận cứ gỡ
tội cho bŕi bŕo chữa của měnh.
5.
Nhân chứng của Lę Thị Công Nhân vŕ Nguyễn
Văn Đŕi, cụ thể lŕ công dân Phạm Văn Trội,
thě không được hỏi đến.
6.
Hệ thống âm thanh của phięn toŕ thě không đồng
bộ: Micro của Chủ toạ phięn toŕ vŕ Kiểm sát
vięn thě rất rő, cňn micro của luật sư vŕ bị
cáo thě nghe lúc đươc lúc không.
7.
Phięn toŕ xử một vụ mŕ nhŕ nước coi
lŕ nghięm trọng như vậy lại diễn ra quá
nhanh. Chỉ trong vňng buổi sáng đă kết thúc. Thời
gian nŕy chỉ đủ để bęn Kiểm sát đọc
cáo trạng, cho luật sư nói vŕi lời…vŕ Chánh án
đọc bản án. Cňn bản án thě chắc lŕ đă
lŕm sẵn theo lệnh tręn.
Vě vậy trong phięn
toŕ Phúc thẩm sắp tới tôi mong sẽ không lặp
lại những sự việc như tręn để
phięn toŕ có thể diễn ra một cách công bằng, công
khai nghięm túc vŕ đúng theo các quy trěnh của tố tụng.
II. Luận cứ
biện hộ cho Lę Thị Công Nhân :
Bản án Hěnh sự
Sơ thẩm cuả Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội
đă tuyęn Lę Thị Công Nhân phạm tội "Tuyęn
truyền chống Nhŕ nước Cộng hoŕ xă hội
chủ nghĩa Việt Nam" theo điểm a, c khoản
1 điều 88 Bộ Luật hěnh sự vŕ bị xử
phạt 4 năm tů với 3 năm quản chế kể
từ ngŕy chấp hŕnh xong hěnh phạt tů.
Việc tuyęn án dựa
tręn việc Lę Thị Công Nhân tham gia vŕo Đảng
Thăng Tiến Việt Nam, với chủ
trương đấu tranh "Bất bạo động",
vŕo Khối 8406, tham gia phổ biến nhân quyền…với
chứng cớ lŕ 25 đầu tŕi liệu cůng 01 CPU mŕ
cơ quan an ninh điều tra đă tịch thu khi khám
nhŕ ở của Công Nhân vŕo đầu tháng 02/ 2007.
Theo tôi, Điều
88 Bộ luật Hěnh sự thuộc chương XI về
các tội xâm phạm "An ninh Quốc gia" lŕ một
điều vi hiến, nó mâu thuẩn với điều
50, 53 điều 69 Hiến pháp 1992, trong đó quy định
rő "Ở nước CHXHCHVN, các quyền con người
về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá vŕ xă
hội được tôn trọng, thể hiện ở
các quyền công dân vŕ được quy định
trong Hiến pháp vŕ Luật", vŕ "Công dân có quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền
được thông tin, có quyền hội họp, lập
hội, biểu těnh theo quy định của pháp luật"…
Điều 88 với
những quy định của nó cũng vi phạm
nghięm trọng Công ước quốc tế về Dân sự
vŕ Chính trị mŕ VN đă ký kết tham gia năm 1982,
trong đó điều 19 quy định rất rő về
quyền tự do ngôn luận nŕy.
Phần luận tội
của bản án đối với Lę Thị Công Nhân
nęu việc Công Nhân tham gia vŕ ủng hộ cương lĩnh
hoạt động của Đảng Thăng tiến
Việt Nam vŕ Khối 8406, lŕ vi phạm pháp luật. Trong
khi rő rŕng lŕ trong Hiến Pháp 1992 không có điều khoản
nŕo cấm một đảng chính trị hoạt động,
vŕ công dân có quyền lŕm những điều pháp luật
không cấm. Lę Thị Công Nhân chỉ thực hiện
quyền công dân, quyền chính trị theo Hiến pháp vŕ
Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự
vŕ Chính Trị mŕ VN tham gia.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
đă tuyęn bố rằng "Bất đồng chính
kiến lŕ việc běnh thuờng". Tự điển
Tiếng Việt định nghĩa "Bất đồng
chính kiến" lŕ có ý kiến khác nhau về việc
thi hŕnh chủ quyền vŕ định chính thể của
một nước về hai mặt đối nội
vŕ đối ngoại. Lę Thị Công Nhân tham gia vŕo Đảng
Thăng Tiến Việt Nam cũng như các hoạt
động khác mŕ Bản án Sơ thẩm nęu, đều
nói lęn Công Nhân bất đồng chính kiến với
Đảng Cộng sản Việt Nam thě lại bị
cho lŕ phạm pháp. Vậy lời nói của Chủ tịch
nước lŕ sai, lŕ vô giá trị ư?
Như vậy con tôi, luật sư Lę
Thị Công Nhân, nếu gọi lŕ vi phạm điều
88 Bộ luật hěnh sự thě Công Nhân chỉ vi phạm
một điều luật phi lý, một điều luật
tước đi những quyền tự do cơ bản
của con người. Con tôi không lŕm điều gě sai
đối với công lý, mŕ hoŕn toŕn đấu tranh cho
chính nghĩa với phuơng thức đấu tranh BẤT
BẠO ĐỘNG, mŕ bất bạo động thě
không thể ghép vŕo tội xâm phạm an ninh quốc gia
mŕ trong đó Điều 88 được quy định
ở Chương VI nŕy. Công Nhân chỉ chống sự
cai trị độc quyền đă đưa đến
quá nhiều bất công, tham nhũng lŕm suy thoái nhiều
mặt trong xă hội của Đảng Cộng sản,
chứ tuyệt nhięn không hề chống tổ quốc
Việt Nam.
Henry David Thoreau nói: "Người
ta nghĩ rằng hŕnh xử chính đáng đối với
luật pháp bất công lŕ cố gắng vận dụng
những phương pháp chính trị để thay
đổi nó, rằng phải tuân thủ vŕ tôn trọng
luật pháp cho đến khi nó thay đổi. Nhưng
nếu luật pháp rő rŕng lŕ bất công, tiến trěnh lŕm
luật không nhằm xoá bỏ sự bất công nŕy, thě
luật pháp đó không xứng đáng được
tôn trọng – Hăy vi phạm pháp luật đó!"
Vŕ
ai trong chúng ta đều biết trong lịch sử
cách mạng thế giới, Gandhi, Martin Luther King Jr,
Nelson Mandela...cũng như các nhŕ cách mạng Việt
Nam trước kia đă phạm luật như thế.
Nếu họ không phạm luật như thế thě những
điều luật bất công vẫn măi măi sẽ
không bao giờ thay đổi. Đất nước của
họ sẽ vẫn măi măi chěm trong sự u mę, phi lý vŕ bạo
ngược.
Chúng ta biết rằng
Việt Nam ký kết tham gia Công ước Quốc tế
về các quyền Dân sự vŕ Chính trị từ
năm l982. Măi đến tháng 6 năm 2005 mới công bố
Luật ký kết, gia nhập vŕ thực hiện Điều
ước quốc tế, trong đó có quy định
rő việc thực hiện các điều ước quốc
tế như sau:
Điều
4. Quản lý nhŕ nước về ký kết, gia nhập
vŕ thực hiện điều ước quốc tế:
1.
…
2.
Tổ chức vŕ bảo đảm thực hiện
điều ước quốc tế.
3.
Tuyęn truyền, phổ biến các điều
ước quốc tế mŕ Cộng hoŕ xă hội chủ
nghĩa Việt Nam lŕ thŕnh vięn.
4.
Tuyęn truyền, phổ biến vŕ hướng dẫn
thi hŕnh pháp luật về ký kết, gia nhập vŕ thực
hiện điều ước quốc tế.
….
Điều
6. Điều ước quốc tế vŕ quy định
của pháp luật trong nước:
- Trong trường hợp văn bản
quy phạm pháp luật vŕ điều ước quốc
tế mŕ CHXHCHVN lŕ thŕnh vięn có quy định khác nhau
về cůng một vấn đề thě áp dụng
quy định của điều ước quốc
tế.
- Việc ban hŕnh văn bản quy phạm
pháp luật phải bảo đảm không lŕm cản
trở việc thực hiện điều ước
quốc tế mŕ CHXHCN VN lŕ thŕnh vięn có quy định
về cůng một vấn đề.
- …
Như vậy các
điều luật nói tręn đă khẳng định
VN lŕ thŕnh vięn của điều ước quốc tế
nŕo thě chính điều ước quốc tế đó
có giá trị pháp lý cao nhất mŕ VN phải áp dụng
khi có cůng một vấn đề trong đó pháp luật
VN có quy định khác.
Như
vậy điếu 88 Bộ Luật Hěnh sự VN hoŕn
toŕn mâu thuẫn, đi ngược lại Hiến pháp
vŕ CƯQT về DS vŕ CT nęn cần phải băi bỏ theo
đúng tinh thần của điều 6 nęu tręn.
Lę Thị Công Nhân học
Khoa luật quốc tế ở Đại học Luật
Hŕ Nội nęn tất nhięn lŕ hiểu rő việc nŕy. Như
vậy Công Nhân có phổ biến "Nhân quyền"
cho các em sinh vięn thě Công Nhân chỉ thi hŕnh việc tuyęn
truyền phổ biến, như các điều luật
đă quy định ở tręn thôi. Vậy mŕ bản án
kết tội Công Nhân vi phạm pháp luật
!!! Thử hỏi nhŕ trường khi dạy cho
sinh vięn có phải giải thích rằng, tuy VN có tham gia
CƯQT về DS vŕ CT nhưng Đảng CS hiểu nhân
quyền khác với thế giới hiểu? Hay có thể
giảng cho sinh vięn rằng, Nhŕ nước chỉ ký kết
để chứng tỏ cho thế giới thấy rằng
VN cũng quan tâm đến tự do, nhân quyền hầu
tranh thủ sự ủng hộ của họ mŕ thôi? Sinh
vięn sẽ phải học như thế nŕo vŕ thực
hŕnh như thế nŕo đây? Lŕm sao người dân có thể
tin tưởng vŕo luật pháp cũng như chính quyền?
Thế mŕ Công Nhân phổ
biến kiến thức về Nhân quyền thě bị kết
tội hěnh sự. Lŕ luật sư, Công Nhân hiểu rő
chức năng xă hội của luật sư
được quy định ở điều 3, Luật
Luật sư 2006 lŕ "góp phần bảo vệ
công lý, phát triển kinh tế vŕ xây dựng xă hội
công bằng, dân chủ, văn minh". Vŕ Công Nhân
đă thực hiện điều nŕy thông qua các hoạt
động của měnh trước khi bị bắt tạm
giam.
Theo tôi thě chính Công an, Toŕ án vŕ nói chung
chính quyền hiện tại mới vi phạm các
điều luật mŕ Nhŕ nước đă ban hŕnh
như Hiến pháp 1992, cũng như Công ước quốc
tế về Dân sự vŕ Chính trị mŕ VN đă tham gia.
Thiết nghĩ VN
đă ký kết thě phải nhanh chóng thực hięn, nếu
không thě quốc tế sẽ coi thường VN, vě VN chỉ
ký cho có ký. Từ đó, sau nŕy vě không tin tưởng VN,
quốc tế nhất định sẽ giám sát gắt
gao việc thực hiện. Việc chế tŕi có khả
năng xảy ra vŕ tất nhięn sẽ có hậu quả
nhất định. Chẳng lẽ chính quyền cứ
lŕm mọi cách để chống đỡ măi sao.
Kết
luận, con tôi, luật sư Lę Thị Công Nhân vô tội.
Lę Thị Công Nhân thật sự lŕ nguời "Bất
đồng chính kiến" với Đảng Cộng
sản Việt Nam, điều mŕ chính Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết đă tuyęn bố lŕ
běnh thường.
Cựu Thủ tướng
VN Vő Văn Kiệt cũng đă từng nói lŕ không chỉ
người cộng sản mới yęu nước, mŕ
cňn có những người yęu nước yęu tổ quốc
Việt Nam nhưng không cộng sản.
Lŕ mẹ, tôi khẳng
định con tôi lŕ một ngưňi yęu nước. Tất
cả hoạt động của CN hoŕn toŕn lŕ để
góp phần vŕo xây dựng một nuớc Việt Nam thật
sự tốt đẹp hơn.
Kính mong Hội Đồng
Xét Xử phięn toŕ Phúc thẩm sắp tới, với
lương tâm vŕ trách nhiệm của měnh lŕm sáng tỏ
công lý, xét xử công bằng, trả tự do cho con tôi,
hầu để tạo niềm tin cho nhân dân, đặc
biệt cho thanh nięn có can đảm nói lęn chính kiến
của měnh góp phần xây dựng tổ quốc.
Hŕ Nội, ngŕy 16 tháng
11 năm 2007
Trần Thị
Lệ
Mẹ luật sư
Lę Thị Công Nhân
______________________________________________
Bŕi bęnh vực
nhân phięn toŕ phúc thẩm
Chồng tôi yęu nước
Chồng tôi vô tội
Vũ Minh Khánh, vợ luật
sư Nguyễn Văn Đŕi – Hŕ Nội
Ngŕy 14 tháng 11
năm 2007
Vŕo ngŕy 11.5.2007, Toŕ án Nhân dân Thŕnh phố
Hŕ Nội đă kết án chồng tôi, luật sư
Nguyễn Văn Đŕi, 5 năm tů vŕ 4 năm quản chế
vě tội “Tuyęn truyền chống Nhŕ nước CHXHCN
Việt Nam”. Ngay sau khi chồng tôi bị bắt giữ
vŕo ngŕy 6.3.2007, nhiều cơ quan truyền thông của
Đảng vŕ Nhŕ nước đă mở
chiến dịch nói xấu chồng tôi, để
đưa ra hěnh ảnh của một con người
xấu xa, phản bội tổ quốc. Họ xuyęn tạc
những hoạt động nhân quyền của chồng
tôi bằng cách tuyęn truyền rằng, chồng tôi “tổ
chức thu thập thông tin về mặt chính trị,
xă hội, đặc biệt lŕ trong lĩnh vực tôn
giáo để cung cấp cho nước ngoŕi xuyęn tạc,
bôi nhọ Việt Nam” (SGGP online, 12.4.2007).
Xuất phát từ
lňng yęu nước, chồng tôi đă nhiều lần
công khai phę phán những việc lŕm sai trái, vi phạm
pháp luật của những nhân vięn vŕ
cơ quan nhŕ nước. Tôi cho rằng những hoạt
động về nhân quyền của chồng tôi tręn
thực tế đă giúp Việt Nam cải thiện
těnh trạng nhân quyền vŕ nâng cao uy tín với thế
giới. Chồng tôi không nói sai sự thực. Lŕ một
luật sư về nhân quyền, chồng tôi đă tiếp
nhận nhiều bằng chứng về việc xâm phạm
quyền tự do tôn giáo ở các địa
phương. Đó lŕ những tŕi liệu về việc
giải tán các buổi nhóm tôn giáo, tịch thu tŕi sản
của tín đồ, người Hmông bị chính quyền
địa phương bắt bỏ đạo hay những
tín đồ Tin lŕnh bị cán bộ công an đánh đập
có thương tích. Chồng tôi đă viết
đơn thư khiếu nại hợp pháp vŕ thường
chọn con đường đối thoại ôn tồn
với các cấp thẩm quyền trước khi
đưa vấn đề ra công luận. Trong một
số trường hợp, nhờ sự lęn tiếng
báo động của chồng tôi mŕ chính quyền trung
ương mới khám phá ra những việc lŕm vi phạm
luật pháp của giới chức địa
phương vŕ đă có biện pháp can thiệp. Ở một
vŕi nơi, těnh hěnh được cải thiện khi sự
chú ý của quốc tế đă khiến chính quyền
trung ương hoặc địa phương phải
quan tâm nhiều hơn đến vấn đề. Một
phần nhờ chồng tôi mŕ Việt Nam đă cải
thiện được těnh hěnh tự do tôn giáo. Vě thế
Hoa kỳ rút tęn Việt Nam ra khỏi danh sách CPC vŕo tháng
11.2006 vừa qua. Nhờ những người như chồng
tôi mŕ chính quyền cũng đă bớt nghi ngờ
đạo Tin lŕnh lŕ đạo Mỹ, lŕ đạo phản
động vŕ cho phép tín đồ Tin lŕnh được
sinh hoạt běnh thường. Từ khi các điểm
nhóm Tin lŕnh được phép sinh hoạt běnh thường
từ giữa năm ngoái thě rő rŕng các sự cố gây
căng thẳng đă giảm, giảm đi rất
nhiều. Việc lŕm nŕy đă góp phần lŕm ổn
định xă hội. Cho nęn những tiếng nói của
những người như chồng
tôi rất cần thiết, cho dů điều nŕy không lŕm
vừa lňng một vŕi nhân vięn chính quyền.
Việc các cơ
quan truyền thông nhŕ nước, bản cáo trạng vŕ bản án sơ thẩm đồng loạt
cho rằng, chồng tôi lŕ luật sư nhưng“chưa
bao giờ bŕo chữa cho ai kể từ ngŕy mở
văn phňng luật sư cho đến ngŕy bị bắt”
lŕ một sự xuyęn tạc vô cůng ác ý, lŕm cho quần
chúng có cái nhěn sai lầm về chồng tôi. Ác ý nŕy cŕng lộ
rő khi bản án sơ thẩm ghi sai sự thật rằng,
chính chồng tôi đă khai nhận điều nŕy trong
phięn xử. Để phản biện,
tôi chỉ cần nęu một số trường hợp
mŕ ai cũng có thể kiểm chứng được.
Ít nhất, chồng tôi đă bŕo chữa cho chị Nguyễn
Thị Thuý lŕ Quản nhiệm Hội thánh Ngũ Tuần
ở thŕnh phố Việt Trě vŕo đầu năm 2000,
đă bŕo chữa cho mục sư Nguyễn Hồng
Quang lŕ tổng thư ký của Giáo hội Mennonite Việt
Nam hồi tháng 04.2005 vŕ đă can thiệp pháp lý cho mục
sư Thân Văn Trường thuộc Giáo hội Báp
Tít Lięn hiệp Việt Nam khi ông bị giam giữ vô cớ
trong bệnh viện tâm thần Bięn Hoŕ từ tháng
09.2004 đến tháng 09.2005. Chồng tôi đă lŕm Uỷ
vięn Pháp chế Hội đồng Quản trị Sản
nghiệp của Tổng hội Tin lŕnh Miền Bắc
vŕ đă tư vấn miễn phí cho
rất nhiều người.
Tręn những bŕi báo trong thời
gian vừa qua đă không thiếu những thông tin sai lạc như tręn. Việc loan tin xấu
đă tạo ra thŕnh kiến xấu về chồng tôi,
gây cho dư luận cảm tưởng rằng, chồng
tôi thực sự có tội vŕ cuối cůng tạo thuận
lợi cho việc kết án chồng tôi. Theo tôi, các
cơ quan điều tra, kiểm sát vŕ
toŕ án đă chỉ lŕm việc với mục đích kết
án chồng tôi.
Việc kết án chồng
tôi trong phięn xử sơ thẩm ở Toŕ án Nhân dân thŕnh
phố Hŕ Nội đă dựa tręn những suy diễn
sai lầm, hậu quả của cách lŕm việc cẩu thả vŕ có thięn kiến của
các cơ quan tiến hŕnh tố tụng. Trước vŕ
trong phięn xử sơ thẩm, các cơ quan nŕy đă vi
phạm nghięm trọng nhiều nguyęn tắc cơ bản
của Bộ luật Tố tụng Hěnh sự Việt
Nam. Cho nęn toŕ đă không těm được
sự thật của vụ án.
Vě vụ án của chồng tôi cần
được nhěn trong một tổng
thể lớn nęn trong phần trěnh bŕy dưới
đây tôi sẽ đóng góp những ý kiến để
lŕm sáng tỏ một số vấn đề về quyền
công dân trong Hiến pháp 1992 (HP) vŕ các Điều ước
Quốc tế trước khi mổ xẻ về những
cáo buộc đối với chồng tôi về tội
“Tuyęn truyền chống Nhŕ nước CHXHCN Việt
Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hěnh sự Việt
Nam.
1) Cần huỷ bỏ bản án
sơ thẩm vě các cơ quan tiến hŕnh tố tụng
đă vi phạm nghięm trọng Hiến pháp vŕ các nguyęn tắc cơ bản của Bộ
luật Tố tụng Hěnh sự
a) Trong giai đoạn trước khi
bị xét xử
Ngay ở
Điều 1 của Chương I, Bộ
luật Tố tụng Hěnh sự (BLTTSHSHhh HS) đă xác định nhiệm
vụ của bộ luật nŕy lŕ xử lý công minh,
không lŕm oan người vô tội vŕ bảo vệ lợi
ích hợp pháp của công dân. Muốn thế BLTTHS phải
được xây dựng tręn những nguyęn tắc cơ bản như được ghi
trong chương II. Nhưng ngay từ trước khi
chồng tôi bị đưa ra toŕ, các cơ quan tiến
hŕnh tố tụng đă vi phạm nặng nề những
nguyęn tắc cơ bản của
BLTTHS. Tôi xin đơn cử như sau:
Tręn nguyęn tắc, chồng tôi phải
được xem lŕ vô tội cho đến khi nhận
được một bản án đă có hiệu lực
pháp luật của Toŕ án. Do đó mọi hŕnh vi kết
tội trước đó của cá nhân, tổ chức
hay cơ quan đều vi phạm quyền được
suy đoán vô tội (Đ.72, HP) vŕ quyền
được tôn trọng về danh dự vŕ nhân phẩm
(Đ.71, HP) của chồng tôi. Thế nhưng khi gặp
tôi ngay sau khi chồng tôi bị bắt giam, các nhân vięn
công an đă khẳng định rằng, chồng tôi sẽ
không thoát khỏi án tů. Dů toŕ chưa xử, công an đă
biết rằng chồng tôi sẽ bị kết án,
đă xem chồng tôi lŕ người có tội, đă
đối xử với chồng tôi như đối
với người có tội khi bắt chồng tôi mặc
quần áo phạm nhân để đưa lęn truyền
hěnh . Công an cũng đă cung cấp
thông tin, hěnh ảnh về hồ sơ vụ án của
chồng tôi cho các cơ quan truyền thông nhŕ nước
để những nơi nŕy khởi động một
chiến dịch bôi nhọ thanh danh vŕ xúc phạm nhân phẩm
của chồng tôi. Tôi đă gửi thư đến
17 cơ quan truyền thông để yęu cầu họ
phải điều tra kỹ lưỡng trước
khi loan những tin xấu như vậy nhưng đến
nay chưa nhận được bất cứ một
sự đáp ứng nŕo. Đoŕn Luật sư Hŕ Nội
đă dựa vŕo sự kiện chồng tôi bị tạm
giam để ra quyết định thu hồi thẻ
luật sư của chồng tôi vŕ Bộ Tư pháp
đă dựa vŕo đó để thu hồi Giấy phép
hŕnh nghề của Văn phňng luật sư Thięn Ân. Những
cơ quan trong ngŕnh luật nŕy đă không cho chồng tôi
có được cơ hội biện hộ vŕ không cần
chờ quyết định có hiệu lực của
toŕ án. Như vậy các cơ quan truyền thông, cơ
quan công an điều tra, Viện kiểm
sát, Đoŕn luật sư Hŕ nội vŕ Bộ tư pháp
đă vi phạm các nguyęn tắc tố tụng cơ bản
lŕ:
• „Không ai bị coi lŕ có tội
khi chưa có bản án kết tội của Toŕ án
đă có hiệu lực pháp luật“ (Đ.9, BLTTHS)
• „Bảo
hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
tŕi sản của công dân“ (Đ.7, BLTTHS),
Các cơ quan tiến hŕnh tố tụng
đă không có thái độ vô tư như luật
pháp đňi hỏi. Sự vô tư của các cơ quan
tiến hŕnh tố tụng vŕ người
tiến hŕnh tố tụng thể hiện ở việc
họ thực hiện đúng, đầy đủ vŕ
khách quan nhiệm vụ của měnh theo luật định
trong quá trěnh tố tụng. Tôi thấy có nhiều chỉ
dấu về sự thiếu vô tư của Viện Kiểm sát vŕ Toŕ án Nhân dân Thŕnh phố
Hŕ Nội. Từ ngŕy nhận hồ sơ
chồng tôi vŕo ngŕy 19.4.2007 đến khi viết xong cáo
trạng vŕo ngŕy 23.4.2007, Viện Kiểm sát Nhân dân Hŕ Nội
đă chỉ cần vỏn vẹn có 4 (bốn)
ngŕy để hoŕn thŕnh tất cả trách vụ
được qui định trong Đ.23 BLTTHS. Viện
kiểm sát đă không tận dụng thời hạn 30 ngŕy mŕ BLTTHS dự trů cho những
vụ án rất nghięm trọng như vụ của chồng
tôi (Đ.166, BLTTHS). Theo tôi, thời gian 4
ngŕy đă không đủ để cho cơ quan nŕy kiểm
soát kỹ lưỡng tính hợp pháp của các thủ
tục truy tố trong một vụ án có số lượng
vật chứng khá lớn (6 CPU, 1 máy tính xách tay, 2 ổ
cứng, 121 tŕi liệu). Đáng lẽ khi nhận
được 2 (hai) đơn thư của tôi khiếu
nại về những cản trở trái pháp luật
trong việc mời luật sư, Viện kiểm sát
đă phải có ngay sự điều chỉnh cần
thiết. Nhưng Viện Kiểm sát Nhân dân thŕnh phố
Hŕ Nội đă không cứu xét những thư khiếu
nại của tôi mŕ vẫn tiếp tục cách lŕm việc
vội vă một cách khó hiểu để đưa ra
một bản cáo trạng với nhiều nhận
định thiếu cơ sở thực tế. Phięn
xử sau nŕy đă sử dụng những nhận
định nŕy để đưa ra những kết
luận sai sót. Viện kiểm
sát đă viết vội vŕng đến nỗi
quęn đánh số công văn vŕ quęn đề ngŕy tháng
tręn bản cáo trạng, khiến cho bản cáo trạng
nŕy tręn nguyęn tắc phải bị toŕ án xem lŕ không hợp
lệ vě đă vi phạm qui định trong Đ. 167
BLTTHS.
