|
|
DC&PT - Thời
Sự 2006
Tuổi trẻ
phải nói !
TRẦN TRUNG ĐẠO
(Góp ư với các bạn
trẻ trong nước về việc “góp ư” hay không
“góp ư” với Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại
hội X của Đảng Cộng sản Việt
Nam”)
Trong thời gian qua,
nhiều bài góp ư với Dự thảo Báo cáo Chính trị
Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ 10, từ nhiều người, nhiều
thành phần xă hội, nhiều thế hệ
được phổ biến công khai trên báo chí. Những
góp ư tuy khác nhau về mức độ phân tích nhưng
đều tập trung vào những sai lầm của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Một số quan điểm cho rằng những góp ư
như thế là đúng, là những bước đầu
cần thiết cho một tiến tŕnh dân chủ,
người dân có cơ hội được công khai
phát biểu và đang tận dụng cơ hội
đó. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm
cho rằng góp ư với giới lănh đạo Đảng
Cộng sản Việt Nam chẳng khác ǵ “đem
đàn gảy tai trâu”, ngày nào Đảng Cộng sản
c̣n độc quyền lănh đạo đất nước
th́ ngày đó chuyện góp ư chỉ là tṛ đùa, người
Việt có thói quen nói cho đă cái miệng nhưng
thường dừng lại ở chỗ nói cho đă
mà thôi v.v..
Trước đây tôi cũng nghĩ như quan điểm
thứ hai. Đọc các báo cáo chính trị trong các
đại hội từ 1960 đến 2001, tôi có cảm
tưởng các ông già đó chỉ thay ngày đổi
tháng c̣n nội dung th́ xào nấu cho khác nhau chứ
căn bản vẫn giống nhau. Những người
soạn đề cương, một phần không dám
viết khác, một phần dù sinh trước hay sinh
sau cũng đều bái chung một thầy, đọc
chung một sách và dùng chung một cuốn tự điển
nên không lạ ǵ ngôn ngữ trong các văn kiện Đảng
gần như giống hệt nhau. Nghe các lănh đạo
Đảng trả lời phỏng vấn giống
như nghe một đĩa hát cũ. Nếu bài phỏng
vấn không ghi ngày tháng, thật khó biết các ông đó
được phỏng vấn khi nào. Trong các báo cáo
chính trị th́ Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn luôn sáng suốt, đường lối luôn luôn
đúng đắn và nếu phải nhắc đến
sai lầm th́ sai lầm đó bao giờ cũng phát xuất
từ những lư do hết sức khách quan, chẳng
trách người dân trong nước thường mỉa
mai “Mất mùa là tại thiên tai, được mùa là bởi
thiên tài Đảng ta”.
Tuy nhiên, sau một thời gian khá dài t́m hiểu tiến
tŕnh h́nh thành của giới trí thức trẻ, đặc
biệt các em du học sinh tại Mỹ, tôi lại nghĩ
“góp ư” là một điều cần thiết. Hai quan
điểm trên chưa hẳn mâu thuẫn nhau. Phát biểu
là dấu hiệu đầu tiên của sự tự
tin, nói lên tinh thần độc lập và không sợ
hăi. Biết là “đàn gảy tai trâu” nhưng vẫn cứ
nói. Vấn đề không phải là Đảng có nghe
hay không, điều quan trọng là nói.
Trong một bài viết trước đây, tôi cho rằng
hai căn bịnh trầm
kha c̣n tồn tại trong thế hệ trẻ
là nói trễ và nói dối. Hai căn bịnh đó là hậu
quả của một chính sách giáo dục ngu dân, tiêu diệt
các mầm mống sáng tạo, lăo hóa các nhận thức
của tuổi trẻ, đă và đang tồn tại
trong xă hội Việt Nam. Do đó nói vẫn là quan tâm
hàng đầu, c̣n nói ǵ, nói sai hay nói đúng tính sau. Nhiều
khi nói không đúng hay không đúng lắm lại là một
điều hay v́ có cơ hội cho những tiếng
nói đúng, hợp t́nh hợp lư hơn được
gióng lên. Tiến tŕnh dân chủ của một quốc
gia, dù là Cộng ḥa Liberia vừa ra khỏi nội chiến
hay dân chủ hàng đầu như Mỹ cũng bắt
đầu trong một cách đơn giản như thế.