Nhưng sự kiện sau đây
đă khiến tôi cũng nghi ngờ luôn cả về sự
độc lập vŕ vô tư của
toŕ án. Vŕo ngŕy 19.4.2007, hăng thông tấn AFP của Pháp
đă dựa vŕo một nguồn tin từ toŕ án để
loan báo một cách vô cůng chính xác rằng, chồng tôi sẽ
bị đưa ra xét xử vŕo ngŕy 11.5.2007. Cần
lưu ý rằng ngŕy 19.4.2007 chính lŕ ngŕy mŕ Sở Công an Hŕ
Nội chuyển hồ sơ của chồng tôi sang
cho Viện Kiểm sát Nhân dân Hŕ Nội. Như vậy
khi sở công an Hŕ Nội vừa kết thúc điều
tra, Toŕ án Nhân dân Hŕ Nội đă ấn định ngay
ngŕy xử chồng tôi - cho dů vŕo lúc đó viện kiểm
sát chưa viết xong cáo trạng vŕ vě thế toŕ án cũng
chưa nhận được hồ sơ của chồng
tôi. Điều nŕy cũng cho thấy rő rŕng rằng toŕ
án đă chỉ muốn đưa chồng tôi ra xét xử
chứ không cần cân nhắc đến những khả
năng giải quyết khác như đă được
qui định trong Đ.176 BLTHS, thí dụ như khả
năng kiểm tra vŕ trả hồ sơ về cho viện
kiểm sát điều tra bổ sung hoặc khả
năng đěnh chỉ vụ án. Sự nghi ngờ nŕy
được xác nhận một lần nữa khi báo
Hŕ Nội Mới số ra ngŕy 25.4.2007 – nghĩa lŕ chỉ
một ngŕy sau khi Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội chính
thức nhận được hồ sơ do Viện
kiểm sát chuyển đến - loan tin rằng chồng
tôi sẽ bị đưa ra xử vŕo ngŕy 11.5.2007. Tôi có cảm tưởng rằng ngay từ
đầu các cơ quan tiến hŕnh tố tụng
đă xác định chung phương hướng kết
tội chồng tôi chứ không có mục đích bảo
vệ sự tự do của chồng tôi vŕ těm ra sự
thật của vụ án. Rő rŕng Viện Kiểm sát Nhân
dân vŕ Toŕ án Nhân dân Hŕ Nội đă vi
phạm nghięm trọng nguyęn tắc tố tụng
cơ bản:
• „Bảo đảm sự vô tư của
những người tiến hŕnh tố tụng“ (Đ.14, BLTTHS)
Các cơ quan công
an vŕ kiểm sát đă cố těnh cản
trở việc bảo vệ chồng tôi khi không cho
chồng tôi được gặp luật sư trong
thời gian trước khi hồ sơ được
chuyển sang toŕ án. Sự gây cản trở bắt
đầu từ những việc nhỏ như không
giao cho chúng tôi lệnh tạm giam, lệnh khám nhŕ, lệnh
khám văn phňng, bięn bản thu giữ tŕi liệu vŕ đồ vật theo đúng những
qui định của các điều 80, 85, 126, 145
BLTTHS, mặc dů tôi đă lŕm đơn khiếu nại
nhiều lần. Vě không có các giấy tờ nŕy nęn vợ
chồng tôi đă không biết chúng tôi bị thu giữ
đồ vật gě vŕ trong một thời gian dŕi chúng
tôi đă không biết một cách chính xác rằng chồng
tôi bị khởi tố về tội gě.
Ngay sau khi chồng
tôi bị bắt vŕo ngŕy 6.3.2007, tôi đă nhiều lần
xin phép công an điều tra cho chồng tôi gặp luật
sư nhưng không được công an đáp ứng.
Đến ngŕy 5.4.2007 luật sư của chồng tôi
gửi cho Sở Công an thŕnh phố Hŕ Nội đơn
yęu cầu được cấp Giấy chứng nhận
bŕo chữa. Công an điều tra vięn chỉ trả lời
miệng rằng „vě chồng bŕ bị buộc tội
trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia nęn luật
sư không được tham gia trong giai đoạn
điều tra“. Nếu đúng như vậy thě chiểu
theo Đ.58 BLTHS, chính Viện trưởng Viện Kiểm
sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội phải ra quyết
định đó. Tręn thực tế tôi đă không nhận
được bất kỳ một văn bản nŕo
từ phía Sở Công an Hŕ Nội hay Viện Kiểm sát
Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội trả lời về việc
hạn chế tham gia tố tụng của luật
sư trong vụ án của chồng tôi. Việc mời
luật sư của chồng tôi đă bị treo lửng
cho đến khi hồ sơ được chuyển
sang toŕ án. Vě luật sư của chồng tôi không
được tham gia ngay từ đầu vŕo việc
tố tụng cho nęn nhiều quyền lợi hợp
pháp của chồng tôi đă không được bảo
vệ. Vě luật sư không nhận được bản
kết luận điều tra của Sở Công an thŕnh
phố Hŕ Nội (Đ.162, BLTTHS) cũng như bản
cáo trạng của Viện Kiểm
sát Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội (Đ.166, BLTTHS) nęn luật
sư không kịp thời biết được quan
điểm của các cơ quan tiến hŕnh tố tụng
về các sự kiện xảy ra, các chứng cứ
buộc tội vŕ hướng giải quyết của
họ để bảo vệ cho chồng tôi một
cách có hiệu quả.
Măi đến ngŕy 2.5.2007 luật sư
của chồng tôi mới được Toŕ án Nhân dân
thŕnh phố Hŕ Nội cấp „Giấy chứng nhận
bŕo chữa“. Nếu tính đến ngŕy 10.5.2007 vŕ trừ đi các ngŕy nghỉ cuối tuần,
luật sư của chồng tôi chỉ cňn thời gian
tổng cộng lŕ 7 ngŕy lŕm việc để chuẩn
bị cho việc bŕo chữa cho chồng tôi vŕ cô Lę Thị
Công Nhân. Rő rŕng thời gian nŕy quá ngắn
ngủi để luật sư có thể chu toŕn công việc
xem xét số tŕi liệu lớn lao, gặp thân chủ,
thu thập chứng cứ để bŕo chữa
(Đ.58, BLTHS). Nếu xem đây lŕ một
vụ án phức tạp đă được hŕng
trăm bŕi báo, bŕi tường thuật tręn các
phương tiện truyền thông nhŕ nước đề
cập lięn tục trong nhiều tuần lięn tiếp thě
bęn bị cáo đă bị lép vế rő rŕng so với bęn
công tố vě thời gian dŕnh cho việc điều tra vŕ buộc tội (từ 3.2.2007 đến
19.4.2007) dŕi gấp 10 lần so với thời gian để
chuẩn bị bŕo chữa. Tóm lại Sở Công an, Viện
Kiểm sát Nhân dân vŕ Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội
đă vi phạm nguyęn tắc tố tụng cơ bản
về việc
• Bảo
đảm quyền bŕo chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo (Đ.11, BLTTHS)
Trong thời gian chồng
tôi bị giam vŕ chờ bị
đưa ra xét xử, tôi đă gửi tổng cộng
61 đơn khiếu nại hoặc thư
đề nghị, trong đó có 24 đơn gửi
đến các cơ quan chức năng lięn hệ vŕ 37
đơn gửi đến các cơ quan có nhiệm vụ
lănh đạo, giám sát để yęu cầu tôn trọng
hoặc can thiệp để bảo vệ các quyền
hợp pháp của chồng tôi. Nhưng đến nay
tôi chưa nhận được của
các cơ quan giám sát một sự trả lời nŕo về
các vấn đề tố tụng. Vě những vi phạm nŕy đă giới hạn nghięm trọng quyền bŕo chữa
của chồng tôi nęn tôi đă lŕm đơn xin hoăn
phięn xử vŕo ngŕy 4.5.2007. Đơn nŕy được
gửi đến 16 cơ quan chức năng nhưng
đến nay tôi đă không nhận được hồi
âm. Như vậy các cơ quan chức năng đă vi
phạm các nguyęn tắc tố tụng cơ bản:
•
„Tôn trọng vŕ bảo vệ các
quyền cơ bản của công dân“ (Đ.4, BLTTHS),
•
„Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hěnh sự“
(Đ.31, BLTTHS),
•
„Giám sát của cơ quan, tổ chức,
đại biểu dân cử đối với hoạt
động của cơ quan tiến hŕnh tố tụng,
người tiến hŕnh tố tụng“ (Đ.32,
BLTTHS)
b) Trong phięn xử sơ thẩm
Phięn
xử sơ thẩm diễn ra vŕo ngŕy 11.5.2007 cũng
đă vi phạm nghięm trọng những nguyęn tắc
cơ bản của BLTTHS.
Phięn xử đă không đạt các tięu chuẩn công
khai mặc dů toŕ không thông báo xử kín. Khi tham dự,
tôi có cảm tưởng rằng, những người
có mặt hôm đó thuộc thŕnh phần được
chọn lọc. Trong số những người tham dự
tôi nhận thấy nhiều khuôn mặt quen thuộc
lŕm việc trong các cơ quan công an. Người thân,
người quen vŕ bạn bč của các bị cáo đă
không thể vŕo tham dự phięn xử. Họ
bị chặn lại ngoŕi cổng toŕ vě không có giấy
mời. Mỗi bị cáo chỉ có duy nhất một
thân nhân trực hệ được tham gia nhưng họ
chỉ vŕo được phňng xử sau khi phięn toŕ
đă bắt đầu. Họ bị đưa ngồi
vŕo hŕng ghế sau cůng của phňng xử nęn không thể
nghe rő hết phięn xử nŕy. Các quan
sát vięn quốc tế vŕ phóng vięn bị hạn chế sự
quan sát vě họ bị đưa vŕo một phňng rięng
để theo dői phięn xử qua mŕn ảnh truyền
hěnh. Lời nói trong phięn toŕ được phát qua hệ
thống loa. Trong khi lời nói
của thẩm phán chủ toạ vŕ kiểm sát vięn luôn
luôn được nghe thấy rất đầy đủ
thě nhiều lúc lời phát biểu của các luật
sư vŕ bị cáo đă không nghe được rő rŕng.
Sự kiện nŕy đă khiến cho người tham dự
không hiểu đầy đủ lý luận của
phía bị cáo vŕ luật sư, đă cười chế
giễu vŕ tạo nęn một áp lực đč nặng lęn
tâm lý các bị cáo vŕ luật sư. Thẩm phán chủ
toạ đă không can thiệp để thay đổi
těnh trạng nŕy. Như vậy Toŕ án Nhân dân thŕnh phố
Hŕ Nội đă vi phạm nguyęn tắc tố tụng
cơ bản về:
• Xét
xử công khai (Đ.18, BLTTHS).
Cách
bố trí chỗ ngồi trong phňng xử đă tố
cáo một sự thięn vị rő rŕng. Trong khi 2 kiểm
sát vięn được ngồi gần nhau tręn bục
cao thě 2 luật sư của chồng tôi đă bị sắp
xếp ngồi cách xa nhau. Họ không thể trao đổi
với nhau vŕ với chồng tôi. Trong phięn xử, các bị
cáo không được đối xử běnh đẳng
vě họ không được cho nghe phần xét hỏi
các người lŕm chứng. Tất
cả các nhân chứng được thẩm phán chủ
toạ mời ra xét hỏi đều lŕ nhân chứng
buộc tội. Nhân chứng gỡ tội do chồng
tôi mời đă không được chủ toạ mời
tham gia phần xét hỏi nhân chứng tại toŕ. Thẩm
phán chủ toạ cũng đă không mời luật
sư xét hỏi các nhân chứng.
Bị
cáo vŕ luật sư đă không được phép đề
cập đến hoặc tranh luận vŕ bŕo chữa về
các vấn đề tôn giáo, tổ chức chính trị
vŕ đảng phái. Trong khi đó kiểm sát vięn lại
được nói về vấn đề nŕy, tạo ấn
tượng sai lầm rằng chồng tôi chống Nhŕ
nước một cách có tổ chức.
Trong phần phát biểu sau cůng dŕnh
cho bị cáo, thẩm phán chủ tọa đă nhiều
lần cắt lời chồng tôi vŕ mặc dů chồng
tôi có yęu cầu chủ toạ không được giới
hạn thời gian phát biểu vě lŕm như thế lŕ vi
phạm Đ.220 BLTTHS.
Bản
án sơ thẩm đă phạm một
lỗi lầm nghięm trọng khi không ghi trung thực lại
diễn biến của phięn xử, đặc biệt
ở những đoạn lięn quan đến lời
khai của chồng tôi trước toŕ. Ở nhiều
chỗ, bản án ghi rằng chồng
tôi đă khai nhận một việc nŕo đó mặc dů
tại phięn xử chồng tôi đă nói rő rŕng lŕ hoặc
không thừa nhận, hoặc chỉ thừa nhận một
phần hay không nhớ rő điều đó. Việc ghi
sai nŕy đă tạo ngộ nhận tai hại rằng
chồng tôi đă thú nhận tội lỗi vŕ việc
kết án của toŕ lŕ đúng. Do
đó Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă vi phạm
nghięm trọng các nguyęn tắc tố tụng cơ bản
sau đây:
• Xác
định sự thật của vụ án (Đ.10,BLTTHS)
• Bảo
đảm quyền běnh đẳng trước Toŕ án (Đ.19,BLTTHS)
• Bảo
đảm quyền bŕo chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo (Đ.11,BLTTHS)
Như thế việc
xét xử chồng tôi đă không diễn ra một cách
công bằng theo thủ tục luật định. Sự thật của vụ án do
đó đă không được xác định một
cách khách quan, toŕn diện vŕ đầy
đủ vě trong tiến trěnh tố tụng đă xảy
ra những vi phạm nghięm trọng BLTTHS. Vě các cơ
quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm nghięm trọng
quá nhiều nguyęn tắc cơ bản
của BLTTHS nęn toŕ phúc thẩm không thể chỉ sửa
mŕ cần huỷ bỏ toŕn bộ bản án sơ thẩm
(BAST).
2) Chồng tôi đă thực thi
các quyền công dân được ghi trong Hiến pháp
CHXHCNVN 1992 vŕ được bảo
đảm bởi các điều ước quốc tế
về quyền con người mŕ Nhŕ nước Việt
Nam đă tham gia ký kết
Theo Hiến pháp CHXHCNVN 1992
(HP 1992), công dân có các quyền hiến định về
dân sự như quyền tự do ngôn luận, quyền
tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền
lập hội theo qui định của pháp luật
(Đ.69, HP), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
(Đ.70, HP), quyền bất khả xâm phạm về
danh dự, nhân phẩm (Đ.71, HP), quyền nghięn cứu
khoa học vŕ tham gia các hoạt động
văn hoá (Đ.60, HP), quyền được tham gia
thảo luận các vấn đề chung của cả
nước (Đ.53, HP) vŕ quyền khiếu nại
(Đ.74, HP). Chồng tôi trong tư cách lŕ một luật
sư có ý thức về chức năng xă hội của
měnh đă cương quyết thực thi vŕ bảo vệ đầy đủ những
quyền hiến định nŕy vě đây lŕ những
thŕnh tựu của quá trěnh dân chủ hoá đất
nước.
Trong HP 1992 vŕ
các văn bản quy phạm luật Việt Nam người
ta không těm thấy định nghĩa về quyền tự
do ngôn luận. Tuy nhięn vě Việt Nam đă gia nhập
Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự
vŕ Chính trị (CƯQT QDSCT) vŕo ngŕy 24.9.1982 vŕ vě Việt
Nam không đưa ra bảo lưu nŕo khi ký kết Công
ước nŕy cho nęn các định nghĩa về quyền
tự do ngôn luận trong Điều 19 CƯQT QDSCT mặc
nhięn được áp dụng một cách đầy
đủ vŕ trọn vẹn cho các quyền dân sự
tương ứng ghi trong HP 1992 như quyền tự
do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền
được thông tin, quyền tự do tôn giáo, quyền
nghięn cứu khoa học vŕ tham gia các hoạt động
văn hoá vŕ quyền được tham gia thảo luận
các vấn đề chung của cả nước.
Ngoŕi ra, Luật Ký kết,
Gia nhập vŕ Thực hiện Điều
ước Quốc tế do Quốc hội Việt Nam
ban hŕnh ngŕy 14.06.2005 định nghĩa rất rő rằng
“Gia nhập lŕ hŕnh vi pháp lý do Quốc hội, Chủ
tịch nước hoặc Chính phủ thực hiện
để chấp nhận sự rŕng buộc của
điều ước quốc tế nhiều bęn đối
với nước CHXHCNVN” (Đ.2 K10). Luật nŕy cũng
qui định việc ưu tięn áp dụng điều
ước quốc tế tại Điều 6: “Trong trường hợp văn bản
quy phạm luật vŕ điều ước quốc tế
mŕ CHXHCNVN lŕ thŕnh vięn có quy định khác nhau về cůng
một vấn đề thě áp dụng quy định của
điều ước quốc tế”. Như vậy Nhŕ nước Việt Nam đă
thừa nhận cho mọi công dân Việt Nam quyền tự
do ngôn luận đầy đủ theo như quy định
của điều 19 CƯQT QDSCT.
Điều 19 CƯQT QDSCT quy
định rằng:
(1) Mỗi người
có quyền giữ vững quan điểm mŕ không bị
ai can thiệp;
(2) Mỗi người
có quyền tự do bŕy tỏ; quyền nŕy bao gồm
quyền tự do těm kiếm, tiếp nhận vŕ phổ
biến mọi loại thông tin vŕ ý kiến bằng cách
truyền khẩu, bằng bút tự hay ấn phẩm,
dưới hěnh thức nghệ thuật, hay bằng mọi
phương tiện truyền thông tự chọn khác,
không kể bięn giới quốc gia;
(3) Việc hŕnh sử
những quyền được ghi tại khoản 2
nęu tręn đňi hỏi đương sự phải có
những trách nhiệm vŕ bổn phận đặc biệt.
Do đó quyền nŕy chỉ có thể chịu một số
giới hạn nhất định nŕo đó, nhưng
những giới hạn nŕy phải được qui
định bởi luật pháp vŕ vě nhu cầu:
a) tôn
trọng quyền tự do vŕ thanh
danh của người khác;
b) bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự
công cộng, sức khoẻ công cộng vŕ đạo
lý công cộng .
Article 19 International Covenant on
Civil and Political Rights
1.
Everyone shall have the right to hold opinions without interference.
2.
Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall
include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all
kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in
the form of art, or through any other media of his choice.
3.
The exercise of the rights provided for in paragraph 2 of this article
carries with it special duties and responsibilities. It may therefore be
subject to certain restrictions, but these shall only be such as are
provided by law and are necessary:
(a) For respect of the
rights or reputations of others;
(b)
For the protection of national security or of public order (ordre
public), or of public health or morals.
Uỷ ban Nhân quyền
Lięn Hiệp Quốc (Human Rights Committee) lŕ cơ chế
được LHQ giao cho nhiệm vụ giám sát việc
thi hŕnh CƯQT QDSCT ở tại các quốc gia thŕnh vięn vŕ nhiệm vụ diễn giải tổng
quát về các điều khoản trong Công ước
nŕy. Những diễn giải nŕy sẽ giúp cho các quốc
gia thŕnh vięn thực thi Công ước một
cách đúng đắn hơn. Các quốc gia thŕnh
vięn có trách nhiệm phải gửi báo cáo định kỳ
về việc thực thi CƯQT QDSCT đến Uỷ
ban Nhân quyền LHQ nŕy. Trong văn bản CCPR/C/21/Rev.1
(19.05.1989) Uỷ ban nŕy đă giải thích rő về các
khoản 1, 2 vŕ 3 trong Điều 19
CƯQT QDSCT về quyền tự do ngôn luận như
sau (trích đoạn):
1)
Khoản 1 (của Điều 19 CƯQT QDSCT, tôi chú
thích) đňi hỏi phải bảo vệ “Quyền
giữ vững quan điểm mŕ không bị ai can thiệp”. CƯQT QDSCT không chấp
nhận bất cứ một hạn chế hoặc
ngoại lệ nŕo đối với quyền nŕy (...)