Những người Mỹ soạn thảo hiến
pháp 1787 không phải là cái ǵ cũng “nhất trí” như
Quốc hội Việt Nam mà căi nhau cả nhiều
tháng, cũng có người ra về nửa chừng,
có người không kư, thậm chí trong số 55 đại
biểu họp ngày đầu chỉ có 39 người
đặt bút kư. Dù sao, như Benjamin Franklin lưu ư,
đó là nền tảng để xây dựng căn nhà
dân chủ tốt đẹp hơn.
Thành phần trí thức Việt Nam trẻ, không chỉ
học trong nước mà ngay cả thành phần sinh
viên du học nước ngoài, những năm trước
đây đă không đóng đúng vai tṛ của tuổi
trẻ trước những vấn đề bức
thiết của đất nước. Bịnh nói trễ
quả là trầm trọng. Mười năm trước
trong thành phần đối kháng không có những Lê Chí
Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh, Đỗ
Nam Hải và trong hàng ngũ trí thức trẻ không có những
người thẳng thắng như Phạm Duy Nghĩa,
Vũ Minh Khương.
Tôi tiếp xúc nhiều với tuổi trẻ, khá
đông là du học sinh, v́ tôi luôn đặt nặng vai
tṛ của thế hệ trẻ Việt Nam đối
với tương lai đất nước dù họ
sinh ra ở nơi nào trên đất nước hay
nơi nào ở hải ngoại. Các thế hệ cha
chú phần lớn đều mang theo những vết
thương hằn sâu trên thân thể cũng như
trong tâm thức, và do đó không có một góc nh́n rộng
đủ để thấy được những
nhu cầu khách quan của đất nước.
Trong những đợt du học đầu, phần
lớn nếu không muốn nói hầu hết sinh viên
đến từ miền Bắc, có lư lịch tốt,
con của các gia đ́nh cán bộ trung hay cao cấp.
Trong những năm sau, điều kiện du học dễ
dàng và rộng răi hơn, lư lịch cũng không cần
phải quá hồng như những đợt đầu,
tŕnh độ học vấn được đặt
nặng đúng mức và sinh viên cũng đến từ
nhiều nơi chứ không chỉ riêng miền Bắc.
Như những con chim được thoát ra khỏi lồng
sắt, dù lớn lên ở miền Bắc hay miền
Nam, một khi được sống trong môi trường
tự do, tiếp cận hàng ngày với các sinh hoạt
dân chủ, các em hiểu được tự do, dân chủ
là một quyền thiêng liêng, không thể thiếu trong
đời sống con người. Niềm khao khát tự
do dân chủ cho đất nước trong ḷng các em cũng
qua đó mà dấy lên.
Tôi đă có dịp ngồi nghe nhiều em du học sinh
từ miền Bắc kết án giới lănh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam hùng hồn
như một ông biện lư kết án những tên trộm
bị bắt quả tang, không những đúng sách vở
mà c̣n bằng những ví dụ, bằng chứng rất
rơ ràng, cụ thể mà các sinh viên gốc Việt cùng thế
hệ lớn lên ở nước ngoài không thể biết
được. Những câu chuyện các em kể về
đời sống của người dân miền Bắc
c̣n thê thảm hơn nhiều so với những chuyện
chúng ta đọc hàng ngày trên báo. Những cảnh mẹ
tố con, vợ tố chồng trong cải cách ruộng
đất mà các em nghe cha mẹ kể c̣n chi tiết và
rùng rợn hơn những lời kể trong sách của
Hoàng Văn Chí, Nguyễn Minh Cần. Khi phê b́nh t́nh trạng
con ông cháu cha trong chế độ cộng sản, các
em không chỉ nói lên tệ trạng đáng khinh đó
mà c̣n có thể kể vanh vách từng tên một, con ông
Phạm Hùng làm ǵ, con ông Lê Đức Anh học hành ra
sao, ở đâu, làm ǵ v.v…
Tôi cũng biết một em du học sinh mà việc
đầu tiên sau khi dọn xong chỗ ở trong
cư xá là đặt trên kệ sách của ḿnh một
bức h́nh “Bác Hồ - một t́nh yêu bao la” nghiêm trang,
có nụ cười nhân hậu, nhưng chỉ một
thời gian sau bức h́nh ông Hồ đă không c̣n trên
giá sách nữa. Kệ sách của em toàn là sách khoa học,
sách kinh tế bằng tiếng Anh và “Bác Hồ - một
t́nh yêu bao la” đă được đưa đi “t́m
đường cứu nước” trong một nơi
kín đáo nào đó. Tôi khám phá nơi em những trăn
trở lớn về tương lai đất nước.