2) Khoản 2 qui
định về việc bảo vệ quyền tự
do bŕy tỏ. Quyền nŕy không chỉ bao gồm
“quyền phổ biến mọi loại
thông tin vŕ ý kiến” mŕ cňn gồm cả quyền tự
do “těm kiếm” vŕ “tiếp nhận” những thông tin vŕ ý
kiến nŕy dưới bất kể hěnh thức nŕo, “bằng
cách truyền khẩu, bằng bút tự hay ấn phẩm,
dưới hěnh thức nghệ thuật, hay bằng mọi
phương tiện truyền thông tự chọn khác,
không kể bięn giới quốc gia”(…)
3) …
4) Khoản 3
đặc biệt nhấn mạnh rằng việc thực
thi quyền tự do bŕy tỏ cũng gắn liền với
những trách nhiệm vŕ bổn phận
đặc biệt. Vě thế CƯQT QDSCT cho phép (các quốc
gia thŕnh vięn, tôi chú thích) đặt ra một số hạn
chế đối với quyền nŕy trong trường
hợp có lięn quan đến quyền lợi của các
cá nhân khác hoặc quyền lợi của toŕn thể cộng
đồng. Tuy nhięn nếu một quốc gia thŕnh vięn
muốn giới hạn quyền tự
do bŕy tỏ thě việc đó không được phá hỏng
tự thân quyền nŕy. Khoản 3 đặt ra những
điều kiện vŕ chỉ cho phép
(quốc gia thŕnh vięn, tôi chú thích) đưa ra những hạn
chế trong (khuôn khổ của, tôi chú thích) các điều
kiện nŕy: việc hạn chế phải được
“qui định bằng một đạo luật”; những
hạn chế nŕy chỉ được đặt ra
vě một trong các mục đích qui định bởi
điểm a vŕ b của khoản 3; vŕ quốc gia thŕnh
vięn phải biện minh được “sự cần
thiết” của những hạn chế nŕy vě các mục
đích đó.
Text of general comment :
1. Paragraph
1 requires protection of "the right to hold opinions without
interference". This is a right to which the Covenant permits no
exception or restriction. The Committee would welcome information from
States parties concerning paragraph
2. Paragraph
2 requires protection of the right to freedom of expression, which
includes not only freedom to "impart information and ideas of all
kinds", but also freedom to "seek" and "receive"
them "regardless of frontiers" and in whatever medium,
"either orally, in writing or in print, in the form of art, or
through any other media" of one's choice. Not all States parties
have provided information concerning all aspects of the freedom of
expression. For instance, little attention has so far been given to the
fact that, because of the development of modern mass media, effective
measures are necessary to prevent such control of the media interfere
with the right of everyone to freedom of expression in a way that is not
provided for in paragraph
3. Many
reports of States parties confine themselves to mentioning that freedom
of expression is guaranteed under the Constitution or the law. However,
in order to know the precise regime of freedom of expression, in law and
in practice, the Committee needs in addition pertinent information about
the rules which either define the scope of freedom of expression or which
set forth certain restrictions, as well as any other conditions which in
practice affect the exercise of this right. It is the interplay between
the principle of freedom of expression and such limitations and
restrictions which determines the actual scope of the individual's right.
4. Paragraph
3 expressly stresses that the exercise of the right to freedom of
expression carries with it special duties and responsibilities and, for
this reason certain restrictions on that right are permitted which may
relate either to the interests of other persons or to those of the
community as a whole. However, when a State party imposes certain
restrictions on the exercise of freedom of expression, these may not put
in jeopardy the right itself. Paragraph 3 lays down conditions and it is
only subject to these conditions that restrictions may be imposed: the
restrictions must be "provided by law"; they may only be
imposed for one of the purposes set out in subparagraphs (a) and (b) of
paragraph 3; and they must be justified as being "necessary" for
that State party for one of those purposes.
Việt Nam đă sống
trong hoŕ běnh vŕ đă phát triển ổn
định từ năm 1975. Trong những năm qua Việt
Nam không có cuộc bạo loạn nŕo ở tầm mức quốc gia. Do đó theo quan
điểm của luật quốc tế, Việt Nam
không nằm trong těnh trạng mŕ cả nước bị
đe doạ về mặt chính trị hoặc
an ninh hay trật tự. Ngoŕi ra, cũng theo quan điểm
nŕy, sự kiện Việt Nam không ban hŕnh một đạo
luật rięng biệt nŕo để giới
hạn quyền tự do ngôn luận theo các mục
đích được ghi rő trong Điều 19, Khoản
3, điểm a vŕ b của CƯQT QDSCT lŕ một chứng
cứ cho thấy Nhŕ nước CHXHCNVN đă mặc
nhięn công nhận cho công dân Việt Nam có đầy
đủ quyền tự do có quan điểm rięng vŕ
quyền tự do bŕy tỏ theo Điều 19 khoản
1 vŕ 2 của CƯQT QDSCT mŕ không chịu bất cứ
một giới hạn luật định nŕo cả.
Nói cách khác, nếu có một văn bản luật hay
dưới luật nŕo giới hạn
quyền tự do ngôn luận thě văn bản nŕy phải
bị xem vi phạm việc ký kết gia nhập vŕ
chính CƯQT QDSCT.
Việc chồng tôi có
quan điểm chính trị rięng, việc chồng tôi sử
dụng quyền bŕy tỏ một cách ôn hoŕ qua những
bŕi viết hoặc phát biểu hay
trao đổi, hŕnh động tiếp nhận vŕ phổ
biến bŕi viết hoặc ý kiến với người
khác, dů người đó đang ở bất cứ
nơi nŕo tręn thế giới lŕ những điều
hoŕn toŕn phů hợp với quyền tự do ngôn luận
trong Hiến pháp 1992 vŕ CƯQT QDSCT của LHQ. Như đă nęu ở tręn,
khi Việt Nam đă hội nhập thế giới vŕ gia nhập những điều ước
quốc tế, thě lý luận cho rằng, nếu lŕ công
dân Việt Nam thě chồng tôi “phải tuyệt đối
chấp hŕnh pháp luật của Việt Nam, nếu vi phạm
thě sẽ phải bị nghięm trị theo quy định
của pháp luật Việt Nam” (BAST, tr. 10) lŕ một
lý luận cần nhưng không đủ. Không đủ
vě ở đây toŕ sơ thẩm chỉ muốn giới hạn vŕo luật hěnh sự mŕ không xét
đến các bộ luật khác vŕ không xét đến sự
mâu thuẫn có thể xảy ra giữa luật hěnh sự
vŕ điều ước quốc tế mŕ Việt Nam
đă tham gia ký kết. Muốn cho đầy đủ
thě cần phải xem Luật quốc tế vŕ Luật
Việt Nam như lŕ một kết cấu chặt chẽ
được rŕng buộc bằng Luật Ký kết,
Gia nhập vŕ Thực hiện Điều ước Quốc
tế 2005. Nếu luật Việt Nam đă
được thích ứng với điều ước
quốc tế thě sự phân biệt giữa luật Việt
Nam vŕ luật quốc tế không cần
phải đặt ra nữa. Cňn trong trường hợp
luật Việt Nam chưa thích ứng được
với điều ước quốc tế thě điều
6 của Luật Ký kết, Gia nhập vŕ Thực hiện
Điều ước Quốc tế cho phép ưu tięn
áp dụng điều ước quốc tế. Một
cách cụ thể, nếu xét thấy Đ.88 Bộ
luật Hěnh sự (BLHS) không phů hợp với điều
ước quốc tế thě Nhŕ nước Việt Nam
sẽ phải huỷ bỏ hay
ngưng thi hŕnh nó.
Không phải chỉ có một měnh
chồng tôi nhận thấy rằng hiện Việt
Nam ta có nhiều quy phạm luật vŕ
quy phạm dưới luật về quyền con
người vŕ quyền công dân chưa hoŕn toŕn phů hợp
với quy phạm của Hiến pháp. Quan điểm
nŕy được nhiều nhŕ nghięn cứu chia xẻ,
thí dụ như PGS TS Nguyễn Văn Động viết
trong sách “Quyền Con Người, Quyền
Công Dân Trong Hiến Pháp Việt Nam” (nxb Khoa học Xă hội,
8.2005). Cũng như nhiều người khác, chồng
tôi cũng nęu lęn những ý kiến về việc phải
có một Toŕ án Hiến pháp để phán xét về
tính hợp hiến của các quy phạm luật vŕ
dưới luật. Một vấn đề lớn
khác đang được xă hội thảo luận lŕ
việc nội luật hoá trong Hiến pháp vŕ luật
pháp các điều ước quốc tế về quyền
con người mŕ Nhŕ nước Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập mŕ, theo PGS TS Nguyễn Văn Động,
việc tôn trọng vŕ thực hiện nghięm chỉnh
các điều ước lŕ nghĩa vụ của nhŕ
nước vŕ nhân dân (sđd, tr. 231). Do đó những
phát biểu vŕ bŕi viết của chồng
tôi lięn quan đến các vấn đề tręn cần
được xem lŕ những đóng góp xây dựng
để hoŕn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam vŕ để Việt Nam hội nhập trọn vẹn
vŕo cộng đồng quốc tế.
Cũng cần
nhấn mạnh rằng, chồng tôi không phải lŕ
người duy nhất thực thi các quyền công dân
hiến định. Từ trước khi chồng tôi bị giam giữ
cho đến nay, đă có rất nhiều trí thức,
nhŕ nghięn cứu, luật sư, chuyęn vięn, cán bộ cao cấp,
đại biểu quốc hội
vŕ những nhŕ lănh đạo Đảng vŕ Nhŕ nước
khác – dů cňn tại chức hay đă về hưu –
đă thực hiện quyền tự do ngôn luận hiến
định nŕy tręn các phương tiện thông tin đại
chúng ở trong cũng như ở ngoŕi nước.
Không khác gě chồng tôi, họ cũng tham gia đóng góp
những ý kiến sôi nổi về các vấn đề
như Điều 4 Hiến Pháp, quan niệm đảng
lănh đạo, đa nguyęn, đa đảng, dân chủ,
nhân quyền, hoŕ giải với cộng đồng
người Việt hải ngoại. Thông thường,
Nhŕ nước cần khuyến khích
một nền văn hoá trao đổi quan điểm
một cách ôn hoŕ như thế về những vấn
đề của đất nước.
3) Chồng tôi không vi phạm
điều 88 của Bộ luật hěnh sự
a) Bản
án dựa tręn nhiều kết quả điều tra thiếu
chính xác để kết luận hŕm hồ
Bản án hěnh sự sơ thẩm
số 153/2007/HSST đă dựa tręn thięn kiến buộc
tội vŕ những điều tra cẩu
thả của cơ quan công an nęn có nhiều kết luận
hŕm hồ đến mức phi lý.
Ngay trong phần mở
đầu, bản án đă cố těnh tạo ra ấn
tượng phạm tội bằng một sự kiện
bắt quả tang: “Sáng ngŕy 03.02.2007, tại văn
phňng luật sư Thięn Ân - số 10 Đoŕn Trần Nghiệp,
Cơ quan an ninh điều tra Công an thŕnh phố Hŕ Nội
vŕ Bộ Công an phát hiện Lę Thị
Công Nhân đang tuyęn truyền chống Nhŕ nước Cộng
hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam vŕ xuyęn tạc
các chủ trương chính sách của nhŕ nước
ta về dân chủ, nhân quyền cho 03 sinh vięn Khoa Báo chí
Trường Cao đẳng phát thanh truyền hěnh I Hŕ
Nam” (BAST, tr. 2). Đây lŕ một xác định ngây
ngô. Sự thật lŕ vŕo ngŕy 3.2.2007, luật sư Lę Thị
Công Nhân chỉ vừa kịp chŕo hỏi vŕ
phát bŕi viết “Nhân phẩm, nền tảng của nhân
quyền” cho 3 sinh vięn Hŕ Nam thě công an đă ập vŕo.
Theo lời khai thống nhất của Lę Thị Công
Nhân, Phạm Văn Trội vŕ Bạch
Ngọc Dương, mọi việc diễn ra trong khoảng
thời gian chưa đầy 5 (năm) phút thě công an
đă đến giải tán vŕo lúc 10g10’. Ngay
cả Giáp Văn Hiếu lŕ người được
Viện Kiểm sát mời ra lŕm nhân chứng cũng
khai trước toŕ rằng, ông “chưa kịp đọc
tŕi liệu thě công an đă vŕo bắt”. Năm (5)
phút lŕ thời gian rất ngắn ngủi vŕ chắc chắn không thể đủ
để cho Lę Thị Công Nhân lŕm công việc to tát kinh
khủng lŕ “tuyęn truyền chống Nhŕ nước …
vŕ xuyęn tạc các chủ trương chính sách của
nhŕ nước ta về dân chủ, nhân quyền”. Cũng
cần nói thęm rằng, bŕi “Nhân phẩm, nền tảng
của nhân quyền” lŕ một bŕi nghięn cứu học
thuật của tiến sĩ triết
học Đỗ Mạnh Tri ở Pháp. Tính
học thuật thể hiện ngay tại đầu
bŕi khi tác giả Đỗ Mạnh Tri ghi rő “cách trěnh
bŕy důng phương pháp phân tách, lồng vŕo phương
pháp lịch sử. Nói cách khác: dựa vŕo một
vŕi mốc lịch sử để tiếp cận ý niệm
nhân phẩm vŕ dẫn chứng tính
cách nền tảng của ý niệm nŕy trong tiến
trěnh nhận thức vŕ đề cao nhân quyền”. Về
nội dung, bŕi nŕy đă důng một số ý niệm triết
học vŕ thần học vŕ không có một
ý nŕo hoặc một chữ nŕo đả động
đến Việt Nam. Khi toŕ chấp nhận một kết
luận hoŕn toŕn không có cơ sở thực tế, không
hợp lý vŕ sai sự thật như
vậy, tôi cho rằng toŕ đă có sẵn thŕnh kiến với
các bị cáo.
Toŕ sơ thẩm
đă tiếp nhận một cách thiếu suy xét nhiều
ý kiến khác của cơ quan điều
tra. Cũng giống như cáo trạng, bản án đă
gộp chung nhiều người, nhiều
việc không lięn quan vŕo với nhau để tạo cảm
tưởng về sự nghięm trọng vŕ rằng chồng
tôi lŕ người cầm đầu xúi giục. Bản
án viết: “cơ quan an ninh điều tra cňn xác
định Phạm Văn Trội vŕ 4 nhân vięn văn
phňng luật sư Thięn Ân lŕ: Phạm Sỹ Nguyęn, Nguyễn
Xuân Đệ, Trần Thanh vŕ Nguyễn Thị
Hương Lan do bị Nguyễn Văn Đŕi vŕ Lę Thị
Công Nhân tuyęn truyền lôi kéo nęn đă tham gia vŕo các hoạt
động tuyęn truyền xuyęn tạc chống nhŕ
nước“ (BAST, tr. 3). Trước hết,
những nhân sự tręn không lŕm việc tręn cůng lănh vực
với nhau. Ông Phạm Văn Trội lŕ thŕnh vięn của Uỷ ban Nhân quyền Việt Nam. Ông
Nguyễn Xuân Đệ lŕ nhân vięn lái xe vŕ
bŕ Trần Thanh lŕ nhân vięn trong công ty trách nhiệm hữu
hạn Việt Luật. Chỉ rięng bŕ Nguyễn Thị
Hương Lan lŕ kế toán vięn vŕ ông Phạm Sỹ
Nguyęn lŕ nhân vięn của văn phňng luật sư Thięn Ân.
Năm người nŕy có những công việc
lŕm hŕng ngŕy khác nhau, có người chỉ lŕm những việc
rất chuyęn môn như lái xe hay kế toán. Những
nhân vięn thuộc 2 văn phňng khác nhau của chồng
tôi đă khai rằng, họ không có hoạt động
tuyęn truyền xuyęn tạc chống Nhŕ nước vŕ do đó cũng không bị ai lôi kéo cả.
Ông Trội lŕ người hoạt
động độc lập vŕ cũng khai không bị
chồng tôi lôi kéo. Việc thẩm phán chủ toạ
Nguyễn Hữu Chính không mời ông Phạm Văn Trội
vŕ các nhân vięn của chồng tôi tham
gia phần xét hỏi nhân chứng tại phięn toŕ ngŕy
11.05.2007 đă khiến cho sự thật của vụ
án bị bóp méo theo hướng bất lợi cho chồng
tôi.
b) Điều 88 BLHS có nhiều
khái niệm quá mơ hồ vŕ bao quát
Từ ngŕy BLHS 1999 được
ban hŕnh đến nay, Nhŕ nước đă chưa có
văn bản pháp luật nŕo để hướng dẫn
về nội hŕm của các hŕnh vi
được ghi trong Chương “Xâm phạm An ninh
Quốc gia” của bộ luật nŕy, ở đây cụ
thể lŕ các hŕnh vi theo Đ.88 BLHS. Thế nŕo lŕ chống?
Chống Nhŕ nước, chống chính quyền lŕ gě?
Hŕnh vi như thế nŕo vŕ ở mức độ nŕo thě
bị gọi lŕ chống Nhŕ nước, chống chính
quyền? Tuyęn truyền lŕ gě, hoạt động ở
mức độ nŕo thě bị xem lŕ tuyęn truyền? Phę
běnh chính sách của Đảng hoặc của Nhŕ
nước, phę běnh hoặc tố cáo các hŕnh vi vi hiến,
vi luật của cán bộ Đảng, cán bộ công
nhân vięn chức Nhŕ nước, nęu lęn những sự thật
lịch sử có bị xem lŕ hŕnh vi xuyęn tạc, phỉ
báng chính quyền không? Như thế nŕo lŕ tuyęn truyền
những luận điệu chiến tranh tâm lý? Tuyęn
truyền như thế nŕo thě bị xem lŕ gây hoang mang
trong nhân dân? Hŕnh vi lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh các tŕi liệu
lŕ gě vŕ ở mức độ nŕo thě bị xem lŕ phạm
luật? Những khái niệm nŕy đến nay vẫn
cňn rất mơ hồ vŕ bao quát khiến ai muốn hiểu
thế nŕo cũng được. Nói chung các luật
gia, các nhŕ nghięn cứu ở Việt Nam vẫn cňn xem những
vấn đề vừa kể thuộc vŕo loại
chính trị “nhạy cảm” nęn đă tránh né các vấn
đề nŕy vŕ không có công trěnh nghięn cứu lŕm sáng tỏ
các khái niệm tręn. Họ vẫn cňn mang mặc cảm
sợ sệt mŕ quęn rằng Việt Nam đang ở
trong hoŕn cảnh mới, đang hội nhập quốc
tế, đang xây dựng Nhŕ nước pháp quyền
vŕ đang cần těm sự hoŕ hợp giữa những
điều khoản trong Chương Xâm phạm An ninh
Quốc gia của BLHS, những quyền công dân trong Hiến
pháp vŕ nhân quyền trong điều ước quốc
tế. Vě luật pháp không rő rŕng, vě không có cách hiểu
chính thống nęn trong xă hội đă có nhiều cách hiểu
khác nhau. Công dân nŕo bạo dạn thě cho rằng, měnh có
quyền lŕm những gě mŕ pháp luật không cấm, công
dân nŕo yếu đuối thě bị hoang mang không dám sử
dụng quyền công dân hiến định của měnh
một cách đúng mức. Cňn cơ quan thực thi pháp
luật lại có cách hiểu rięng, áp dụng co giăn tuỳ
tiện, khi bắt giam người nŕy khi lŕm ngơ
người kia, lúc đưa ra truy tố lúc lại áp
dụng biện pháp hŕnh chánh, khiến cho việc áp dụng
luật không được nghięm minh, lŕm cho dân chúng
hoang mang vě không biết hŕnh động thế nŕo cho
đúng ý Nhŕ nước. Theo tôi, Nhŕ nước pháp quyền
Việt Nam không thể để cho một điều
luật quan trọng như Đ.88 BLHS bị diễn
giải tuỳ tiện như thế được.
Do đó các cơ quan nhŕ nước có chức năng lập
pháp phải có nhiệm vụ mau chóng lŕm rő các khái niệm
của Đ.88 BLHS. Trong khi chờ đợi, Nhŕ nước
có thể tạm hoăn áp dụng Điều 88 nŕy dựa
tręn nguyęn tắc “Không có tội khi không có luật”
(Đ.2 BLHS). Trong phięn xử sơ thẩm, tuy kiểm
sát vięn có thú nhận sự thiếu sót của BLHS,
nhưng lại đưa ra những diễn giải
rięng để kết tội chồng tôi. Do đó tôi
xin phản bác như sau.
c) Chồng tôi không chống
Hiến pháp vŕ không chống Nhŕ nước
CHXHCNVN
Trong phần
trěnh bŕy dưới đây tôi sẽ chủ yếu sử
dụng những định nghĩa của Tự
điển Bách khoa Toŕn thư Việt Nam (BKTT). Đây lŕ bộ
tự điển được xem lŕ chính thống ở
Việt Nam, vě nó được soạn thảo bởi
một cơ quan chính phủ. Tự điển nŕy
đă định nghĩa khái niệm Nhŕ nước một
cách rất trừu tượng: “Nhŕ nước lŕ tổ
chức chính trị của xă hội, công cụ cơ
bản của quyền lực chính trị trong xă hội
có giai cấp” (BKTT Tập 3, 2003). Trong khi đó, theo Đ.2 HP 1992 thě “Nhŕ nước
Cộng hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam lŕ Nhŕ
nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vě nhân dân.(…) Quyền lực nhŕ nước
lŕ thống nhất, có sự phân công vŕ phối hợp
giữa các cơ quan nhŕ nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hŕnh pháp, tư pháp”. Hiến pháp 1992 qui định rő các
cơ quan nhŕ nước lŕ Quốc hội (Đ.83, HP), Chủ tịch
nước (Đ.101, HP), Chính phủ (Đ.109, HP), Hội
đồng nhân dân (Đ.119, HP), Toŕ án nhân dân vŕ Viện
kiểm sát nhân dân (Đ.126, HP). Cần xác định rằng, theo
HP 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam tuy lŕ “lực
lượng lănh đạo Nhŕ nước vŕ xă hội”
(Đ.4, HP) nhưng không được xem lŕ cơ quan
nhŕ nước. Do đó nếu có một công dân Việt
Nam nŕo chống đảng Cộng sản Việt Nam
thě sự chống đối nŕy cũng không thể bị
đem đồng hoá với việc chống Nhŕ nước.
Chống
nhŕ nước được hiểu lŕ chống một
hay nhiều cơ quan nhŕ nước hiến định
kể tręn. “Chống” lŕ lŕm trái
lại, ngược lại. Theo nghĩa chính trị,
chống lŕ “Chống đối”, nghĩa lŕ chống lại
với thái độ đối địch. Vấn
đề đầu tięn cần đặt ra ở
đây lŕ nếu một công dân Việt Nam có quan điểm
(trong đầu) trái với quan điểm của Nhŕ
nước Việt Nam thě công dân đó có phạm tội
hěnh sự không? Các vị lănh đạo
nhŕ nước Việt Nam trả lời lŕ không. Bằng
chứng lŕ các vị luôn luôn khẳng định rằng,
chính quyền Việt Nam không giam giữ ai vě lý do bất
đồng chính kiến hoặc Việt Nam không có tů
nhân chính trị mŕ Việt Nam chỉ giam giữ những
người vi phạm luật pháp. Vậy câu hỏi
tiếp theo lŕ, khi một công dân đă có quan điểm
“chống đối” thě hŕnh vi nŕo của công dân nŕy bị
xem lŕ phạm tội vŕ hŕnh vi nŕo lŕ hŕnh vi được
bảo vệ bởi quyền hiến định về
tự do ngôn luận (vŕ như thế không phạm tội)?