Là một sinh viên kinh tế, em biết Việt Nam không
có tương lai nào cả. Những ǵ em được
dạy ở Việt Nam chỉ là những lời hứa
rỗng. Tổng sản lượng một năm mồ
hôi nước mắt của cả nước góp lại
không bằng vài tuần làm thêm của với các quốc
gia kỹ nghệ. Người dân Việt cần 30
năm để tiến từ chế độ
ăn độn sang được gạo trắng
nhưng vẫn được Đảng ca ngợi
như một bước phát triển thần kỳ.
Trong 30 năm đó bao nhiêu mồ hôi nước mắt
đă đổ xuống, bao nhiêu tài nguyên nhân lực
đă bị lăng phí và trong 30 năm đó nhân loại
đă bỏ Việt Nam biết bao xa. Khẩu hiệu
“Phát triển kinh tế theo định hướng xă
hội chủ nghĩa” em đang nghe, giống như
khẩu hiệu “Tiến nhanh tiếng mạnh tiếng
vững chắc lên chủ nghĩa xă hội” cha mẹ
em đă nghe và cũng không khác mấy so với “Thắng
giặc Mỹ ta xây dựng bằng mười lần
hôm nay” mà các thế hệ Việt Nam trong chiến tranh
đă nghe. Tất cả chỉ là những chiếc
bánh vẽ. Nền kinh tế Việt Nam chỉ là một
lối đi ṿng, cuối cùng sẽ dẫn vào ngơ cụt.
Qua trao đổi với em, tôi biết trong ḷng em, sự
kính trọng dành cho ông Hồ vẫn c̣n nhưng ít ra
không đến nỗi mù quáng, không mang màu sắc sùng
bái tà ma một cách cuồng tín như nhiều người
Việt Nam không có điều kiện sống trong môi
trường tự do dân chủ như em. Với tôi,
em đă bước một bước nhận thức
khoa học rất dài. Đổi mới tư duy không
phải là việc của một sáng một chiều
mà là một quá tŕnh liên tục và cần có thời gian.
Hăy để em va chạm với thực tế, qua
đó, em sẽ học được những điều
mới lạ. Sự thật và giả dối như
ánh sáng và bóng tối. Một khi ánh sáng hiện rơ ra, bóng
tối và sương mù sẽ tự động tan
đi. Mỗi ngày em sẽ hiểu rơ hơn và thấy
được nhiều điều khác hơn về
những con người mà một thời em được
dạy như là những “mặt trời chân lư”. Tôi
tin, một khi thấy được sự thật bằng
chính mắt ḿnh, nhận thức sự thật
được bằng chính tư duy của ḿnh, em sẽ
dứt khoát bỏ đi và không bao giờ bị mê hoặc
lần nữa.
Thế nhưng, những thao thức ước mơ
kia chỉ sống dậy trong giảng đường
đại học Mỹ. Những khát khao cháy bỏng
kia cũng chỉ cháy ở xứ người. Khi từ
giă vùng ánh sáng của tự do văn minh để trở
về với vũng tối của độc tài lạc
hậu, suy nghĩ của các em cũng theo đó mà bị
nhiễm đục. Trong nước, các em không c̣n là một
sinh viên có suy nghĩ độc lập mà là một bộ
phận của chiếc máy xay khổng lồ. Việt
Nam không có khái niệm tự trị đại học.
Các em phải đối diện với những nhu cầu
mới của cá nhân và gia đ́nh. Các em cũng đối
diện với những áp lực, đe dọa từ
phía nhà cầm quyền. Các em rất dễ dàng bị
cuốn hút vào chiếc ṿng công danh và quyền lực.
Các em cảm thấy yếu đuối, nhỏ nhoi và
già nhanh hơn so với tuổi tác của ḿnh. Những
trăn trở, ước mơ chưa chết và
đôi khi cũng thức dậy trong đêm khuya,
nhưng để được nói lên, được
biến thành những hành động cụ thể vẫn
c̣n là một quảng đường dài hút mắt.