Vě Đ.88 BLHS xem ý thức chống Nhŕ nước lŕ yếu
tố chủ quan của tội phạm cho nęn điều
luật nŕy rất dễ bị lạm dụng khi
được áp dụng trong thực tế. Luật
quốc tế giải quyết vấn đề nŕy một
cách đơn giản hơn khi phân biệt rő rŕng rằng
các hŕnh vi chống đối bằng bạo lực lŕ
hŕnh vi phạm tội hěnh sự vŕ hŕnh vi bŕy tỏ ý kiến
chống đối một cách ôn hoŕ lŕ không phạm tội
hěnh sự. Để tôn trọng việc gia nhập
CƯQT QDSCT, Nhŕ nước Việt Nam phải xem những
hŕnh động đấu tranh, phę běnh, chỉnh sửa
một cách ôn hoŕ, bằng lời nói hay bằng chữ
viết của công dân đối với các cơ quan
hoặc nhân vięn nhŕ nước lŕ những hŕnh vi hợp
pháp vě được bảo vệ bởi quyền
công dân trong Hiến pháp (Đ.50, Đ.69 HP) vŕ quyền tự
do ngôn luận trong CƯQT QDSCT. Quyền nŕy cũng
đang được bảo vệ vŕ
khuyến khích ở mọi quốc gia khác tręn thế
giới.
Chồng tôi đă
nhiều lần khẳng định - cả trong phięn
xử sơ thẩm - rằng chồng tôi không chống
Nhŕ nước CHXHCNVN mŕ chỉ
thực hiện các quyền công dân hiến
định. Nhưng toŕ sơ thẩm vẫn cứ
dựa vŕo những suy đoán hời
hợt để kết luận rằng chồng tôi
chống nhŕ nước. Toŕ sơ thẩm đă
đưa ra 3 lý do để kết tội chồng
tôi chống Nhŕ nước: vě chồng tôi chống Hiến
pháp, vě có lięn lạc với những người chống
Nhŕ nước vŕ vě lŕ cảm těnh vięn hoặc thŕnh vięn của
các tổ chức chống nhŕ nước. Cả 3 lý do
nŕy đều không vững.
Nếu
xét kỹ thě lập luận của toŕ sơ thẩm nhằm
chứng minh rằng chồng tôi chống Hiến pháp
1992 đă dựa tręn một tiền đề sai.
Tôi khẳng định rằng, chồng tôi không chống
mŕ cňn thường có hŕnh vi bảo vệ tinh thần của
Hiến pháp 1992, đặc biệt tinh thần tôn trọng
quyền công dân trong hiến pháp nŕy. Trong bŕi viết “Quyền
Tự do Thŕnh lập đảng ở Việt Nam”
được toŕ xem lŕ một chứng cớ tięu biểu,
chồng tôi nhận xét rất chính xác rằng, Hiến
pháp 1992 không có điều khoản nŕo ngăn cấm việc
thŕnh lập các chính đảng khác bęn cạnh đảng
Cộng sản Việt Nam. Do đó - dưới cái
nhěn của một luật gia - chồng tôi cho rằng
công dân Việt Nam có quyền thŕnh lập chính đảng.
Chồng tôi đă áp dụng nghięm túc một nguyęn tắc
chính yếu của Nhŕ nước pháp quyền, đó
lŕ nguyęn tắc “người dân có quyền lŕm mọi
điều mŕ pháp luật không cấm” (BKTT, sđd).
Theo BKTT, “Nguyęn tắc nŕy thể hiện nội
dung dân chủ của nhŕ nước, phát huy mọi sáng
tạo của các chủ thể phục vụ lợi
ích của xă hội, của Nhŕ nước vŕ của
công dân”. Tręn thực tế, Hiến
pháp 1992 không cňn qui định rằng Đảng Cộng
sản Việt Nam lŕ lực lượng duy nhất
lănh đạo Nhŕ nước vŕ xă hội nữa.
Đây lŕ một thay đổi lớn vě Hiến pháp
1980 cňn qui định rằng Đảng cộng sản
Việt Nam lŕ “lực lượng duy nhất lănh
đạo Nhŕ nước, lănh đạo xă hội”
(Điều 4, HP1980). Vŕo thời điểm năm
1980, tręn chính trường Việt Nam, ngoŕi đảng
Cộng sản cňn có thęm hai đảng Dân chủ vŕ
đảng Xă hội, vŕ hai đảng nŕy cňn tồn tại
đến năm 1988. Như vậy trong 8 năm thực
thi Hiến pháp 1980 với một qui định rő rŕng
về sự lănh đạo duy nhất của đảng
Cộng sản, Nhŕ nước Việt Nam cũng không
xem đảng Dân chủ vŕ đảng Xă hội lŕ những
đảng bất hợp pháp. Xin nhấn mạnh rằng,
hai chính đảng nŕy được thŕnh lập vŕo
các năm 1944, 1946 vŕ đă tự ý giải thể vŕo
năm 1988 chứ không phải bị chính quyền giải
tán hay cấm hoạt động. Ngŕy nay, khi Điều
4 Hiến pháp 1992 đă bỏ đi chữ “duy nhất”
trong cụm từ “lănh đạo duy nhất” của
Điều 4 Hiến pháp 1980, thě mọi suy diễn về
sự duy nhất của đảng Cộng sản Việt
Nam tręn chính trường Việt Nam vŕ từ đó cho rằng
hoạt động của các đảng phái khác lŕ bất
hợp pháp đều không có cơ sở lý luận vŕ
thực tế vững chắc. Vě đă důng một tiền
đề sai về tính chất “duy nhất” (“Đảng Cộng
sản Việt Nam lŕ Đảng duy nhất lănh đạo
Cách mạng Việt Nam”)
cho nęn toŕ sơ thẩm đă lięn tiếp kết luận
sai khi cho rằng “mọi đảng phái, hoạt
động (chép theo đúng nguyęn bản, tôi ghi chú)
đều lŕ vi phạm, đều lŕ bất hợp
pháp“ vŕ “mọi hŕnh
vi phę phán Đảng Cộng sản … lŕ vi phạm
nghięm trọng Hiến pháp”
(BAST, tr. 6). Bản án đă dựa tręn lập luận
sai nŕy nęn đă kết án chồng tôi một cách phi lý về
tội chống Nhŕ nước.
Viện Kiểm sát Nhân dân vŕ Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội
đă tiếp nhận thiếu suy xét những suy
đoán hŕm hồ của cơ quan an ninh điều
tra. Toŕ sơ thẩm đă dựa vŕo sự kiện lŕ
chồng tôi có lięn lạc với các Việt kiều hải
ngoại như các ông Vũ Quốc Dụng, Nguyễn
Đěnh Thắng vŕ Trần Ngọc Thŕnh để kết
luận rằng, chồng tôi chống Nhŕ nước
(BAST, tr. 6). Cả bản
cáo trạng lẫn bản án đă có kết luận
vơ đũa rằng, họ lŕ “những phần
tử người Việt Nam lưu vong ở nước
ngoŕi có ý thức chống đối Nhŕ nước ta
quyết liệt” (BAST,
tr. 6). Nhưng bản án sơ thẩm
không dẫn chứng được rằng, trong số
những người nęu tręn có người nŕo đă lŕm
gě để bị toŕ xem lŕ “phần tử có ý thức
chống đối Nhŕ nước ta quyết liệt”.
Những người kể tręn lŕ những nhân vật
hoạt động công khai trong nhiều lănh vực
khác nhau ở nước ngoŕi trong đó có hai người
lŕm việc trong những tổ chức phi chính phủ
quốc tế. Toŕ đă không nghięn cứu kỹ về
họ nęn đă viết sai cả tęn họ cũng
như tęn của tổ chức của họ. Một
người tęn Vũ Quốc Dụng vŕ đang lŕ
Trưởng ban Á châu của Hiệp hội Nhân quyền
Quốc tế (International Society for Human Rights, ISHR) chứ
không phải lŕ Vũ Đức Dụng của Mạng
lưới Nhân quyền Quốc tế. Cái tęn “Mạng
lưới Nhân quyền Quốc tế” thoát thai từ
định kiến sai lầm rằng “Vũ Quốc
Dụng lŕ người cầm đầu Mạng
lưới Nhân quyền Việt Nam ở Mỹ”
(báo An ninh Thế giới online ngŕy 22.4.2007 vŕ nhiều
báo khác). Người kia, Tiến sĩ Nguyễn
Đěnh Thắng lŕ Giám đốc Điều hŕnh của
Uỷ ban Cứu Người Vượt Biển (Boat
People SOS) chứ không phải lŕ “người cầm
đầu Uỷ ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt
Nam ở Mỹ”. Chữ cầm đầu důng trong câu
nŕy cố ý gây cảm tưởng rằng uỷ ban nŕy
lŕ một tổ chức bất hợp pháp. Tręn thực
tế hai tổ chức phi chính phủ nŕy đă hoạt
động uy tín lâu năm tại quốc gia sở tại
mŕ họ đăng ký tổ chức cũng như tại
nhiều quốc gia khác. Cho đến nay không có bằng
chứng nŕo cho thấy rằng các tổ chức nŕy chủ
trương hay có hoạt động chống đối
bất cứ một nhŕ nước cá biệt nŕo. Ngoŕi
ra, tổ chức ISHR đă được Lięn Hiệp
Quốc cấp cho Quy chế Tham Vấn
(Consultative Status) nęn không thể vượt ra ngoŕi phạm
vi của Hiến chương LHQ để hoạt
động lật đổ chính quyền của một
quốc gia thŕnh vięn của LHQ được. Do đó
kết luận rằng, chồng tôi có ý định
cůng với những người nŕy – mŕ không xác định
cụ thể lŕ ai - “thŕnh lập một số tổ
chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng
sản Việt Nam, chống lại nước Cộng
hoŕ xă hội chủ nghĩa Việt Nam” (BAST, tr. 6) lŕ một cáo buộc
hoŕn toŕn vô căn cứ vŕ phi thực tế.
Bản
án cňn cáo buộc chồng tôi lŕ thŕnh vięn của tổ chức
“Công đoŕn Độc lập”, “Đảng Thăng tiến”
vŕ “Khối 8406”, vŕ lŕ cảm těnh vięn
của “Đảng Dân chủ 21”. Tại
phięn xử, thẩm phán chủ toạ đă không cho chồng
tôi vŕ các luật sư bŕo chữa được tranh
luận về vấn đề đảng phái mặc
dů đây lŕ vấn đề quan trọng, có mục
đích qui kết về ý thức chống Nhŕ nước
có tổ chức của chồng tôi. Đây lŕ một
thiếu sót lớn. Tôi sẽ không xét đến cáo buộc
rất yếu lięn quan đến vấn đề “cảm
těnh vięn của Đảng Dân chủ 21”. Cáo buộc nŕy
rất yếu vě khi chính Nhŕ nước chưa truy cứu
trách nhiệm pháp lý của các thŕnh vięn lănh đạo của
đảng Dân chủ 21 nŕy, nghĩa lŕ chưa xem đảng
nŕy lŕ bất hợp pháp, thě chưa thể kết tội
một người bị cáo buộc lŕ cảm těnh vięn
như chồng tôi . Bản án đă xác định một
cách nhập nhằng vŕ cẩu thả rằng, “Bị cáo
đă tham gia vŕ ủng hộ tích cực cương lĩnh
hoạt động của cái gọi lŕ „Đảng
Thăng Tiến Việt Nam“ vŕ „Khối 8406“ của Nguyễn
Văn Lý - một tổ chức hoạt động bất
hợp pháp tại Việt Nam” (BAST, tr. 6). Viết như thế
lŕ sai. Thứ nhất, việc
gộp chung Khối 8406 vŕ đảng Thăng Tiến
vŕo lŕm một tổ chức lŕ sai, vě ai cũng
biết rằng Khối 8406
vŕ Đảng Thăng tiến lŕ 2 thực thể khác
nhau. Thực tế đă cho thấy rằng, có nhiều
người nằm trong Khối 8406 nhưng không phải
lŕ đảng vięn của đảng Thăng Tiến.
Thứ nhě, chồng tôi không hề tham gia đảng
Thăng tiến mŕ chỉ
tham gia Khối 8406. Vậy cáo buộc rằng chồng
tôi tham gia đảng Thăng tiến lŕ sai. Khối
8406 gồm những người ký tęn ủng hộ
“Tuyęn ngôn Tự do Dân chủ” vŕ không phải lŕ của
rięng của linh mục Nguyễn Văn Lý. Cần xác
định rằng Khối 8406 không có cương lĩnh
vŕ cũng không có chương trěnh lŕm việc thống
nhất vě Khối 8406 không phải lŕ một đảng
chính trị. Có khi, có những người trong nhóm nŕy
có quan điểm hŕnh động khác nhau. Thí dụ,
trong vấn đề bầu cử Quốc hội
khoá 7, linh mục Nguyễn Văn Lý chủ
trương tẩy chay cuộc bầu cử nŕy vŕ
đă có nhiều văn bản kęu gọi cho việc
nŕy. Trong khi đó ai cũng biết rằng, chồng
tôi lŕ người công khai tuyęn bố không tẩy
chay bầu cử vŕ ủng hộ việc
công dân ra ứng cử độc lập. Vậy, việc
qui kết chồng tôi ủng hộ tích cực
“cương lĩnh hoạt động của Khối
8406”, một cái không hiện hữu, cũng hoŕn toŕn sai.
Việc
cáo buộc chồng tôi lŕ thŕnh vięn của tổ chức
“Công đoŕn Độc lập” cũng dựa tręn cách lập
luận cẩu thả tương tự.
Thay vě chứng minh bằng cách đưa ra danh sách thŕnh
vięn của tổ chức nŕy, toŕ sơ thẩm đă dựa vŕo những dấu hiệu
mơ hồ như, “Theo lời khai của
nhân chứng Trần Văn Hoŕ khẳng định
tháng 9 năm 2006, Đŕi yęu cầu Hoŕ lęn Hŕ Nội để
cůng Đŕi sang Trung Quốc gặp người có tęn lŕ
Trần Ngọc Thŕnh lŕ Việt kiều ở Ba Lan sang
bŕn về thŕnh lập cái gọi lŕ „Tổ chức Công
đoŕn" (BAST, tr. 7).
Toŕ đă không cho kiểm chứng lời khai nŕy. Sau nŕy
nhân chứng Trần Văn Hoŕ đă cho biết rằng,
ông ta bị công an tra tấn để mớm cung vŕ ép
cung trong thời gian bị giam giữ từ ngŕy
21.9.2006 đến ngŕy 3.10.2006 (lời khai ngŕy 13.7.2007).
Do đó tręn nguyęn tắc, các lời khai mŕ công an lấy
được của ông Hoŕ trong thời gian nŕy phải
bị xem lŕ vô giá trị trước toŕ. Ông Hoŕ cho biết
rằng, dů bị ép cung ông đă chỉ khai về những
việc lięn quan đến chính měnh. Ông Hoŕ khẳng
định, ông không hề khai rằng chồng
tôi đă yęu cầu ông ta lęn Hŕ Nội để đi
cůng đi với chồng tôi sang Trung quốc. Tręn thực
tế, chồng tôi cũng không có dự định
đi Trung quốc vŕo ngŕy 21.9.2006 vě đă chuẩn bị
đi du lịch Thái Lan vŕo ngŕy 23.9.2007. Nhưng chuyến
đi Thái Lan vŕo hôm ấy cũng như chuyến đi
sang Ấn Độ được dự định
thực hiện vŕo ngŕy 25.10.2006 sau đó đă bất
thŕnh. Cơ quan điều tra có thể kiểm chứng
một cách dễ dŕng sự kiện chồng tôi bị
công an chặn không cho xuất cảnh tại phi trường
Nội Bŕi vŕo 2 ngŕy ấy. Cáo buộc chồng tôi
lŕ thŕnh vięn của tổ chức Công đoŕn Độc
lập lŕ vő đoán vŕ do đó vô
căn cứ.
d) Cần có đánh giá thật
chính xác về các vấn đề “tuyęn truyền xuyęn
tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” vŕ
“lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh tŕi liệu chống Nhŕ
nước”
Như đă
phân tích ở tręn, đối với chồng tôi, tội
phạm theo Đ. 88 BLHS không
được cấu thŕnh vě thiếu
yếu tố chủ quan lŕ động cơ chống
Nhŕ nước.
Tuy nhięn tôi xin
được bŕn thęm về những khái niệm
được nęu lęn trong các điểm a vŕ c của khoản 1 Đ.88 BLHS vě tôi có
cảm tưởng rằng, toŕ sơ thẩm đă có
quan niệm rất tuỳ tiện, lŕm cho quyền tự
do ngôn luận hiến định bị mất đi
ý nghĩa đích thực của nó. Theo tự điển BKTT
(sđd), tuyęn truyền
lŕ “hŕnh vi phổ biến một chủ trương,
một học thuyết để lŕm chuyển biến
thái độ của quần chúng vŕ
thúc đẩy quần chúng hŕnh động theo một
đường lối vŕ nhằm một mục
đích nhất định”.
Trước hết cần xác
định rằng, tuyęn truyền lŕ một từ ngữ được důng rięng
trong lănh vực chính trị với một nội hŕm nhất
định nęn không thể bị đem ra sử dụng
một cách bừa băi được. Cách nói “ông bạn
A tuyęn truyền với ông bạn B rằng …” hay “ông bố
tuyęn truyền với đứa con rằng …” lŕ lối
důng từ bừa băi. Tuy nhięn tuỳ cách nhěn từ các nền
văn hoá hoặc thể chế chính trị khác nhau mŕ
bản thân từ tuyęn truyền mang nghĩa tięu cực
hay tích cực. Trong những nền văn hoá xem trọng
nhân phẩm của con người cá nhân ở
phương Tây, hŕnh vi tuyęn truyền - với bất kể
nội dung tuyęn truyền nŕo - luôn mang nghĩa tięu cực
vě bản thân hŕnh vi nŕy đă có chủ ý lčo lái đối
tượng về một lối suy nghĩ hoặc
hŕnh động mŕ chính đối tượng đó
không muốn có. Trong cách hiểu nŕy, tuyęn truyền lŕ nhồi
sọ hoặc che lấp khả năng phę phán của
đối tượng. Trong khi đó, tręn các
phương tiện truyền thông đại chúng ở
Việt Nam, tuyęn truyền được sử dụng
với nghĩa trung dung. Theo đó, hŕnh vi tuyęn truyền
được đánh giá xấu hay tốt lŕ tuỳ
vŕo nội dung được tuyęn truyền. Người
nŕo tuyęn truyền tốt cho chính sách của Nhŕ nước
Việt Nam thě lŕ người tốt, người nŕo
tuyęn truyền chống đối nó thě bị xem lŕ phạm
pháp. Nhưng dů hiểu thế nŕo, hŕnh vi
tuyęn truyền cũng có một số đặc điểm
chung khiến người ta không thể lầm
lẫn nó với các hŕnh vi truyền thông khác.
Về mặt nội
dung, những điều được đem ra tuyęn
truyền phải xuất phát từ
một học thuyết hoặc chủ trương, tức
lŕ tập hợp những suy tư có hệ thống lớp
lang. Không ai gọi sự bŕy tỏ những ý nghĩ vụn
vặt, nông cạn hay ngẫu hứng lŕ tuyęn truyền.
Hiện nay cộng đồng nhân loại có chung quan
điểm chống lại một số chủ
trương như chủ trương diệt chủng,
chống nhân loại, chống hoŕ běnh, kỳ thị chủng
tộc, khủng bố. Do đó mọi hŕnh vi tuyęn truyền
cho chúng vŕ thực hiện chúng cũng bị cấm.
Thông thường, muốn cấm một đề tŕi
chính trị, các Nhŕ nước pháp quyền phải
đưa ra luật để định nghĩa rő
rŕng về đề tŕi bị cấm đó. Luật
pháp cũng sẽ phải ấn định thật rő
những phương tiện nŕo bị cấm důng
để tuyęn truyền cho đề tŕi nŕy. Thí dụ
có thể chỉ cấm důng tŕi liệu, phim ảnh hoặc
dấu hiệu nhưng không cấm lời nói. Như vậy
không phải bất cứ một hŕnh vi nŕo lięn quan
đến một đề tŕi bị cấm tuyęn truyền
thě cũng đương nhięn bị cấm. Luật
pháp nhiều nước cňn nęu rő cả các trường
hợp ngoại lệ, thí dụ qui định rő việc
cho phép sử dụng những phương tiện
tuyęn truyền - chẳng hạn như tŕi liệu, phim ảnh
- cho những đề tŕi bị cấm khi chúng
được důng trong mục đích giải thích,
giáo dục quần chúng, nghệ thuật, nghięn cứu,
tường thuật về lịch sử,…Thí dụ trong một bŕi nghięn cứu về
lịch sử chủ nghĩa Apartheid thě được
sử dụng những hěnh ảnh, trích dẫn lấy
từ những tŕi liệu về chủ nghĩa kỳ
thị người da đen ở Nam Phi.
Về mặt hěnh
thức, người tuyęn truyền luôn luôn těm cách đưa ra thông tin một
cách thięn vị để dễ lčo lái đối tượng.
Những thông tin nŕy không nhất thiết phải sai lạc.
Chúng có thể đúng ở một mặt nŕo đó
nhưng nhất định không thể hiện vấn
đề một cách trọn vẹn vŕ đầy
đủ. Ngoŕi ra, để dễ kích động quần
chúng, người tuyęn truyền thường důng cách
trěnh bŕy giản lược, có khuynh hướng
đánh động vŕo những cảm xúc hơn lŕ
khơi dậy sự suy xét của đối tượng.
Phương tiện tuyęn truyền lŕ tờ rơi, bích
chương, phim ảnh, báo chí, truyền hěnh, radio vŕ
các phương tiện truyền thông đại chúng khác.
Để thực hiện hiệu
quả việc tuyęn truyền, chủ thể tuyęn truyền
đặt ra một kế hoạch quy mô để
lập đi lập lại vấn đề một
cách có hệ thống tręn các phương tiện truyền
thông.
Nếu thiếu
một hay nhiều đặc điểm về nội
dung, phương thức thực hiện vŕ cả về sự qui mô nęu tręn thě một
hŕnh vi sẽ không cňn được gọi lŕ tuyęn truyền
nữa. Thí dụ, nếu thiếu đặc điểm
thięn vị vŕ đánh động cảm tính thě
phương cách trěnh bŕy sẽ có thể được
gọi lŕ một bŕi thuyết trěnh khoa học, bŕi nghięn
cứu hay lý luận học thuật. Nếu thiếu
tính chất hệ thống thě người ta gọi lŕ
lời phát biểu ngẫu hứng hay ý kiến rięng. Nếu
(trong lănh vực kinh tế) có một món hŕng được
trěnh bŕy lập đi lập lại nhiều lần
tręn bích chương dán tręn đường phố thě
người ta có thể gọi đó lŕ quảng cáo.
Trong lănh vực giáo dục vŕ tôn giáo người ta důng
chữ truyền bá hay truyền giáo. Nếu không có sự
qui mô về nội dung vŕ hěnh thức,
thí dụ như trong trường hợp của một
người phát biểu ngẫu hứng về một
đề tŕi thời sự trước vŕi người
bạn trong một buổi gặp gỡ rięng thân mật,
thě một hŕnh vi cũng không thể gọi lŕ tuyęn truyền.
Cả sự gộp chung tất cả những phát biểu
rời rạc ấy cũng không thể gọi lŕ tuyęn
truyền.
Chủ thể của hŕnh vi tuyęn
truyền có thể lŕ một chính quyền, một tổ chức hay một chính đảng.
Lịch sử ngŕy nay cňn nhắc đến những chủ
thể tuyęn truyền nổi tiếng như nhŕ nước
Lięn Xô, Đức thời Quốc Xă, Cộng hoŕ Dân chủ
Đức. Tręn thực tế, nếu xét về mặt
hiệu quả, tầm mức quy mô vŕ tầm mức ảnh
hưởng, cũng chỉ có một nhŕ nước mới
có khả năng tuyęn truyền một cách hữu hiệu
vě chỉ có nhŕ nước mới có đủ
phương tiện để phổ biến chủ
trương hoặc học thuyết một cách có hệ
thống, trong thời gian lâu dŕi, bằng các
phương tiện truyền thông đại chúng,
đến đông đảo quần chúng để
lŕm chuyển biến thái độ của quần chúng
vŕ thúc đẩy quần chúng hŕnh động theo một
đường lối nhất định. Để
tuyęn truyền, Nhŕ nước Việt Nam đă sử dụng
một bộ máy khổng lồ gồm khoảng 700
cơ quan truyền thông lŕm việc có qui củ dưới
sự lănh đạo rất chặt chẽ của các
cơ quan văn hoá, thông tin vŕ tư tưởng. Để
tuyęn truyền cho một chính sách hoặc chủ
trương, các cơ quan nhŕ nước Việt Nam
thường cho phổ biến hẳn một kế
hoạch về tuyęn truyền trong đó ấn định
rő mục đích, yęu cầu, nội dung, hěnh thức,
phương tiện thực hiện vŕ
bộ phận chỉ đạo. Trước ưu thế
ấy, một cá nhân ở Việt Nam khó có thể lŕm
được công việc tuyęn truyền hoặc phản
tuyęn truyền cho có kết quả.
Theo tôi, các cơ quan điều
tra đă thổi phồng quá đáng về qui mô cũng
như tầm ảnh hưởng của các hoạt động của chồng tôi khi
cho rằng, chồng tôi tuyęn truyền chống chính quyền.
Khi xem xét vụ việc của chồng tôi, các cơ
quan nŕy đă không áp dụng cůng một tięu chuẩn
đánh giá như đối với các cơ quan Nhŕ
nước. Cơ quan điều tra không chứng minh
chồng tôi đă có kế hoạch tuyęn truyền cho học
thuyết nŕo, với mục đích, yęu cầu, nội
dung, hěnh thức, phương tiện hoạt động
vŕ bộ phận chỉ đạo ra sao. Trong phięn xử
sơ thẩm, danh từ tuyęn truyền đă bị hiểu
đơn giản lŕ hŕnh vi nói hay viết một điều
gě đó cho người khác nghe một vŕi lần. Nếu
hiểu tuyęn truyền theo nghĩa đó thě bất cứ
ai trao đổi điều gě với người khác
cũng có thể bị xem lŕ phạm pháp nếu công an
cho rằng điều đó có mục đích chống
Nhŕ nước. Hiểu theo nghĩa đó thě bất cứ
lời phát biểu bất măn nŕo dů ở trong quán nhậu
hay phạm vi gia đěnh đều lŕ hŕnh vi phạm
pháp. Với cách hiểu như thế, số người
vi phạm pháp luật ở Việt Nam sẽ rất lớn
. Hậu quả lŕ các cơ quan thi hŕnh luật sẽ xử
lý không xuể các trường hợp phạm tội.
Việc phải nhắm mắt lŕm ngơ đối với
số đông vŕ chỉ xử lý chọn lọc một
số trường hợp đă đẻ ra těnh trạng
áp dụng luật một cách tuỳ tiện hoặc
độc đoán. Nếu như vậy thě Đ. 88
BLHS nŕy – ít nhất trong phięn bản hiện nay – đă
không khả thi nữa. Khi thấy có một điều
luật bị vô hiệu hoá như vậy thě tręn nguyęn
tắc cơ quan lŕm luật Việt
Nam cần phải xét đến việc sửa đổi
điều luật đó như thế nŕo đế
việc áp dụng được thực hiện
nghięm minh vŕ tạo niềm tin hơn vŕo công lý pháp quyền.
Về mặt hěnh thức,
những điều mŕ chồng tôi đă lŕm không có qui
mô của hŕnh vi tuyęn truyền, nếu hiểu từ ngữ
nŕy theo đúng nghĩa của nó. Chồng tôi chỉ mới gặp
có một lần cả 3 người sinh vięn Hŕ Nam,
trong đó có một người đă gặp 3 lần,
mỗi lần từ 30 đến 90 phút, trong đó nội
dung trao đổi luôn bị thay đổi, bao gồm
nhiều lănh vực khác nhau từ hỏi thăm cá
nhân, tư vấn pháp lý, các vấn đề triết
học, nhân quyền vŕ thời sự. Toŕ dẫn chứng
rằng, chồng tôi đă viết 2 bŕi “Quyền tự
do thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí Việt Nam có đủ
khả năng xây dựng chế độ đa đảng”
vŕ gửi đăng tręn đŕi BBC ở Anh Quốc.
Nhưng 2 bŕi nŕy không mang nội dung chống Nhŕ nước,
như tôi đă phân tích trong vấn đề Đảng
vŕ Hiến pháp ở tręn. Những bŕi nŕy, rő rŕng nhất
lŕ bŕi thứ 2, mang tính cách đóng góp cho một cuộc
thảo luận công khai tręn một trang web truyền
thông vŕ không mang tính tuyęn truyền. Như đă đề
cập ở tręn các nhân vięn của chồng tôi đều
khai rằng, họ không hoạt động tuyęn truyền
vŕ không bị chồng tôi lôi kéo vŕo các hoạt động
nŕy. Ông Phạm Văn Trội cũng khai rằng, ông tự
ý těm đến chồng tôi để nhờ tư vấn
về nhân quyền vŕ pháp luật chứ
không phải để hoạt động tuyęn truyền.
Tất cả những người nŕy đều có
trěnh độ đại học nęn biết rő điều
họ đă lŕm.
Về mặt nội
dung, bản án ghi rằng, chồng tôi đă viết một
số bŕi vŕ trả lời phỏng
vấn tręn một vŕi trang internet vŕ kết luận chung
chung rằng, những điều chồng tôi nói
hoặc viết lŕ “sai sự thật, bóp méo, xuyęn tạc
về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích
động nói xấu chế độ xă hội chủ
nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, kęu gọi
thay đổi chế độ, v.v…” (BAST, tr. 7). Toŕ sơ thẩm
không vạch được ra những điều cụ
thể nŕo do chồng tôi trực tiếp viết hoặc
nói ra mŕ bị toŕ xem lŕ “xuyęn tạc chính quyền nhân
dân”. Theo BKTT (sđd), xuyęn tạc lŕ “trěnh bŕy sai sự
thật với dụng ý xấu”, cňn chính quyền
lŕ “bộ máy điều hŕnh, quản lí công việc của
nhŕ nước”. Như vậy, nếu điều
được trěnh bŕy lŕ đúng sự thật thě
đó không phải lŕ xuyęn tạc. Ngay cả khi điều
được trěnh bŕy đúng sự thật ấy có
nhằm phę phán chính quyền thě hŕnh vi nŕy cũng không nằm
trong phạm vi truy tố của điểm a Khoản
1 của Đ.88 BLHS vě điều nŕy chỉ qui định
về việc xuyęn tạc. Trong lănh vực nhân quyền,
tôi có thể khẳng định rằng, những
điều mŕ chồng tôi từng phát biểu đều
có cơ sở thực tế, có chứng cứ, có nhân
chứng nęn không thể sai sự thật. Chồng
tôi vốn biết rằng, nhân quyền lŕ lănh vực
mŕ chính quyền xem lŕ nhạy cảm nęn đă lŕm việc
rất cẩn thận vŕ trung thực, không bao giờ
dám phóng đại hoặc vu cáo. Nếu toŕ sơ thẩm
mŕ để cho chồng tôi tranh luận về đề
tŕi nŕy thě chắc chắn toŕ đă không thể kết
luận hŕm hồ như thế. Tương tự, vě
toŕ sơ thẩm không nęu được chứng cứ
cụ thể về việc chồng tôi “phỉ báng
chính quyền” nęn lời cáo buộc nŕy cũng không
đứng vững. Phỉ báng lŕ “chę bai, nói xấu”
(sđd) vŕ thường tuỳ thuộc vŕo quan điểm
cá nhân. Theo tôi, đối với bất cứ việc
lŕm nŕo cũng có người khen kẻ chę. Cho nęn đňi
hỏi không có lời chę lŕ một đňi hỏi không thực
tế. Toŕ đă dẫn chứng rằng, chồng tôi “nói
xấu chế độ xă hội chủ nghĩa,
Đảng Cộng sản Việt Nam” trong khi vấn
đề nŕy lại hoŕn toŕn nằm ngoŕi phạm vi
truy tố của Đ. 88 BLHS 1999. Tôi thiết nghĩ
toŕ sơ thẩm đă không phân biệt rạch rňi chính
quyền với chế độ XHCN vŕ Đảng
CSVN. Cần nói thęm rằng, chỉ có BLHS của năm
1992 mới có tội danh “Tuyęn truyền chống chế
độ XHCN” (Đ. 82) mŕ thôi. BLHS 1999 đă bỏ
điều nŕy. Rięng cá nhân tôi cňn cho rằng,
những người đứng ra
gánh vách việc nước – dů ở bất cứ
nước nŕo - cũng cần phải chấp nhận
một mức độ bị phę phán cao hơn người
thường vě có như vậy họ mới nhạy
bén đón nhận những bức xúc của nhân dân vŕ từ
đó có thể lŕm tốt hơn công việc mŕ nhân dân
giao phó cho họ được.
Chồng tôi lŕ một
luật sư nhân quyền. Để giúp thân chủ
đňi hỏi quyền lợi chính đáng vŕ hợp pháp, chồng tôi có quyền vŕ
có trách nhiệm nâng cao sự hiểu biết của
měnh bằng cách nghięn cứu các luồng tư tưởng
vŕ các quan điểm tręn các lĩnh vực khác nhau của
xă hội. Luật khoa học vŕ công nghệ cho biết:
“Nghięn cứu khoa học lŕ hoạt động phát hiện,
těm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy
luật của tự nhięn, xă hội vŕ tư duy; sáng tạo
các giải pháp nhằm ứng dụng vŕo thực tiễn”
(Đ.2, Luật khoa học vŕ công nghệ). Toŕ sơ thẩm
đă kết án chồng tôi vě tội “tŕng trữ,
lưu hŕnh tŕi liệu chống Nhŕ nước”. Theo
tôi, vě các nhŕ lŕm luật Việt Nam chưa lŕm rő
được các khái niệm “tŕng trữ vŕ lưu
hŕnh” trong thời đại mới nęn họ đă
để cho các qui định nŕy của Đ.88 BLHS
đục ruỗng nội dung của các quyền hiến
định về dân sự của công dân như
quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí,
quyền được thông tin, quyền nghięn cứu
khoa học vŕ quyền được tham gia thảo luận
các vấn đề chung của cả nước. Tôi
cho rằng, nội dung của Đ.88 BLHS đang có
mâu thuẫn trầm trọng với nội hŕm của
quyền tự do nghięn cứu vŕ sáng tạo
(Đ.51, Bộ luật Dân sự 2005) vŕ chức
năng xă hội của luật sư (Đ.3, Luật
Luật sư 2006), trong đó chức năng xă hội
của luật sư lŕ “góp phần bảo vệ công
lý, phát triển kinh tế vŕ xây dựng xă hội công bằng,
dân chủ, văn minh” . Ở đây rő
rŕng các nhŕ lŕm luật Việt Nam cần cấp tốc
điều chỉnh các qui định khác nhau để
bảo đảm tính nhất quán của các quyền
hiến định đối với các bộ
luật con.
Để kết
tội “lŕm ra, tŕng trữ, lưu hŕnh” của
Đ.88 BLHS, toŕ đă sử dụng 121 đầu tŕi liệu
thu giữ được ở nhŕ hoặc văn phňng
của chồng tôi. Vợ chồng chúng tôi hiện
không thể xác nhận có phải tất cả 121 tŕi
liệu nŕy lŕ của chúng tôi hay không. Cá nhân tôi đă nhiều
lần khiếu nại để xin công an gửi cho
tôi bięn bản thu giữ đồ vật của chúng
tôi nhưng vẫn chưa được các cơ quan
công an vŕ giám sát trả lời. Toŕ đă không phân loại
tính chất vŕ phân tích nội dung của 121 tŕi liệu
nŕy nęn tôi giả thiết rằng chỉ có một số
tŕi liệu trong số nŕy bị toŕ xem lŕ có “vấn
đề” vŕ được liệt kę trong bản án
sơ thẩm. Chồng tôi thừa nhận có viết 2
bŕi “Quyền tự do thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí
Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế
độ đa đảng” mŕ toŕ cho rằng “có nội
dung bôi nhọ, hạ thấp vai trň lănh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng trong
điều kiện hiện nay Đảng Cộng sản
Việt Nam không đủ năng lực để lănh
đạo cách mạng nęn cần phải có một
đảng khác thay thế hoặc phải đa nguyęn,
đa đảng mới đưa đất nước
thoát khỏi těnh trạng nghčo đói” (BAST, tr. 4 vŕ 5).
Như đă xác định ở phần 2, việc viết
hai bŕi nŕy hoŕn toŕn nằm trong phạm vi của quyền
tự do ngôn luận của chồng tôi lŕ điều
được Hiến pháp 1992 vŕ Công ước Quốc
tế về Quyền Dân sự vŕ Chính trị bảo vệ.
Ngoŕi ra theo phân tích ở tręn, toŕ sơ thẩm cũng
đă không đưa đủ cơ sở lý luận
vŕ thực tế để qui kết 2 bŕi nŕy có tính cách
chống Nhŕ nước. Cách důng từ như “bôi nhọ,
hạ thấp vai trň lănh đạo của đảng
Cộng sản Việt Nam” cho thấy toŕ đă těm cách
áp đặt quan điểm chủ quan của měnh vŕ
đi ra ngoŕi phạm vi truy tố của Đ. 88 BLHS.
Ngoŕi ra bản án sơ thẩm đă kết luận rằng
chồng tôi lŕ “người trực tiếp soạn
thảo ‘Điều lệ Đảng Dân chủ’ … của
Hoŕng Minh Chính” (BAST, tr. 6) mặc dů trong phięn xử,
toŕ đă không těm đủ chứng cứ để buộc
tội chồng tôi về điểm nŕy. Dư luận
xă hội hiện đang đŕm tiếu rất nhiều
về việc Nhŕ nước
đang lŕm chuyện ngược ngạo lŕ khi chưa
có biện pháp xử lý đối với đảng
Dân chủ 21 mŕ đă đi buộc tội chồng tôi
về việc có lięn quan đến đảng nŕy.
Do đó cáo buộc chồng tôi “lŕm ra tŕi liệu chống
Nhŕ nước” lŕ vô căn cứ.
Tŕng trữ lŕ việc cố ý “cất giấu cẩn thận,
không muốn cho ai biết” (BKTT, sđd). Ở
đây, các tŕi liệu thu được tại văn
phňng cũng như nhŕ rięng của chồng tôi lŕ những
tŕi liệu được chồng tôi sử dụng
lŕm tŕi liệu nghięn cứu nęn chồng tôi không có ý định
che giấu chúng. Các nhân vięn công an theo dői chồng tôi trong
những tháng qua có thể xác nhận rằng cửa của
văn phňng luật sư Thięn Ân lúc nŕo cũng rộng mở
cho mọi người ra vŕo vŕ các máy tính ở đó cũng
đă để cho nhiều người sử dụng
chung cho nęn cáo buộc chồng tôi bí mật cất giấu
tŕi liệu lŕ một cáo buộc phi thực tế. Khi
công an đến khám xét văn phňng cũng như nhŕ
rięng của chồng tôi, các tŕi liệu nŕy đang ở
trong 5 máy tính hoặc được để tręn các
giá sách vŕ trong tủ tŕi liệu cůng với các tŕi liệu
nghięn cứu về pháp luật Việt Nam vŕ pháp luật
quốc tế cũng như các hồ sơ của
khách hŕng. Tính chất sưu tầm để nghięn cứu
thể hiện rő ở 2 điểm. Thứ nhất,
những tŕi liệu nŕy thể hiện nhiều quan
điểm khác nhau, có bęnh có chống, nằm lẫn lộn
với những tác phẩm nghięn cứu vŕ những tŕi
liệu pháp lý. Thứ hai, chồng
tôi không nhất thiết phải có cůng quan điểm
với những tŕi liệu mŕ měnh đang có. Thí dụ
chồng tôi không chống bầu cử trong khi vẫn
giữ những tŕi liệu kęu gọi tẩy chay bầu
cử của linh mục Lý.
Để nghięn cứu vŕ těm hiểu thấu đáo một
vấn đề, chồng tôi không thể chỉ nghe
người khác nói không thôi hoặc chỉ đọc
những tŕi liệu được viết theo cůng một
quan điểm. Khi biết chồng tôi quan tâm đến
một số vấn đề, nhiều người
đă đem đến trao tận tay hoặc gửi lại
văn phňng một số tŕi liệu bị toŕ đánh
giá lŕ “cực kỳ phản động, bóp méo, xuyęn tạc
sự thật” như “Đảng cộng sản
Việt Nam lŕ nghiệp chướng”, “Nhật ký Dân
oan” hay tŕi liệu của Quốc-Quốc. Trong phięn xử
sơ thẩm, chồng tôi trung thực nhận có giữ
những tŕi liệu nŕy mặc dů có nhiều tŕi liệu
chồng tôi không hay biết lŕ có trong văn phňng hoặc
chưa đọc qua. Điều nŕy thể hiện rằng,
chồng tôi không có ý giấu diếm – ngay cả đối
với những tŕi liệu bị cáo buộc nặng nề
nhất – vě tin vŕo quyền tự do ngôn luận, quyền
tự do nghięn cứu hiến định của měnh. Việc cáo buộc chồng tôi tŕng trữ
đă vi phạm các quyền tự do hiến định
nŕy của chồng tôi.
Tôi xin nói thęm về khái niệm
“tŕng trữ tŕi liệu trong máy tính”. Trong thời đại nối
mạng toŕn cầu ngŕy nay, khái niệm nŕy đă bị
lỗi thời. Hŕng ngŕy, dů muốn hay không, người
sử dụng email đă phải nhận hŕng trăm
tŕi liệu từ những người quen lẫn
người lạ. Nếu có sięng năng mŕ huỷ
đi các tŕi liệu nŕy thě một người sử dụng
máy tính běnh thường cũng không thể xoá sạch
vết tích tręn máy tính được. Thông thường,
ít ai có thể quản lý hữu hiệu được
khối lượng email nhận được hŕng
ngŕy. Ngoŕi ra mạng internet toŕn cầu cňn lŕ một kho
lưu trữ thông tin khổng lồ. Bất cứ lúc
nŕo người sử dụng cũng có thể lęn
internet để lấy thông tin cần thiết, hoặc
có thể lưu trữ thông tin rięng tręn internet, mŕ không cần
phải “tŕng trữ” rięng tręn máy tính cá nhân nữa. Do
đó trong thời đại internet
hiện nay, việc ấn định bięn giới
địa lý trong việc lưu trữ tŕi liệu lŕ một
hŕnh động trái tự nhięn vŕ không thể thực hiện
hữu hiệu được trong thực tế.
Trong bản
án sơ thẩm không có một chỗ nŕo cáo buộc rő
chồng tôi về hŕnh vi “lưu hŕnh các tác phẩm,
văn hoá phẩm có nội dung chống phá Nhŕ nước”.
Lưu hŕnh lŕ “đưa ra sử dụng rộng răi
từ người nŕy, nơi nŕy đến người
khác, nơi khác trong xă hội” (BKTT, sđd). Tuy nhięn
trong phần xét về tội trạng của chồng
tôi ở trong BAST, tôi lại thấy có đoạn ghi: “Các
bị cáo đă phát tán các tŕi liệu nŕy tręn các
phương tiện thông tin cho các tổ chức phản
động người Việt tại nước
ngoŕi” (BAST, tr. 5). Để loại bỏ mọi ngộ
nhận, tôi giả thiết rằng toŕ hiểu phát tán
lŕ lưu hŕnh. Ngay cả trong giả thiết nŕy, việc
cáo buộc đă thiếu hẳn sự chính xác cần
thiết. Thay vě liệt kę cụ thể rằng chồng
tôi đă có những hŕnh vi phạm tội gě, bằng
phương tiện nŕo vŕ ở đâu thě toŕ lại mô
tả sự việc bằng một chuỗi những
từ không xác định như “các bị cáo”, “các tŕi
liệu”, “các phương tiện thông tin”, “các tổ
chức phản động” trong câu nęu tręn. Cũng
như ở nhiều chỗ khác trong bản án sơ thẩm,
việc vơ đũa sự kiện ở đây
đă lŕm vấn đề trở nęn mơ hồ vŕ khó
hiểu. Trong ngữ cảnh của bản án, cụm
từ “các tŕi liệu nŕy” chắc đă được
důng để chỉ 2 tŕi liệu “Quyền tự do
thŕnh lập đảng” vŕ “Dân trí Việt Nam có đủ
khả năng xây dựng chế độ đa đảng”
đă được liệt kę ngay trong đoạn viết
trước đó. Như đă phân tích ở tręn, toŕ
không có đủ lý luận để cáo buộc 2 bŕi
nŕy có mục đích chống Nhŕ nước. Chồng
tôi đă thừa nhận gửi đăng hai bŕi nŕy
tręn trang web của (MỘT) đŕi phát thanh BBC. Đŕi
BBC lŕ một cơ quan truyền thông hoạt động
có uy tín tręn thế giới từ nhiều năm qua vŕ
hiện có đại diện chính thức vŕ hợp
pháp tại Hŕ Nội. Không ai có thể hŕm hồ nói rằng
đŕi BBC lŕ của người Việt ở nước
ngoŕi hoặc lŕ phương tiện thông tin của CÁC tổ
chức phản động người Việt tại
nước ngoŕi. Nhiều nhân vięn cao cấp chính phủ,
dân biểu, cán bộ nghięn cứu nước ta đă
thường lęn đŕi nŕy để phát biểu, trong số
đó có nhiều ý kiến phę phán chính quyền khá mạnh
mẽ. Toŕ không có chứng cứ nŕo về việc chồng
tôi phát tán 2 tŕi liệu nŕy đến các cơ quan truyền
thông khác. Trong thời đại internet, các tờ báo vŕ
trang web có thể dễ dŕng sao chép, sử dụng, nhân
rộng các thông tin có sẵn ở tręn một trang web
khác để lŕm rộng đường dư luận
mŕ không cần phải xin phép tác giả. Tóm lại kết
luận cho rằng chồng tôi đă thực hiện
hŕnh vi lưu hŕnh tác phẩm có nội dung chống phá
Nhŕ nước lŕ hoŕn toŕn vô căn cứ.
4) Kết luận vŕ
kiến nghị với toŕ án phúc thẩm
Chồng tôi lŕ một
người yęu nước. Lŕ một
luật sư nhân quyền, chồng tôi đă hết
lňng bảo vệ quyền công dân hiến định
vŕ đă đấu tranh phę phán những việc lŕm sai
trái, vi phạm pháp luật của những nhân vięn vŕ
cơ quan nhŕ nước. Tręn thực tế, những
đóng góp trong lănh vực tự do tôn giáo của chồng
tôi đă giúp Việt Nam cải thiện těnh trạng
nhân quyền vŕ nâng cao uy tín với thế giới. Những
đóng góp nŕy của chồng tôi cũng giúp cho chính quyền
hiểu hơn về những người
theo đạo Tin lŕnh vŕ từ đó giúp cho těnh hěnh Việt
Nam thęm ổn định.