Nhắc lại những chuyện trên không có nghĩa là
tôi quá bi quan về tuổi trẻ. Nói đến những
thực tế ảm đạm đó không có nghĩa
là tôi đánh giá thấp vai tṛ của tuổi trẻ
hay phủ nhận các đóng góp của tuổi trẻ.
Tôi tin ở tuổi trẻ như tin vào lịch sử.
Các thế hệ trẻ dù muốn hay không cũng phải
nhận lănh trách nhiệm của ḿnh. Sức đẩy
để đất nước đi lên là từ bàn
tay tuổi trẻ. Tương lai Việt Nam có
được vinh quang hay phải tiếp tục chịu
đựng lầm than tủi nhục cũng là từ
hành động của các thế hệ trẻ. Dù có
oán trách các thế hệ cha chú bao nhiêu đi nữa th́
trách nhiệm vá lại mảnh dư đồ rách nát
hôm nay vẫn là trách nhiệm của tuổi trẻ. Nếu
tuổi trẻ không nói rồi ai sẽ nói thay cho? Nếu
tuổi trẻ không làm th́ rồi ai sẽ làm thế
cho đây?
Đă đến lúc tuổi trẻ phải nói.
Khi bàn về quyền nói, quyền góp ư, tôi không thể
quên những bài góp ư nổi tiếng của Tiến sĩ
Phan Đ́nh Diệu. Cung cách và thái độ của tiến
sĩ Phan Đ́nh Diệu là một bài học giá trị
về sự cần thiết để góp ư.
Cách đây 13 năm, tôi đọc được bài
góp ư của tiến sĩ Phan Đ́nh Diệu tại một
hội nghị của ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Trong bài, ông bàn về
những phương thức để đưa Việt
Nam thành một nước giàu mạnh như ông khẳng
định “xu thế phát triển trong ḥa b́nh, ổn
định để đi tới dân giàu nước
mạnh, xă hội văn minh đă có thể coi như
một xu thế mới không có ǵ cưỡng nổi.”
Và tiến sĩ Phan Đ́nh Diệu kết luận: “Một
mặt, chúng ta thừa nhận nền kinh tế thị
trường với những chủ thể kinh tế
tự do, b́nh đẳng của nó, nhưng mặt
khác, chúng ta vẫn duy tŕ một hệ thống tổ
chức xă hội theo mô h́nh chủ nghĩa xă hội
nhà nước. Đây là một mâu thuẫn khó dung ḥa
được. Cần nh́n nhận một sự thật
là không thể phát triển kinh tế thị trường
với lư thuyết về chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa cộng sản đâu có thừa nhận
kinh tế thị trường? Cũng xin phép nói rằng
một Đảng theo chủ nghĩa cộng sản,
nếu thực sự kiên định với chủ
nghĩa cộng sản, th́ không thể lănh đạo
sự phát triển kinh tế thị trường là
cái mâu thuẫn như nước và lửa với học
thuyết xây dựng xă hội cộng sản.”
Hẳn nhiên giới lănh đạo Đảng Cộng
sản không đếm xỉa ǵ đến những lời
gan ruột của tiến sĩ Phan Đ́nh Diệu mặc
dù trong tất cả văn kiện quan trọng của
Đảng đều có nhắc đến “vận dụng
một cách sáng tạo”, “cách mạng tư duy”, “chủ
động nắm bắt thời cơ”, “đẩy
mạnh kinh tế thị trường” v.v…
Suốt 30 năm cầm quyền, giới lănh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không học
được ǵ từ những cái hay cái đúng của
thế giới hay sửa sai được ǵ từ
những sai lầm của chính họ.
Lịch sử thế giới đă để lại nhiều
bài học về giá trị của ḷng yêu nước,
những tấm gương lănh đạo quốc gia
biết nh́n xa thấy rộng, nắm bắt thời
cơ. Đừng nói chi Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật
hay Rama IV của Thái cách nay đă vài thế kỷ, chỉ
riêng Konrad Adenauer của Đức sau thế chiến
thứ hai cũng đă chứng minh thế nào là sự
quan trọng của vận dụng sáng tạo, nắm
bắt thời cơ lịch sử và có một tầm
nh́n rất xa vào tương lai đất nước.
Bài học Konrad Adenauer vô cùng giá trị mà thế hệ
trẻ Việt Nam nên biết.