Việc bắt
giam vŕ xét xử chồng tôi đă
không được thực hiện một cách hợp
pháp vŕ đúng thủ tục qui định. Cơ quan
công an đă điều tra cẩu thả về các việc
lŕm của chồng tôi vŕ đưa ra những suy
đoán buộc tội hŕm hồ. Viện Kiểm sát
Nhân dân vŕ Toŕ án Nhân dân thŕnh phố Hŕ Nội đă tiếp
nhận thiếu suy xét những kết luận sai lầm
nŕy để buộc tội vŕ kết án chồng tôi
theo Đ.88 BLHS. Vě đă phạm quá nhiều sai sót về
thủ tục vŕ sẵn có thŕnh kiến
với bị cáo nęn phięn toŕ sơ thẩm ngŕy 11.5.2007
đă không těm ra sự thật của vụ án vŕ kết
án oan chồng tôi.
Chồng tôi đă thực
thi có ý thức quyền tự do ngôn luận của
měnh. Quyền
dân sự của công dân nŕy được bảo vệ
bởi Hiến pháp 1992. Quyền hiến định
nŕy cũng được bảo vệ một cách vững
chắc về pháp lý bởi Công ước Quốc tế
về Quyền Dân sự vŕ Chính trị kể từ
khi Nhŕ nước CHXHCNVN ký kết tham gia công ước
nŕy vŕo năm 1982 vŕ bởi Luật Ký kết, Gia nhập
vŕ Thực hiện Điều ước Quốc tế
vŕo năm 2005. Như thế, công dân Việt Nam
được hưởng đầy đủ vŕ trọn
vẹn quyền tự do ngôn luận theo qui định
của điều 19 của CƯQT QDSCT mŕ không chịu
bất cứ một giới hạn luật định
nŕo khác. Luật quốc tế
xem hŕnh vi bŕy tỏ ý kiến phản đối chính quyền
một cách ôn hoŕ lŕ không phải lŕ tội phạm hěnh sự.
Như vậy hŕnh động đấu
tranh, phę běnh, chỉnh sửa một cách ôn hoŕ, bằng
lời nói hay bằng chữ viết của chồng
tôi đối với các cơ quan hoặc nhân vięn nhŕ
nước cần được
xem lŕ những hŕnh vi hợp pháp.
Dů đứng tręn quan điểm
của luật hěnh sự Việt Nam, những lý luận
buộc tội chồng tôi cũng không đứng vững. Để cáo buộc chồng
tôi tội chống Nhŕ nước CHXHCNVN, toŕ đă viện
dẫn lý do chồng tôi chống Hiến pháp, có lięn lạc
với những những người Việt Nam
lưu vong có ý thức chống Nhŕ nước quyết
liệt vŕ lŕ thŕnh vięn của những tổ chức chống
Nhŕ nước CHXHCNVN. Nhưng tất cả các cáo buộc
nŕy đều sai vě đă dựa tręn
một sự ngộ nhận về tính duy nhất của
sự lănh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam vŕ dựa vŕo những suy luận, vő đoán,
gán ghép vô căn cứ vŕ phi thực tế về một
số cá nhân vŕ tổ chức ở trong vŕ ngoŕi nước.
Vě không chứng minh được rằng chồng tôi
có ý thức chống Nhŕ nước – lŕ yếu tố
chủ quan của tội phạm – nęn hŕnh vi phạm tội
theo Đ.88 BLHS cũng đă không được cấu
thŕnh.
Ngoŕi ra, như tôi đă phân tích ở
tręn, Nhŕ nước cần xét lại
toŕn bộ nội dung của Đ.88 BLHS để bảo
đảm tính nhất quán với các bộ luật
khác, với Hiến pháp vŕ điều ước quốc
tế mŕ Việt Nam đă tham gia ký kết. Đ.88 BLHS
hiện có những khái niệm rất mơ hồ vŕ
bao quát nęn đă tạo cơ hội cho các cơ quan thi
hŕnh pháp luật diễn giải sai, tuỳ tiện hay
độc đoán khiến cho việc áp dụng luật
pháp không cňn nghięm minh nữa. Trong khi chờ đợi
sửa đổi vŕ soi sáng điều luật nŕy, tôi
có đề nghị Nhŕ nước ngưng thi hŕnh
Đ.88 BLHS.
Sau khi phân tích lại toŕn bộ vụ
án của chồng tôi, luật sư Nguyễn Văn
Đŕi, tôi kiến nghị toŕ phúc thẩm những
điều sau đây:
a) Huỷ bản
án sơ thẩm mang số 153/2007/HSST vŕ
tuyęn bố đěnh chỉ vụ án theo Đ.251 BLTTHS vě
các cơ quan tiến hŕnh tố tụng đă vi phạm
nghięm trọng quá nhiều nguyęn tắc cơ bản của
BLTTHS vŕ vě chồng tôi thực sự vô tội theo nguyęn
tắc “Không có tội khi không có luật” của Đ.2
BLHS;
b)
Trả tự
do ngay cho chồng tôi;
c)
Hoŕn trả cho
chúng tôi mọi tŕi sản bị tịch thu;
d)
Phục hồi
danh dự cho chồng tôi bằng cách huỷ bỏ quyết
định thu hồi thẻ luật sư vŕ giấy phép hŕnh nghề của văn
phňng luật sư Thięn Ân.
_____________________________________
Plea of Mrs. Vu Minh Khanh, Wife of Attorney
Nguyen Van Dai
To Be Tried in Appeal Court on November 27, 2007
My Husband Is a Patriot,
My Husband Is Innocent
Hanoi, November 14,
2007
On May 11, 2007,
the Hanoi People’s Court sentenced my husband, attorney Nguyen Van Dai,
to five years of imprisonment and four years of house arrest on the
charge of “propaganda against the Socialist
Republic of Vietnam”.
Right after my husband’s arrest on March 6, 2007, many media belonging to
the Communist Party of Vietnam (CPV) and to the Government have launched
a campaign of vilification against my husband in order to project the image
of a bad element, a traitor to the Fatherland. They misrepresent the
human rights activities of my husband, spreading the propaganda that he “organized
the gathering of political and social information, especially in the
field of religion, so as to provide foreign countries with fodder which
they can use to distort and blemish the image of Vietnam.” (Sai Gon
Giai Phong, April 12, 2007)
Motivated by his
patriotism, my husband has on many occasions openly criticized the
misdeeds and violations of the law perpetrated by government personnel
and agencies. It is my belief that my husband’s human rights activities
have in actuality helped Vietnam improve its human rights situation and
raise its standing with the world. He does not tell untruths. As a human rights
lawyer, he has received many reports of violations of religious freedom
from various localities. These are reported breakups of religious
gatherings, confiscations of the faithful’s property, H’mongs being
forced by local authorities to renounce their religion, and beatings of
Protestant followers by public security cadres leaving wound traces. My
husband has written legal complaints and usually chose the path of quiet
exchange with the authorities before bringing out issues to the attention
of the public. In a number of instances, it was thanks to his alert
bulletins that the central government learned about violations of the law
by local officials and subsequently has intervened. In other localities,
the situation has improved because it has drawn international attention,
thus forcing the central government or local authorities to pay more
attention to the matter. It was partly owing to my husband that Vietnam
has been able to improve on its religious freedom record. This led the
U.S. to remove Vietnam from the CPC (country of particular concern) list
in November 2006. It was thanks to people like my husband that the
authorities have lessened their suspicion of Protestantism, the so-called
“American” and “reactionary” religion, and allowed its followers to carry
out normal religious activities. Ever since the middle of last year, when
various Protestant house church groups were allowed to carry out normal
religious functions, it is clear that happenings leading to a tense
situation have noticeably decreased. This has helped to stabilize
society. Thus the voices of people like my husband’s are very much
needed, even though this is something that has upset a few government
officials.
The fact that the
government media, the indictment and the findings of the Court of First
Instance (generic term for Toa So Tham, the preliminary trial court in
Vietnam;
hereinafter
1
Toa So Tham referred to as the
“Court of First Instance”) have unanimously claimed that my husband is a lawyer “who has
never spoken on behalf of anyone ever since the opening of his law firm
up to the day that he was arrested” is a very malevolent distortion,
thus providing the public with a very erroneous image of my husband. This
malevolence appears even more obvious when the Court of First Instance
sentence asserts that my husband has so admitted at the trial. To rebut,
I only need to cite a couple of cases, which everyone can check on. At
the very least, my husband has defended Ms. Nguyen Thi Thuy, who was
representative of the Vietnamese Assembly of God Church in Viet Tri at
the beginning of 2000; he has defended Pastor Nguyen Hong Quang,
Secretary-General of the Vietnam Mennonite Church in April 2005; he has
also intervened in legal matters involving Pastor Than Van Truong of the
Vietnam Baptist General Conference when the latter was kept without a
valid reason in the Bien Hoa mental hospital from September 2004 to
September 2005. My husband was the legal counsel of the Asset Management
Council of the Evangelical Church of Vietnam North and he has counseled
pro-bono for a great number of persons.
There is no lack of
misinformation like the above in many articles published in the recent
past. The spreading of misinformation has created a bad prejudice against
my husband, thus giving to the public the impression that he is therefore
guilty; it also created an atmosphere favorable to a sentence against
him. I am of the belief that the investigative organs, the People’s
Procuracy (Vien Kiem Sat Nhan Dan) and the court have done nothing but aimed
at seeking a sentence against my husband.
The sentencing of my husband
at the trial of first instance in the Hanoi People’s Court (Toa An Nhan
Dan) was based on misinterpretations, the result of sloppy and
prejudicial work by the prosecutorial organs. Before and during the
trial, these organs have severely violated many fundamental principles of
the Vietnam Code of Criminal Procedure (Bo Luat To Tung Hinh Su). That is
why the court was unable to discover the truth about the matter. Because
the trial of my husband has to be seen in a comprehensive way, I am going
to contribute ideas towards clarifying a number of issues regarding civil
rights in the 1992 Constitution and human rights in the International
Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a party. I am
also analyzing the charges aimed at my husband’s so-called crime of “propaganda
against the SRV” in accordance with Article 88 of the Vietnam
Criminal Code (Bo Luat Hinh Su).
1) The sentence in the Court
of First Instance needs to be nullified because the prosecutorial organs
have severely violated the Constitution and the very fundamentals of the
Code of Criminal Procedure.
a) In the
pre-trial period
In the very first article of
Chapter I of the Code of Criminal Procedure, it is asserted that this
code is aimed at forming fair judgment --not prejudicing the innocent--
and protecting the legal interests of citizens. In order to do so, the
Code of Criminal Procedure must be built on the fundamental principles as
found in Chapter II. But even before my husband was brought
2
before the court, the prosecutorial
organs have already severely violated the fundamental principles of the
Code. Here are some examples.
In principle, my husband is
presumed innocent until he is given a court sentence having the power of
law. For this reason, all condemnations of my husband by individuals,
organizations or governmental organs constitute violations of the
right to a presumption of innocence (Article 72, Constitution) and of
my husband’s right to have his honor and dignity be respected (Article
71, Constitution). Yet, when they met me right after his arrest, public
security (cong an) personnel affirmed right up front that my husband
would not escape an imprisonment sentence. Even though the court had yet
to try my husband, they already knew that he would be sentenced to jail.
They already considered my husband to be guilty and forced him to wear a
prisoner’s outfit when they put him on television. The public security
also provided State media with information and pictures belonging to the
trial case of my husband so that they could launch a campaign of
vilification of his integrity and thus violate his dignity. I have
written to 17 mass media, requesting that they investigate carefully
before they disseminate bad information about my husband, but up until
now, I have yet to receive an answer from any of them. The Hanoi Bar
Association has based itself on the fact of my husband’s temporary
detention to withdraw his membership card and the Ministry of Justice has
based on this decision to cancel the license of the Thien An Law Office.
All these judiciary organs did not allow my husband an opportunity to
defend himself and they did not even wait for the valid sentencing of a
court. In this way, the mass media, the public security’s investigative
organs, the People’s Procuracy, the Hanoi Bar Association and the
Ministry of Justice have violated the following fundamental procedural
principles, to wit:
• “No one is
considered guilty without a court sentence having the power of law.” (Article
9, Code of Criminal Procedure)
• “To protect
the citizen’s life, health, honor, dignity and assets.” (Article 7,
Code of Criminal Procedure)
The prosecutorial organs did
not have a fair-minded attitude as required by the law. The
fair-mindedness of prosecutorial organs and individuals is shown in the
way they correctly, completely and objectively realize their mission in
accordance with the law during the prosecutorial process. I noticed many
indications of lacking of fair-mindedness on the part of the Hanoi
People’s Procuracy, and that of the Hanoi People’s Court. From the day
they received the file on my husband, on April 19, 2007, to the day they
completed the indictment on April 23, 2007, the Hanoi People’s Procuracy
needed just four (04) days to complete all the tasks as specified in
Article 23 of the Code of Criminal Procedure. The People’s Procuracy did
not fully use the 30 days limit envisioned in the Code of Criminal Procedure
for extremely serious cases like the one involving my husband (Article
166, Code of Criminal Procedure). In my view, four days are not
sufficient for the People’s Procuracy to closely inspect the legality of
prosecutorial procedures in a case involving a relatively large amount of
evidence (6 personal computers, 1 laptop, 2 hard disks, and 121
documents). When they received two (02) letters of complaint from me
concerning illegal obstacles to my securing an attorney, the People’s
Procuracy should have made necessary adjustments right away. The Hanoi
People’s Procuracy not only did not study my letters of complaint,
incomprehensibly but it also hastily went ahead with producing an
indictment based on assertions without substance. And the trial that followed
used these assertions to draw up defective conclusions.
3
The People’s Procuracy did
such a hasty job that it even forgot to number and date the indictment
--this alone should invalidate the indictment for having violated the
stipulations of Article 167 of the Code of Criminal Procedure.
The following, in particular,
makes me suspect even the independence and fair-mindedness of the court.
On April 19, 2007, the French press agency AFP, on the basis of a source
inside the Hanoi People’s Court, very accurately announced that my
husband would be tried on May 11, 2007. It should be noted that April 19,
2007 was the very day that the Hanoi Public Security Office transferred
my husband’s case file to the Hanoi People’s Procuracy. This means that
as soon as the police completed its investigations, the Hanoi People’s
Court already decided about the trial date for my husband—even though the
People’s Procuracy has yet to complete its indictment and the Court has
yet to receive the file from the latter. This also clearly shows that the
Court was only interested in having him tried and that no considerations
were given to other possible solutions as stipulated in Article 176 of
the Code of Criminal Procedure, e.g. the possibility of reviewing and
returning the file to the People’s Procuracy for supplementary
investigations or the possibility of even stopping the trial. This
suspicion is further reinforced when the newspaper Ha Noi Moi (“New
Hanoi”) on April 25, 2007, i.e. only one day after the Hanoi People’s Court
officially received my husband’s file from the People’s Procuracy
—announced that he would be put on trial on May 11, 2007. I have the
impression that from the very start, the organs in charge of prosecuting
my husband have assented to ascertain his guilt and have no interest in
protecting his freedom or finding out the truth about the matter. It is
thus clear that both the Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi People’s
Court have gravely violated the fundamental procedural principle of
• “Guaranteeing
the unbiased approach of those in charge of the prosecution.” (Article
14, Code of Criminal Procedure)
Both the public security
police and the People’s Procuracy have deliberately impeded the
defense of my husband as they did not allow him to meet with a
defense attorney in the period preceding the transfer of his file to the
Court. The impeding started with little things like refusal to provide me
with the arrest order, the house search order, the office search order,
and the copy listing the documents and objects taken by the police, in
accordance with Articles 80, 85, 126 and 145 of the Code of Criminal
Procedure despite my repeated letters of complaint. Because I am not
given these documents both my husband and I do not know what has been
taken from us, and for a long time we could not know for sure the reasons
for which he has been charged.
Right after my husband was
arrested on March 6, 2007, I have on numerous occasions asked that the
investigative police allow him to see a defense attorney, but that
request was simply not granted. On April 5, 2007, his attorney wrote to
the Hanoi Public Security Office (So Cong An Ha Noi) asking that he be
acknowledged as my husband’s defense attorney. The public security
officer in charge of his case only answered orally “because your
husband has been charged with allegedly violating national security codes
his attorney cannot participate in the investigation stage.” If that
were correct, then according to Article 58 of the Code of Criminal
Procedure, it is up to the Chief Procurator of the Hanoi People’s
Procuracy to issue that decision. In actuality, I have yet to receive any
document from either the Hanoi Public Security Office or the Hanoi
People’s Procuracy addressing this question of limitations of my
4
husband’s attorney participating in the
prosecutorial period of his court case. The question of his defense
attorney had been left hung up in the air until his file reached the
Court. And because his attorney was not allowed to participate since the
beginning of the prosecution process many of my husband’s legal rights
have not been protected. Since he did not receive the conclusive report
of investigation from the Hanoi Public Security Office (Article 162, Code
of Criminal Procedure) or the indictment of the Hanoi People’s Procuracy
(Article 166, Code of Criminal Procedure), he had no time to learn of the
opinions of the prosecutorial organs on the various facts adduced in the
case, the evidence supporting the charges, and the proposed solutions so
as to effectively defend my husband.
It was not until May 2, 2007
that my husband’s attorney was provided by the Hanoi People’s Court with
an “Attestation of Defense Attorney.” If counted until May 10 inclusive
and leaving out the weekend holidays, he had altogether seven (7) working
days to prepare for the defense of my husband and attorney Le Thi Cong
Nhan. It is clear that this was too short a period for the attorney to
complete the study of a large amount of documents involved, to meet with
his clients and to collect needed evidence for the defense (Article 58,
Code of Criminal Procedure). If this is seen as a complex case in view of
the hundreds of articles and reports carried on government media over
several weeks, then the defendant clearly has had the “short end of the
stick” as compared to the time that the prosecution was given to
investigate and prepare the indictment (from February 3, 2007 to April
19, 2007), ten times more than the time given to the defense attorney to
prepare his case. In summary, the Hanoi Public Security Office, the Hanoi
People’s Procuracy and the Hanoi People’s Court have violated a basic
procedural principle regarding
• “Guaranteeing
the defense right of detainees, convicts and defendants” (Article 11,
Code of Criminal Procedure)
During the time my husband was
in detention awaiting trial, I have sent a total of 61 letters of
complaint or various proposals, some 24 of which were sent to the
functional organs in charge and 37 to the organs in charge of leadership
and supervision asking them to respect or intervene so as to protect my
husband’s legal rights. Until now I have yet to receive any answer from
the supervisory organs concerning my questions about procedural matters.
And because these violations have severely limited his right to a
defense, on May 4, 2007, I have made an application asking for a
postponement of the trial. This application was sent to 16 functional
organs but I have yet to receive one response. For this reason, these
organs have violated the following fundamental procedural principles:
• “To respect
and protect the fundamental rights of the citizens” (Article 4, Code
of Criminal Procedure)
• “To
guarantee the right to complaint and denunciation in criminal procedure” (Article
31, Code of Criminal Procedure)
• “The
supervision by government organs, mass organizations and publicly elected
representatives over the prosecutorial organs and individuals” (Article
32, Code of Criminal Procedure)
b) In the court trial of first instance
5
The court trial of first
instance, which took place on May 11, 2007 also severely, violated the
basic principles of the Code of Criminal Procedure.
The trial did not reach the
standards of a public trial even though there was no announcement
that it was to be a behind-closed-doors trial. When I attended the trial
I got the impression that those present were a group of people who had
been previously selected. Among the participants, for instance, I
recognized many familiar faces that I have met in the various public
security offices. Immediate family members, acquaintances and friends of
the accused have not been able to attend the event. They were stopped at
the door on the pretext that they could not produce invitation letters.
Each defendant was allowed to have only one immediate family member in
the courtroom, but even that person could step into the room only after
the trial had begun. The two family members were led to the last row in
the courtroom, thus could not hear clearly the proceedings of the court.
International observers and reporters were limited in their observation
since they were allowed only into an adjacent room to observe the trial
through close-circuit TV. The exchanges in the trial were rebroadcast over
an intercom. While the words of the presiding judge and the Procuracy
person could always be heard clearly throughout the trial, many responses
of the lawyers and defendants could not be heard distinctly. This made
the participants unable to understand fully the arguments of the
defendants and their attorneys, leading to laughter and derision
sometimes, which created very heavy pressure on the psychology of the
defendants and their attorneys. The presiding judge has not intervened to
change this situation. In this way the Hanoi People’s Court has violated
a fundamental procedural principle regarding:
• A public
trial (Article 18, Code of Criminal Procedure)
The assignment of seats in the
courtroom also shows a clearly prejudicial disposition. While the
two persons from the People’s Procuracy (i.e. prosecutors) were allowed
to sit next to each other on a high pedestal, the two defense attorneys
were seated far from each other. There was no way that they could
exchange anything either between them or with my husband. In the trial
the defendants were not given equal access [to the prosecution] since
they were not allowed to listen to the witnesses’ testimonies. All the
witnesses invited by the presiding judge were the witnesses for the
prosecution. The witnesses for the defense were not invited to speak when
it came time to cross-examine the witnesses. The presiding judge also did
not invite my husband’s attorney to cross-examine the witnesses.
The defendants and their
attorneys were not allowed to mention or argue or made a defense on
religious grounds or to discuss issues relating political organizations
and parties. On the other hand, the prosecutors were allowed to discuss
these issues, thus giving the wrong impression that my husband is organizationally
involved in anti-State activities.
In the final statement allowed
to the defendant, the presiding judge repeatedly interrupted my husband’s
remarks despite the fact that the latter had asked that he not be limited
in the time of his statement since such a limitation would constitute a
violation of Article 220 of the Code of Criminal Procedure.
The trial of first instance
has committed an egregious mistake when it did not faithfully record the
proceedings as it happened, especially when it related to my husband’s
declarations
6
before the court. In many instances,
the sentence recorded that my husband has admitted to actions that he
clearly denied in court, acknowledged only partially or said that he did
not remember. This misreporting led to the damaging misapprehension that
my husband has admitted his guilt and that the sentence meted out to him
was correct. This way, the Hanoi People’s Court has severely violated the
following fundamental procedural principles:
• Confirming the
veracity of the trial (Article 10, Criminal Procedural Law)
• Guaranteeing
equality of access in front of the Court (Article 19, Criminal
Procedural Law)
• Guaranteeing
the defense right of detainees, convicts and defendants (Article 11,
Criminal Procedural Law)
In this way, the trial of my
husband did not proceed in a fair manner as stipulated by the law. The
truth of the case was for that matter not established in an objective,
full and comprehensive way because in the procedural process there have
been severe violations of the Code of Criminal Procedure. This is because
the prosecutorial organs have severely violated too many fundamental
principles of the Code of Criminal Procedure. That is why the Court of
Appeal (Toa Phuc Tham) should not just simply correct various
deficiencies of the trial of first instance; it should instead nullify
the entire sentence reached by that lower court.
2) My husband has exercised
his civil rights, as specified in the 1992 Constitution of the
S.R.Vietnam and guaranteed by the International Covenant on Civil and
Political Rights, to which Vietnam is a State party.
According to the 1992
Constitution, citizens are guaranteed such civil rights as the rights to
freedom of speech, freedom of the press, the freedom to be informed,
freedom of association, as stipulated by the law (Article 69 of the
Constitution), the freedom of religion and worship (Article 70), the
inviolable rights of their honor and dignity (Article 71), the rights to
conduct scientific research and participate in cultural activities
(Article 60), the right to discuss the common issues and concerns of the
nation (Article 53), and the right to seek redress for grievances
(Article 74). In the capacity of an attorney-at-law, my husband, being
fully aware of his civil rights, has been resolute in carrying out and
defending these constitutional rights because they are the
accomplishments earned in Vietnam’s
democratization process.
When examining the 1992
Constitution and other Vietnam
statutes and legislations, one cannot find the definition regarding the
freedom of expression. However, since Vietnam has accessed the
International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) on September
24, 1982 and has not expressed any reservations at the signing of the
Covenant, the definition of the freedom of expression in Article 19 of
the ICCPR has been ipso facto affirmed and should be fully carried out
and applied to the corresponding civil rights of the 1992
Constitution, such as the freedom of expression, freedom of the press,
freedom to be informed, freedom of religion, and the freedom to conduct
scientific research and participate in the national discussion of common
issues and concerns.
Moreover, the Law on Signing,
Accession and Implementation of International Treaties, which the
Vietnamese National Assembly has passed on June 14, 2005, clearly states:
“Accession
7
is a legal act of the National
Assembly, the President or the Government expressing the consent of the
SRV to be bound by a multilateral international treaty.” (Article 2, Paragraph 10).
This law also explicitly gives precedence to the application of
regulations of international treaties as stipulated in Article 6: “In
the event that Vietnamese legislation conflicts with international
treaties, to which Vietnam is a State party, then the regulations of
international treaties apply.” Therefore the Vietnamese government
has fully agreed to give all Vietnamese citizens the unabridged freedom
of expression according to Article 19 of the ICCPR.
Article 19 of the ICCPR
stipulates that:
1.
Everyone shall have the right to hold opinions without interference.
2.
Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall
include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all
kinds, regardless of froniers, either orally, in writing or in print, in
the form of art, or through any other media of his choice.
3.
The exercise of the rights provided for in Paragraph 2 of this article
carries with it special duties and responsibilities. It may therefore be
subject to certain restrictions, but these shall only be such as are
provided by law and are necessary:
(a)
For respect of the rights or reputations of others;
(b)
For the protection of national security or of the public, or of public
health or morals.
The Human Rights Committee is
an organization entrusted by the United Nations (U. N.) to monitor the
implementation of the ICCPR in its member states. The Committee has the
duty to interpret the overall intent of the Covenant articles. These
interpretations will help the member states carry out the Covenant in a
more serious manner. The member states are responsible to send periodical
reports to the Human Rights Committee with regard to their implementation
of the Covenant. In the General Comment (CCPR/C/21/Rev.1; May 19, 1989)
the Committee has explained fully Paragraphs 1, 2, and 3 of Article 19 of
the ICCPR regarding the freedom of expression as follow (excerpt):
1.
Paragraph 1 (Article 19, ICCPR) requires protection of "the right to
hold opinions without interference". This is a right to which the
Covenant permits no exception or restriction (…)
2.
Paragraph 2 requires protection of the right to freedom of expression,
which includes not only freedom to "impart information and ideas of
all kinds", but also freedom to "seek" and
"receive" them, in whatever medium, "either orally, in
writing or in print, in the form of art, or through any other media"
of one's choice (…)
3.
(…)
4.
Paragraph 3 expressly stresses that the exercise of the right to freedom
of expression carries with it special duties and responsibilities and,
for this reason certain restrictions on that right are permitted which
may relate either to the interests of other persons or to those of the
community as a whole. However, when a State party
8
imposes certain restrictions on the
exercise of freedom of expression, these may not put in jeopardy the
right itself. Paragraph 3 lays down conditions and it is only subject to
these conditions that restrictions may be imposed: the restrictions must
be "provided by law"; they may only be imposed for one of the
purposes set out in Subparagraphs (a) and (b) of Paragraph 3; and they
must be justified as being "necessary" for that State party for
one of those purposes.
Vietnam has been at peace and has a stable
development since 1975. In the last several years Vietnam has not had any
violent rebellion on a national scale. Therefore, according to
international laws, Vietnam does not fall into a situation where the
entire country is under a security or political threat. Moreover, as
regards the fact that Vietnam has not passed any special laws that limit
the freedom of expression as stipulated in Article 19, Paragraph 3(a) and
Paragraph 3(b) of the ICCPR is proof that the SRV has ipso facto
recognized that the citizens of Vietnam shall enjoy the full extent of
their right to hold their own opinions and the right to freedom of
expression in accordance with Paragraphs 1 and 2 of Article 19 of the
ICCPR without any legal limitations. In other words, if there is no
legislation and regulations that limit the freedom of expression then
that statute or legislation must be regarded as violating the Vietnamese
government’s accession to the ICCPR.
The fact that my husband holds
his own political views and exercises his peaceful expression through his
articles or verbal exchanges, as well as promotes his writings or ideas
with others -- no matter where one resides in the world -- is absolutely
in accordance with the freedom of expression as stated in the 1992
Constitution and the ICCPR of the U.N. As mentioned above, once Vietnam has joined the world community to
sign several international treaties, the argument that my husband, being
a Vietnamese citizen, “has to fully obey Vietnam
law, if not he will be punished severely to its full extent, pursuant to Vietnam
law” (Preliminary Court Sentence, p. 10) is a necessary argument but
not a sufficient one. It is not sufficient because the Court of First
Instance only wants to limit its ruling according to the [Vietnam]
Criminal Code, not applying other codes that look into the conflict that
the law of Vietnam may interfere with other international treaties, which
Vietnam has signed. In order to have an unabridged view, one must
consider both the international law and the Vietnam law as integral
parts, bound by the [Vietnam] 2005 Law on Signing, Accession and
Implementation of International Treaties. Therefore, if the
Vietnamese law corresponds with the appropriate international treaty then
the distinction of the laws is not the contention here. Yet in this case,
if the Vietnam law is not in line with the required treaty then Article 6
of the Law on Signing, Accession and Implementation of International
Treaties provides for the application of the necessary international
treaty. More concretely, if Article 88 of the Vietnamese Criminal Code
is deemed not in line with the ICCPR then the Government of Vietnam
must annul or suspend it at once the implementation of that law.
My husband is not the only one
who realizes that presently Vietnam has many legislations
and regulations on civil and human rights, which are not appropriate
with the Constitution. His opinion is shared by many analysts such as
Associate Prof. Dr. Nguyen Van Dong, who wrote “Human Rights and Civil
Rights in the Vietnam Constitution” (Khoa Hoc Xa Hoi Publisher, August
2005). Like other people, my husband has also raised the idea that Vietnam
needs a Constitutional
Court to rule on the
constitutionality of legislations passed
9
under the law. Another critical
at-large issue is the implementation of international treaties on human
rights to which Vietnam is a State party. According to Prof. Nguyen Van
Dong, honoring and properly implementing these treaties is the duty of
the government and the people (ibid, p. 231). Those are the constructive
expressions of my husband relative to the improvement of the current
system of laws in Vietnam
in order for Vietnam
to integrate fully into the world community.
We need to reiterate that my
husband is not the only one who exercises the constitutionally guaranteed
civil rights. Before his arrest, there have been intellectuals,
researchers, lawyers, professionals and high-ranking cadres, as well as
many government leaders, representatives of the National Assembly and the
Party – both current and retired -- who have exercised this freedom of
expression in official mass media outlets, both within and outside
Vietnam. Just like my husband, they have debated heatedly on issues such
as Article 4 of the Constitution, the views on leadership role of the
Party, multiparty and pluralism, democracy, human rights, reconciliation
with overseas Vietnamese. Normally, the government needs to encourage
such a culture of peaceful exchange regarding issues that face our
nation.
3) My husband did not violate
Article 88 of the Criminal Code
a) The
verdict is based on groundless and inaccurate investigations and arrived
at false accusations
The preliminary court sentence
(PCS), No. 153/2007/HSST was based on the prejudicial accusations and
careless investigations of the public security organ to arrive at false,
even illogical, conclusions.
The opening of the verdict has
deliberately created a false sense of guilt under the pretext that the
defendants were caught red-handed in my husband’s law office. “In the
morning of February 3, 2007, at the Thien An Law Office, 10 Doan Tran
Nghiep, the investigative organs of the Hanoi Public Security Office and
the Ministry of Public Security have discovered Le Thi Cong Nhan to be
spreading propaganda against the SRV and distorting the government
policies regarding democracy and human rights to three journalism
students of the Ha Nam 1 Advanced School of Television and Radio” (PCS,
p. 2). This is an ignorant affirmation. The truth is on February 3, 2007,
attorney Le Thi Cong Nhan only had time to greet and distribute a handout
titled “Dignity, the Foundation of Human Rights” to the three students of
Ha Nam before the police entered. According to the collaborated
testimonies by Le Thi Cong Nhan, Pham Van Troi and Bach Ngoc Duong,
everything that had taken place took no more than five (5) minutes before
the police arrived to disperse them at 10:10 a.m. Even the People’s
Procuracy witness, Giap Van Hieu, stated at the court trial that: “They
have not had time to read the documents when the police came to arrest
them.” Five minutes is such a short time and certainly it is not
going to be sufficient for Le Thi Cong Nhan to perform such a formidable
task of “spreading propaganda against the SRV … and distorting the
government policies regarding democracy and human rights.” I must
also add that the essay: “Dignity, the Foundation of Human Rights” is a
scholarly research paper by Dr. Do Manh Tri, who lives in France. The
scholarly nature presents itself at the beginning of the article where Do
Manh Tri
10
clearly states: “[the article]
utilizes an analytical method of examining historical records. In other
words, based on a few watershed events in history it uses the idea of
human dignity to illustrate the foundation of this concept in the process
of appreciating and extolling the virtue of human rights”. The
article uses a few concepts of philosophy and theology, and there is not
a single idea or word that mentions Vietnam. My belief is when accepting
a conclusion that completely has no base in reality, logic and truth, the
court has already prejudiced the accused.
The Court of First Instance
has accepted at face value many opinions of the investigative organs.
Just like the indictment, the verdict has bundled together many people
and events that are not even related to create an impression of gravity
so as to implicate my husband as the leading instigator. The verdict
states: “The Police investigative agency has affirmed Pham Van Troi
and the four employees of the Thien An Law Office Pham Sy Nguyen, Nguyen
Xuan De, Tran Thanh and Nguyen Thi Huong Lan were influenced by Le Thi
Cong Nhan and Nguyen van Dai to carry out distortion of truths and
propaganda against the State” (PCS, p. 3). First of all, those
individuals do not work in the same field. Mr. Pham Van Troi is a member
of the Committee for Human Rights in Vietnam. Mr. Nguyen Xuan De is a
driver and Miss Tran Thanh is an employee of the Viet Luat Limited
Liability Company. Only Miss Nguyen Thi Huong Lan, an accountant, and Mr.
Pham Sy Nguyen are both employees of the Thien An Law Office. These five
people perform different duties each day, some people whose duties are
limited to just driving or accounting. The employees in my husband’s two
separate offices have all declared that they did not carry out anti-State
propaganda; therefore, no one was converted. Mr. Troi, an individual who
acts on his own volition, also declared that my husband had never guided
him. The fact that presiding judge Nguyen Huu Chinh did not invite Mr.
Pham van Troi and my husband’s employees to participate in the cross
examinations at the court trial on May 11, 2007 has in fact twisted the
truth against my husband.
b) Article
88 of the Criminal Code contains too many vague and catchall terms.
Since the Criminal Code was
instituted in 1999, the State has not had any legislation to guide and
explain what constitutes a “violation of national security” as stipulated
in the Criminal Code. To be specific, with reference to Article 88 of the
Code what constitutes “opposing” the State? How would one be against the
State or against the Government? What constitutes “propaganda”? What kind
of conduct and at what level or degree is one’s speech considered
propaganda? To critique the policies of the Party and the government, as
well as the unconstitutional, illegal acts of Party cadres, government
officials, and civil servants, to point out the occurrences of history
--would these be considered actions that distort and slander the
government? How does one’s speech constitute psychological warfare? What
kind of propaganda would be considered creating confusion and unrest
among the people? How would one act be considered producing, storing and
circulating materials and at what level would this act be deemed to be in
violation of the law? These precepts are still very general and vague as
people can arbitrarily interpret in any way they see fit. In general,
many legal scholars and researchers in Vietnam still treat these issues
as being “politically sensitive” issues, yet to be avoided; therefore,
there has been no serious study to illuminate these issues. People are
still operate on a skittish mode, forgetting that Vietnam
is in a new
11
transition, trying to build
the rule by law and integrate into the world community, and that it
endeavors to reconcile between the provisions of the “violating national
security” articles of the Criminal Code, the civil rights as provided for
in the [Vietnam] Constitution, and human rights stipulated in
international treaties. As the Criminal Code is not clear and lacking
conventional understanding, there exist a variety of interpretations of
this law in society. The citizens who are bold would do anything that is
not prohibited by law; others who are puzzled, meek and reserved dare not
reasonably engage nor exercise their constitutionally guaranteed rights.
The law enforcement agency, on the other hand, has its own way of
interpreting the law and applies it out of expediency. One time they
would arrest a person; the other time they would overlook him. One time
they would prosecute him; the other time they would enforce
administrative measures, creating an inconsistent and loose application
of the law and causing a shrouded curtain of uncertainty among the
citizenry. They don’t know when they are judged fairly in the eyes of the
government.
To me, a rule-by-law Vietnam
cannot let an important law such as Article 88 of the Criminal Code be implemented out of sheer expediency. Therefore, the
legislative organ must clarify responsibly and promptly the intent of
Article 88 of the Criminal Code. In the meantime, the State could temporarily
suspend Article 88 on the basis of Article 2 of Criminal Code “nullum
crimen sine lege” (No crime without a previous penal law). In the
court trial of first instance, although having attested to the
shortcomings in the Criminal Code the prosecutor still handed out his own
interpretations before passing judgment on my husband. Therefore, I would
like to protest as follows:
c) My husband is not against the Constitution and is not against
the SRV.
In the presentation below, I
will essentially apply the definitions of the Vietnam Encyclopedia,
Unabridged Volume (VietEncyclopedia). This is considered the official and
standard encyclopedia of Vietnam because it has been compiled by a
government agency. This encyclopedia defines the “State” in a very
abstract term: “The State is a political organization of society, the
basic instrument of political power in a class society” (VietEncyclopedia,
Volume 3, 2003). At the same time, according to Article 2 of the 1992
Constitution “The Socialist Republic of Vietnam is a rule-by-law
socialist State created by the people, of the people, for the people… The
power of the State is integrated though there is division and
coordination of responsibilities between different State agencies in the
establishment of the legislative, executive and judicial powers.” The
Constitution of 1992 explicitly stipulates the agencies of the State as
the National Assembly (Article 83, Constitution), the President (Article
101, Constitution) the Government (Article 109, Constitution), the
People’s Council (Article 119, Constitution), the People’s Court and the
People’s Procuracy (Article 126, Constitution). We need to ascertain
that, according to the 1992 Constitution, although the CPV is a “power
that leads the State and society” (Article 4, Constitution) it is not
viewed as an agency of the State. Therefore, if a Vietnamese citizen
opposes the CPV then he/she cannot be regarded as being against the
State.
To oppose the State is
understood as opposing one or many of the State agencies that derive
their power from the above mentioned Constitution. “To oppose” is to diametrically
contradict. In political terms, “to oppose” is to be against something
with malicious intent. The first
12
contention that needs to be considered
here is whether a citizen who holds an opposing view (in his mind) with
that of the government is guilty of a crime? The leaders of Vietnam have
answered this with a resounding “No”. The evidence is they always affirm
that the Vietnamese government does not imprison anyone because he/she
holds a difference of opinions, and that Vietnam does not imprison
political dissidents but only those who violate the law. The next
contention is if a citizen holds an “opposing” view, then which action of
this citizen is considered a violation of the law and which action is
considered to be protected under the constitutionally guaranteed freedom
of expression (and thus not considered guilty). Because Article 88 of the
Criminal Code regards the idea of opposing the State as a subjective
factor of the crime thereby this Article is easily abused when applied in
real life. The international laws resolve this issue in a simpler
straightforward manner when it differentiates clearly an action,
considered a crime that is committed with violence from another action,
not a crime that simply expresses an opposing idea in a peaceful manner.
Being a State party to the ICCPR, the Government of Vietnam must treat a
citizen’s attempt to express, to criticize, to propose and rectify by
peaceful means, orally or by written words, with the government agencies
as an lawful action protected by the civil rights guaranteed in the
Constitution (Article 50, Article 69, Constitution) and by the freedom of
expression guaranteed in the ICCPR. This right is also protected and
upheld in all other countries in the world.
My husband has reiterated many
times – even at the preliminary court trial – that he does not oppose the
SRV but only exercises his constitutional civil rights. Yet, the Court of
First Instance still issued its loose ruling based on flimsy evidence,
accusing my husband of opposing the State. The Court of the First
Instance has cited three reasons to hold my husband for the crime of
opposing the State: opposing the Constitution, communicating with people
who oppose the government and being a sympathizer or member of
organizations that oppose the State. All three reasons cannot hold water.
If carefully examined, the
arguments that the Court of First Instance used to accuse my husband of
opposing the 1992 Constitution were based on a false premise. I can
assert that not only my husband does not oppose the 1992 Constitution but
also he often is of the opinion that we need to protect the
constitutional spirit by defending citizens’ rights.
In his article “The Right to
Found a Political Party in Vietnam,” which the Court has admitted as
significant evidence, my husband observed correctly that there are no
provisions in the 1992 Constitution forbidding the formation of
legitimate parties alongside the CPV. Therefore, my husband believes,
from the perspective of an attorney, that a citizen has the right to
establish a legitimate political party. My husband has applied
justifiably the main principle of a rule-by-law nation that is, “the
people could do anything that the law does not forbid” (VietEncyclopedia,
ibid). According to this Encyclopedia “This principle represents the
democratic underpinning of a nation, promoting all creative ideas of the
subjects that are trying to serve the benefits of society, the
government, and the people.” In reality, the 1992 Constitution no
longer stipulates that the CPV is the sole power that leads the State,
and society. This is a big change from the 1980 Constitution, which
dictates that the CPV is the “sole power that leads the State and
society” (Article 4, 1980 Constitution).
13
In 1980, in addition to the
CPV there were two other parties, the Democratic Party and the Socialist
Party, in the political arena of Vietnam. Both existed until
1988. Therefore, during the eight-year enactment of the 1980
Constitution, which clearly reserved the sole existence of the CPV in the
leadership role, the Government of Vietnam did not consider the Socialist
and Democratic parties illegal. It is noteworthy that these two political
parties were established in 1944 and 1946. They voluntarily discontinued
in 1988, but were not disbanded or declared unlawful by the government.
Today, when Article 4 of the 1992 Constitution struck out the word “sole”
as in the “sole power that leads the State and society” of Article
4 of the 1980 Constitution, then all the interpretations regarding the
sole existence of the Party in the political arena and henceforth
ascertaining that the operation or existence of other political parties
as unlawful is simply groundless and lacking reason and reality. Due to a
false premise regarding the characteristic of “sole” (“The CPV is the
sole party to lead Vietnam”) the Court of First Instance has
repeatedly made false conclusions as “all political parties and
activities (sic!) are illegal” or “all acts criticizing the CPV …
strongly violate the Constitution” (PCS, p. 6). The Court has based
on this false argument to accuse my husband of opposing the State.
The Hanoi People’s Procuracy
and the Hanoi People’s Court have heedlessly admitted many disputable
presumptions from various investigative agencies. The Court of First
Instance has relied on the fact that my husband has maintained contacts
with overseas Vietnamese such as Messrs. Vu Quoc Dung, Nguyen Dinh Thang
and Tran Ngoc Thanh to conclude that my husband is against the State
(PCS, p. 6). Both the indictment and the verdict have reached a sweeping
conclusion that they are “Vietnamese elements overseas whose resolute
intent is to oppose our State” (PCS, p. 6). Yet, the verdict of the
preliminary trial could not prove among those mentioned there was anybody
who has done anything who the Court could consider an “element who
resolutely intends to oppose our State”? These people are all working
publicly in different fields overseas, two of them for INGOs
(international non-governmental organization). The Court has not
carefully checked out their background so as to even misspell their names
as well as the names of their organizations. One is named Vu Quoc Dung,
currently Head of the Asia Desk of ISHR (The International Society for
Human Rights), but not Vu Duc Dung of The International Human Rights
Network. The appellation “The International Human Rights Network” derived
from the false assumption that “Vu Quoc Dung is the leader of The
Vietnam Human Rights Network in USA” (An Ninh The Gioi, the online edition
of The Journal of World Security, April 22, 2007, and other online
editions). The other person is Nguyen Dinh Thang, Ph.D., Executive
Director of Boat People SOS, but not “the leader of the Relief to
Vietnamese Boat People Committee in America.” The term “leader” in
this context deliberately gives the connotation that the organizations
are unlawful. In reality, these two NGOs have earned great credibility
for their long-standing operation in their countries where they are
registered as well as in many other countries. To date, there is not a
single thread of evidence that any of these organizations has been
opposing any single, individual nation. Moreover, the ISHR, accorded
Consultative Status with the U.N., cannot go beyond the framework of the
U.N. Charter to conspire the overthrow of any of the U.N. member states.
For this reason, to conclude that my husband has the intention to
conspire with these people – their names are not specifically mentioned –
“to form a number of organizations with the expressed purpose of
opposing the SRV” (PCS, p. 6) is totally groundless and has no base
in reality.
14
The verdict has also accused
my husband of being a member of the “Independent Union” (Cong Doan Doc
Lap), “The Vietnam Progression Party” (Dang Thang Tien) and “Bloc 8406”
(Khoi 8406), as well as a sympathizer of “The Democracy Party, Century
21” (Dang Dan Chu The Ky 21). At the court trial the presiding judge,
being intent on proving my husband’s organized anti-government
activities, did not allow him and his defending attorneys to argue about
these parties, though being pivotal ones. This is a great omission. I
will not examine the weak accusation with respect to [Dai] being the
sympathizer of “The Democracy Party, Century 21”. This accusation is very
shaky because the government itself has not yet launched criminal
proceedings against The Democratic Party, Century 21 leadership, thus it
cannot accuse the person in question, my husband, for being a
sympathizer.
The Court affirmed a twisted
and careless ruling that: “The accused has participated and supported
wholeheartedly the operating by-laws of the so-called ‘The Vietnam Progression Party’ and ‘Bloc 8406’
of Nguyen Van Ly – an organization operating illegally in Vietnam” (PCS,
p. 6). This affirmation is simply false. First, the mixture of Bloc 8406
and The Progression Party into one organization is erroneous because they
are widely known as two separate entities. Reality shows that many people
belong to Bloc 8406 but they are not necessarily members of The
Progression Party. Second, my husband has never joined The Progression
Party, but he only participated in Bloc 8406. Therefore, the accusation
that my husband belongs to The Progression Party is false. Bloc 8406 has
included the people who signed to support “The 2006 Manifesto on
Democracy and Freedom” and it does not belong solely to Catholic priest
Nguyen Van Ly. We need to reiterate that Bloc 8406, not a political
party, does not have a bylaw nor does it have a joint plan of action.
Sometimes, there are people in this group who have different ideas
concerning a plan of action. For example, with regard to the 7th National
Assembly Election while Father Nguyen Van Ly supported the boycotting of
the election and issued many statements calling for such action, my
husband is known to have publicly called against a boycott and supported
citizens to run for the National Assembly independently. Therefore, to
accuse my husband of wholeheartedly supporting Bloc 8406’s actions is an
accusation that could not be real and is blatantly false.
The act of accusing my husband
for being a member of the “Independent Union” is also based on similar
careless assumptions. Instead of producing as evidence a member roster of
this organization, the Court of First Instance has relied on vague
notions, e.g. “According to the testimony of witness Tran Van Hoa who
affirmed that in September 2006, Dai has requested that Hoa go to Hanoi
so that they could depart together to China to meet a person named Tran
Ngoc Thanh, an expatriate living in Poland, in order to form an
organization that is so-called ‘The Independent Union’” (PCS, p. 7).
The Court has not had this statement verified. Later witness Tran van Hoa
divulged that he was tortured to make a false confession during his incarceration
from September 21, 2006 to October 3, 2006 (Testimony on July 13, 2007).
In principle, the false confession that the police obtained during this
time must be considered worthless before the court of law. Mr. Hoa said
that although he was forced to make a false confession under duress he
had only given out information that concerns him. Mr. Hoa reiterated that
he had never given any statement that my husband had asked him to go to
Hanoi in order to travel together to China. In reality, my husband had no
intention to go to China
on September 21, 2006, because he had prepared to leave for Thailand
two days
15
later on September 23, 2007.
However, both his September trip to Thailand and his trip to India,
planned for October 25, 2007, did not take place. The investigative
agencies can easily verify with the Public Security Police about how my
husband was stopped at the airport on both of those dates. To accuse my
husband of being a member of The Independent Union is pure conjecture and
therefore baseless.
d/ the need to precisely
validate the issues of “propaganda, distortion of the truths and defaming
the People’s Government,” as well as those of “production, hidden storage
and circulation of anti-State materials.”
As per the above analysis
relative to my husband, his crime according to Article 88 of the Criminal
Code is immaterial for lack of the subjective factor of “motivation”
against the State.
However, I wish to further
discuss the precepts mentioned in Paragraphs 1 (a) and 1(c) of Article 88
of the Criminal Code because I was under the impression that the Court of
First Instance has made its assumptions out of expediency, thus
distorting the true meaning of the freedom of speech as stipulated in the
Constitution. According to the VietEncyclopedia (ibid) propaganda is
defined as “an act to disseminate a policy or an ideology with the
purpose of changing the populace’s attitude and influence them to act in
a certain way with a certain purpose.”
First, I want to make certain
that “propaganda“ is a specific terminology used
only in the political arena with a specific implication, which is not to
be used wantonly. To say: “Mr. A propagandised to Mr. B that...“ or “The
father propagandised to his son...“ would constitute a wantonly use of
this term. Nevertheless, the term “propaganda”, viewed from different
cultural and political perspectives, may be construed either negative or
positive. In Western cultures respect for one’s dignity, regardless of
its content, “propaganda“ has a negative implication because the act
itself is aimed at steering a subject towards a specific ideology or
action that he/she never intends to subscribe to. In this sense,
propaganda amounts to brainwashing or clouding one’s conscious judgment.
Furthermore, propaganda has been widely used in the Vietnamese mass media
in a broader, non-specific sense. As such, the act of propaganda is
judged good or bad, depending on its content. If one advocates positively
for the Vietnamese government he/she is considered a good citizen whereas
one advocates against it, he/she is considered being in violation of the
law. However it is defined, the act of propaganda always has a number of
characteristics that distinguish propaganda from other acts of
communications.
With respect to its content,
what is used in propaganda must originate from a doctrine or ideology
that is in fact a collective of systematically organized thoughts. To
express one’s trivial, shallow or impromptu thinking cannot be judged as
an act of propaganda. On a global scale, there is a consensus on opposing
such policies as genocide, anti-humanity, anti-peace, racial
discrimination, and terrorism. Therefore, all acts to advocate for or
attempts to carry out these policies are to be prohibited. As a common
practice, should a government wish to ban certain political topics or
subjects, there has to be laws written to define what is or isn’t
16
banned politically. The law also has
to specify forbidden means to carry out these illegal acts of propaganda.
For example, a banned topic could not be broadcast on films, printed
materials or signs but it would be acceptable to converse on these
topics. As such, not all activities relating to this banned topic can be
summarily forbidden by law. In many countries, exceptions are made with
regard to specific uses of means of propaganda for banned topics, as in
the case of making films or publications to educate the public or to
illustrate historical or artistic matters. For example, in the study of
the history and ideology of Apartheid, it is allowed to use pictures or
quotations from these documents to illustrate the discrimination of
blacks in South Africa.
With regard to the form,
a propagandist always wants to disseminate information, often biased or
slanted, in order to steer the opinions of his listeners in his favor.
This information needs not be untrue. The information may be correct in
certain aspects, but as a whole it does not fully and completely
represent the facts. Furthermore, in order to incite the public, the
propagandist tends to simplify issues with the purpose to stir up one’s
emotions, rather than his/her rational thinking. The employed means are
flyers, posters, films, and the press, TV, radio and other mass media. To
make it more effective, the designer establishes a large-scale plan
to repeat over and over again certain issues on these media.
However, it is important to
note that should one’s act lack a certain characteristic, whether it’s
content, presentation or large-scale organization, then his/her act
cannot be considered propaganda. For example, if one’s action is short of
biases or not intended to excite the public’s emotions, then it could be
as simple as a scientific or a research presentation or an intellectual
argument. If it lacks systematic “modus operandis“ then this could be
considered an impromptu statement or a personal opinion. If, as in the
economics sphere, a product is shown repeatedly on wall posters on public
streets, then this is a matter of advertisement. In the areas of
education and religion, this is called preaching or giving a sermon. If
there is a lack of large-scale organization in both content and form, as
in the case of a person who speaks up impromptu regarding a current
affairs subject in a private meeting amongst friends, then his action
cannot be considered an act of propaganda. Even the totality of
fragmentary expressions in such meetings should not be considered as a
propaganda matter.
The initiator of propaganda
acts may be a governmental agency, an organization, or a political party.
The most famous propaganda campaigns commonly known in modern history
were those of the Soviet Union, Nazi Germany and German Democratic
Republic (East Germany). In reality, if such factors as impact,
organizational scope and effect are to be measured one can see that only
a governmental power can bring about most effective propaganda results.
That is because only those in control of a country have the means to
popularise their ideology or dogma in a most systematic and sustaining
way via the most used media to change the populace’s thinking, as well as
to steer them towards a certain pre-determined direction. To accomplish
its propaganda mission, the Government of Vietnam has under its control a
huge propaganda machine that includes about 700 media agencies. These
agencies work under the strictest direction of various bureaus in charge
of culture, information and ideology. The Government of Vietnam, in order
to propagandise specific policy or
17
governmental actions, often
publishes a propaganda planning agenda which details specific purposes
and goals of propaganda campaigns, contents, formats, and means of
operation, as well as steering organs. Against such enormous force, it is
almost impossible for a single Vietnamese individual to conduct an effective
[anti-State] propaganda and/or counter-propaganda campaign.
In my opinion, the Vietnamese
government’s investigative agencies have blown things way out of
proportion when they accused my husband of anti-State propaganda,
both in terms of scope and effectiveness. In their investigations, they
have not applied the same evaluation standards as other agencies do. They
could not prove that my husband had any plans to propagandise for any
specific ideology or with an identified purpose, goal, content, format,
means of operation, or leadership structure. In the preliminary court
trial, the term propaganda was simply made to convey the understanding
that it is an act of saying or writing something to others more than
once. If this sense were to be used then anybody could be guilty of
propaganda acts as long as the police considered them anti-State. This
way, any complaint uttered at a drinking place or even at home could be
misconstrued as anti-State propaganda, thus an illegal act. If that were
the case then there will be an enormous number of Vietnamese citizens
guilty of this behavior. The end result is that it will be impossible for
the law-enforcement agencies to have the deluge of cases tried. The fact
that they choose to ignore some cases and prosecute certain others has
created a situation whereas the law would be being applied either
arbitrarily or at the agency’s own wish. If that were the case then
Article 88 of the Criminal Code –as it currently stipulates— could not be
implemented. If this legislation were invalidated then it would be
incumbent upon [Vietnamese] lawmakers to change it in order to bring
justice and trust in the government to the people, as well as
effectiveness to law-enforcement agencies.
With regard to the form, the
acts that my husband has committed show no large-scale organization of a
propaganda campaign if the meaning of propaganda is correctly construed.
My husband has only once met with all three (3) students from Ha Nam, one
of whom he has met three (3) times, each time from 30 to 90 minutes. At
each meeting, the contents of their exchange varied from personal
greetings to legal counselling to issues of human rights and philosophy
to current affairs. The Court exhibited the two (2) articles that my
husband writes, namely “Freedom to found a political party“ and “The
Vietnamese people are politically sophisticated enough to build a
multiparty system“ which were publicized on the BBC, England homepage.
Nothing in these articles indicates that they are anti-State as I have
just indicated in my above analysis of the CPV and the Vietnam
Constitution. The two articles, especially the second one, were only
meant to contribute to a public debate on a website, not at all documents
of propaganda nature. As stated above, my husband’s employees have
confirmed in their written testimonies that they were not involved in a
propaganda campaign and my husband did not recruit them to join these
activities. Mr. Pham Van Troi also stated that he voluntarily sought out
my husband’s counselling on human rights and legal issues and that he did
not commit any propaganda act. These people were all university-educated
and thus fully aware of their activities.
18
With reference to the content
of his activities, my husband was charged with penning several articles
and responding to interviews on the Internet. The authorities concluded
that what my husband has said or written was “untrue and distorted
with the aim of misinforming about the democracy and human rights
situation in Vietnam, smearing socialism and the CPV, as well as inciting
the public to demand a change of regime“ (PCS, p. 7). However, the
Court of First Instance did not find anything that he has explicitly
written or said, with an intent to “distort the facts about the
people’s government.“ According to the definitions in Bach Khoa Toan
Thu (VietEncyclopedia, ibid), distortion means to present “falsehood
with malice“ and government is “the machine to run and manage the
country“. As such, if an event is presented factually, it cannot be
misconstrued as distortion. Even if what is factually presented is
believed to be critical of the government this does not rise to being a
charge according to Paragraph 1 (a), Article 88 of the Criminal Code,
which regulates only distortion matters.
As for the human rights
situation, I can reaffirm that all that my husband has said and done was
based on factual events and supported by proofs and witnesses. In this
way, they cannot be misconstrued as false. Fully aware of the fact
that human rights are sensitive issues for this government, my husband
has carried out everything with care and truthfulness. Never did he
exaggerate an issue nor he falsely accused anyone. Should the Court
of First Instance allow my husband to debate this issue, I’m sure that
such an ill-founded conclusion would have not been arrived. Likewise, the
Court could not prove that my husband “defames the government“, so
the charge was groundless. Defamation denotes “negatively criticize or
badmouth“ (ibid) and this is the matter of one’s personal viewpoint.
I believe that anything you do, there will be those who either praise or
are critical of you. Therefore, it is not realistic if one expects to be
praised all the time. The Court attempts to prove that my husband “defames
socialism and the CPV“ (PCS, p. 7) whereas this issue is beyond
the jurisdiction of Article 88 of the Criminal Code of 1999. It is my
belief that the Court clearly does not understand this matter enough to
distinguish what constitutes the Government of the SRV and the CPV. I
wish to add that only the Criminal Code of 1992 contains an
“anti-Socialism propaganda“ clause (Article 82). The Criminal Code of
1999 later on abolished this statute. As far as I’m concerned, those who
are in charge of governing a country, regardless of what country it is,
should be prepared to accept criticism of a higher standard than one
levelled at an ordinary citizen. This will make them more sensitive to
the sufferings of the people and accordingly will do a better job that
the country has assigned them to do.
My husband is a lawyer
specializing in human rights. In order to fight for his clients’ just and
lawful rights, it is within his rights and responsibilities to improve
his knowledge by studying the new schools of thought and various concepts
relative to society. According to the Science and Technology Code, “scientific
research and study are activities to discover and understand events,
facts, as well as the laws of nature, society, and personal thinking.
This is done to discover solutions for practical applications” (Article
2 of the Science and Technology Code). The Court of First Instance has
convicted my husband of “storing and circulating materials of
anti-State nature.“ It is my opinion that as
long as the lawmakers in Vietnam have not been able to clarify the
concept of “storage and circulation“ in this new age, the stipulations of
Article 88 of the Criminal Code would inevitably continue to eviscerate
the contents of such
19
constitutional civil rights as
the rights of freedom of speech, freedom of the press, freedom to be
informed, the rights to conduct scientific research and to participate in
a debate of national issues. It is my belief that Article 88 of The
Criminal Code is also in profound conflict with the contexts of the rights
to research and invent (Article 51 of The Civilian Code of 2005) and
the social responsibilities of lawyers (Article 3 of The Lawyers Code
of 2006). One of the articles relative to the lawyer’s social
responsibilities is to “contribute to the protection of justice and
development of economic issues, as well as to build a just, advanced and
democratic society.“ It is obvious that
Vietnamese lawmakers need to urgently amend these conflicting laws to
bring consistency between the rights stipulated in the Constitution and
in its derivative legislations.
In order to accuse my husband
of “production, hidden storage and circulation of anti-State
materials” pursuant to Article 88 of the Criminal Code, the Court
presented as evidence 121 documents which were allegedly removed from my
house and my husband’s office. We cannot at this time confirm whether all
these 121 documents really belong to us. I personally have filed
complaints asking for [police] receipts listing seized items, but neither
the police nor the People’s Procuracy has responded to our demand. That
the Court has not declared the nature and analysed the contents of these
121 documents has caused me to assume that there might be some “legal
problems” with only a number of these documents that were already listed
in the preliminary court verdict. My husband has freely admitted to
having written the two articles titled “The right to found a political
party,” and “The Vietnamese people are politically sophisticated
enough to build a multiparty system“. The Court’s view of these
articles was that “their contents were meant to smear and degrade the
leading role of the VCP and suggest that under current circumstances,
because the VCP did not have enough ability to lead the Revolution,
Vietnam is in need of a change of the ruling party or change to a
pluralistic, multi-party system in order to emerge out of poverty“ (PCS,
pp. 4 and 5). As indicated above in Part 2, my husband’s writing of these
two articles is within his right to free speech, which is protected by
the Vietnamese Constitution of 1992, as well as the ICCPR. Furthermore,
the above analysis shows that the Court of First Instance has not
presented adequate arguments and court evidences before reaching the
conclusion that these two articles were of “anti-State” nature. The usage
of descriptive terms such as “smear and degrade the leading role of the
CPV” reveals that the Court has attempted to inject into this matter its
biased, subjective thinking and gone beyond its jurisdiction as
stipulated in Article 88 of the Criminal Code. In addition, the Court’s
sentence concludes that my husband, ”is the person who drafted the
‘Bylaws of the Democratic Party’ of Mr. Hoang Minh Chinh“ (PCS, p.
6), despite the fact that throughout the trial the Court could not produce
enough evidence to back up their accusations. This has become a laughing
matter in our society that the government has committed so many
contradicting acts. One of these was their rush to convict my husband on
grounds of his relationship with the Democratic Party [Century 21] while
they have not yet come to a resolution of the legality of this party. For
these reasons, the government’s charges of my husband of “producing
anti-State materials” are absolutely groundless.
Hidden storage (Tang-Tru) is an intentional “act of
carefully hiding items away from others' knowledge” (VietEncyclopedia,
ibid). In this case, all the items confiscated at my husband’s law office
and our residence were the documents used for his research, and there was
no
20
intent on his part to hide them. All
the security agents who had followed my husband in the past months will
attest to the fact that the door to my husband’s law office was always
open to the public, and that the computers were available for others’
use. Thus, the charge of “secretly hiding documents” is the one, which is
absolutely without merit. When the investigative agents searched my
husband’s office and our residence, the seized documents were in the five
computers, on the bookshelves, or on his research bookcase where all the
research materials, including the research materials of Vietnam and
international laws, together with his client files, were kept. The fact
that these materials were collected simply for research purposes can be
demonstrated. First, these documents represent various political
viewpoints; some were pro, others against in various issues. They were
found in a clutter of materials, legal and otherwise. Second, the
presence of these materials alone does not necessarily mean that my husband
agrees with them. For example, my husband was not against the [National
Assembly] election but he did have amongst his research papers documents
containing Father Ly’s calls for boycott against it. In order to
understand thoroughly an issue, my husband should not hear from one side
nor should he read only documents that concur with his thinking. When it
is known that my husband was concerned about certain subjects, various
sources would either personally hand him or bring without his knowledge
to his law office documents, considered by the Court to be “extremely
anti-State, distorting or twisting the truth,“ such as “The
Communist Party of Vietnam is a scourge”, ”Journal of a victim of
injustice”, or a document by Quoc Quoc. In the preliminary court
trial, my husband freely admitted that he had possession of these
materials, even though he had not seen many of them, nor had he read
them. This proves that my husband never had any intent to hide anything,
even some were related to the most serious charges, because of his belief
in freedom of speech and freedom to do research – the rights guaranteed
by the Vietnam Constitution. Therefore the charge of hidden storage
against my husband is a violation of his civil rights guaranteed by the
Constitution.
I wish to further clarify the
matter of “hidden storage of data in the computer”. In this age of
global connectedness via the Internet, the charge [storing data] is an
obsolete concept. On a daily basis, one receives hundreds of emails from
numerous senders, friends and strangers alike. If one meticulously erases
all these emails, the residual proofs of them are still in the computer.
As a normal practice, very few people can successfully manage the volume
of emails he or she receives everyday. Furthermore, the Internet
represents a huge depository of news and information. Anybody can get on
the Internet to retrieve or deposit the information without having to
“secretly store” it in his/her personal computer. As a result, in the age
of the Internet, the control of stored data by setting geographical
barriers is rather out of the ordinary and it cannot be effectively
carried out in reality.
In the Court of First Instance
sentence, there was no mentioning of my husband being accused of ”having circulated (luu-hanh) printed
materials and cultural products with anti-State content”. Circulation
means “to give out broadly to the public in various places” (VietEncyclopedia.
ibid). However, in the itemized list of indictment counts in the
preliminary trial sentence, I notice one paragraph which says: “The
accused have disseminated (phat-tan) these documents on various channels
of information to reactionary Vietnamese organizations overseas.” (PCS
p. 5). To avoid any misundestanding, I presume that the Court took
21
“dissemination”
to mean the same as “circulation.” Even if this presumption were correct,
the charge against my husband was vague and imprecise. Instead of listing
factually item by item his violations of the law, e,g. via what means,
where and how, the Court only described the events in a series of
nebulous terms which did not specify who were “the accused”, what were
“the documents”, “the means of communications, and the name of
“reactionary Vietnamese organizations”. There are numerous items
cluttered together in the Court of First Instance sentence which can only
be viewed as arbitrarily, vague and hard to understand. In the context of
the sentence, this cluster “these documents” could only be construed as
references to the two above-referenced articles titled ”The right to
found a political party,” and “The Vietnamese people are
politically sophisticated enough to build a multiparty system“. As
per the above analysis, the Court does not have adequate reasons to
decide that the two articles are of anti-state nature. My husband
admitted to having sent these articles to the homepage of a SINGLE radio
station which is the BBC. BBC has been for years one of the world’s most
respected media agencies. It has its official office and representatives
in Hanoi. Nobody can summarily argue that BBC belongs to a group of
Vietnamese expatriates or BBC is an instrument of reactionary Vietnamese
organizations overseas. There have been numerous high-ranking Vietnamese
government officials, elected representatives, research cadres who often
voiced their opinions on the BBC --at times strong negative criticism
against the [Vietnamese] government. Other than the BBC, the Court has
not presented any proofs that my husband had distributed the two articles
to any other media organizations. If this were to happen, it is simply
because in these days of the Internet, printed media and any websites
could easily download, copy, and disseminate broadly any materials which
appear at another website. This can be done to broaden information to the
public without the author’s consent. In summary, the decision reached by
the Court of First Instance that my husband has committed acts of
circulating anti-State articles, is absolutely groundless.
4) Conclusion and Appeal to
the Court of Appeals
My husband is a patriot. As a
human rights lawyer, my husband is wholeheartedly devoted to protecting
the constitutional rights of Vietnamese citizens; therefore, he has
criticized and opposed wrongful and illegal activities of government
officials and agencies. In actuality, my husband’s contribution to
protecting religious freedom has helped Vietnam to improve the human
rights situation in the country, thus elevating international respect for
Vietnam. His contributions also help the Vietnamese government to better
understand problems involving Protestant followers, thus maintaining
stability in Vietnam.
The arrest and subsequent
trial of my husband were not carried out legally and in conformity with
current regulations and procedures. As the police had conducted a very
sloppy investigation of my husband’s activities they arrived at vague and
summary accusations. Both the Hanoi People’s Procuracy and the Hanoi
People’s Court, having wrongly accepted these erroneous conclusions
without further deliberation, charged and sentenced my husband pursuant
to Article 88 of the Criminal Code. Because of numerous procedural errors
and biases against my husband, the Court of First Instance of May 11,
2007 could not discover the truth of this case; consequently, he was
unjustly convicted.
22
All that my husband did was to
exercise his freedom of speech. The Vietnam Constitution of 1992
guarantees this civil right. This constitutional right is also firmly
protected by the International Covenant on Political and Civil Rights
since the Government of the SRV signed on to this document in 1982 and
enacted the Law on Signing, Accession and Implementation of International
Treaties in 2005. Accordingly, a Vietnamese citizen is entitled,
according to Article 19 of the Covenant, to the freedom of speech fully
and completely without any legal restrictions. International laws view
that peaceful opposition to a government does not constitute a crime. As
such, activities to criticize, correct, and protest in a non-violent way,
either verbally or in print, against certain government departments or
their employees should be considered lawful.
Even if the Vietnamese
Criminal Code is strictly applied to deal with this matter, the Court of
First Instance’s arguments have no merit. In order to accuse my husband
of having committed a crime against the Government of the SRV the Court
reasoned that his activities were against the Constitution, that he has
contacts with overseas Vietnamese who resolutely intend to oppose the SRV
and that he is member of anti-State organizations. All of these
accusations are false because of the erroneous assumption of the unique
role of leadership of the CPV. They were also based on the irrational
speculations, as well as groundless and unlikely labeling of certain individuals
and organizations, domestic and overseas alike. Without the proof of
intent to oppose the State – the subjective factor of the crime – my
husband’s act does not constitute a crime according to Article 88 of the
Criminal Code.
Moreover, my analysis above
shows that the government should review the entire contents of Article 88
of the Criminal Code to ensure its consistency with other laws, with the
Constitution, as well as with international treaties to which Vietnam
is a signatory. As currently stated, Article 88 contains too many vague
and catchall terms that many law-enforcement agencies have utilized to
intepret and apply the law incorrectly, wantonly and arbitarily, and
therefore the integrity of the law has been damaged. In the meantime, I ask
that Article 88 be suspended while this legislation is pending for
amendment or clarification.
Having analyzed the entirety
of the case of my husband, attorney Nguyen Van Dai, I hereby request the
Court of Appeals to consider the following:
a) To nullify
the sentence in the Court of First Instance, No. 153/2007/HSST and
suspend the case pursuant to Article 251 of the Code of Criminal
Procedure for the prosecutorial agencies have gravely violated so many
fundamental principles of the Code of Criminal Procedure, and my husband
is not guilty according to Article 2 of the Criminal Code, which reads: “No
crime without a previous penal law”;
b) To
immediately release my husband;
c) To return
all of our confiscated properties;
d) To reinstate the good name
of my husband by way of annuling the decision to withdraw my husband’s
membership card and the license of the Thien An
Law Office.
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|