Trong kế hoạch viện trợ kinh tế Châu Âu,
được gọi là Kế hoạch Marshall, Mỹ
đă viện trợ 13 tỉ đô-la năm 1947,
tương đương với khoảng 130 tỉ
theo thời giá hiện nay, để tái thiết châu
Âu. Người Mỹ bỏ tiền ra không phải chỉ
v́ ḷng thương xót của chính phủ Mỹ dành cho
một châu Âu điêu tàn đổ nát mà chính là để
ngăn chặn làn sóng đỏ khỏi lan tràn sang phía
Tây, tạo điều kiện cho các cơ hội
đầu tư của tư bản Mỹ, mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm
được sản xuất với tốc độ
nhanh của thời chiến nhưng đang đối
diện với nguy cơ thất nghiệp trầm trọng
trong thời b́nh. Trong lănh vực ngoại giao, Kế hoạch
Marshall đă giúp cho sự có mặt của Mỹ tại
Châu Âu chẳng những là điều hợp lư mà c̣n hợp
t́nh.
Konrad Adenauer hẳn nhiên biết rất rơ những dụng
ư của Kế hoạch Marshall, nhưng thay v́ từ chối
hay sử dụng một cách lăng phí đồng tiền
viện trợ, chính phủ ông đă dùng nhiều tỉ
đô-la để tái thiết hàng ngàn thành phố, phục
hồi kỹ nghệ, và không lâu, nước Đức
đă trở thành quốc gia kỹ nghệ tiên tiến
cạnh tranh ngang ngửa với sản phẩm của
Mỹ. Konrad Adenauer, nhà lănh đạo vĩ đại
của nước Đức thời hiện đại,
không những lo tái thiết đất nước mà
c̣n thể hiện quan tâm thật sự đến tinh
thần đoàn kết, ḥa giải và ḥa hợp các thành
phần dân tộc Đức. Sau khi Adenauer qua đời
một cuộc trưng cầu ư kiến tại Đức
để xem thành tựu nào của Adenauer có ư nghĩa
nhất; khác với dự đoán của các nhà phân
tích, đa số dân Đức biết ơn Adenauer
không phải v́ ông đă đưa nước Đức
lên hàng cường quốc mà v́ ông đă đưa
được người tù binh cuối cùng của
chế độ Quốc Xă, một chế độ
đă từng bỏ tù ông, từ Liên Xô về đoàn tụ
với gia đ́nh.
Tôi nghĩ trong tương lai, nếu có một thống
kê nào yêu cầu người dân chọn một điều
sai lầm nhất của giới lănh đạo Đảng
Cộng sản, tuy khó chọn, nhưng có lẽ chữ
kư của ông Phạm Văn Đồng trong lá thư thừa
nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các chiến dịch
cải cách ruộng đất ở miền Bắc và
việc bỏ tù nhiều trăm ngàn sĩ quan viên chức
Việt Nam Cộng Ḥa ở miền Nam sau 1975 sẽ là
những câu trả lời được nhiều phiếu
nhất. Đó là bằng chứng của chủ
trương “kiên quyết bảo vệ vùng trời
vùng biển của tổ quốc” và “phát huy tinh thần
ḥa hợp ḥa giải dân tộc” mà giới lănh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam đă hoàn thành
triệt để trong 50 năm qua.
Sự kiện Việt Nam đă cần đến 30
năm để có một ông thủ tướng chính
phủ chính thức viếng thăm Hoa Kỳ chỉ
để lần nữa chứng minh chính sách đối
ngoại lạc hậu, hẹp ḥi, vô cùng thiển cận
mà Đảng Cộng sản Việt Nam theo đuổi.
Ảo giác chiến thắng đă làm họ nghĩ rằng
chính phủ Mỹ phải cử đại sứ nhất
bộ nhất bái đến Hà Nội xin bồi
thường chiến tranh, nhân mạng và tài sản cho
Việt Nam mà quên một điều, đối với
các cường quốc khái niệm thắng hay bại,
bạn hay thù, chỉ là một sự thay đổi
hay điều chỉnh một vài điểm trong chiến
lược toàn cầu của họ mà thôi. Từ 1975,
giới lănh đạo Đảng Cộng sản Việt
Nam đă bỏ lỡ nhiều cơ hội để
hội nhập vào thế giới như một quốc
gia b́nh đẳng trước cộng đồng nhân
loại như đă được ghi lại trong hồi
kư Hồi ức và Suy nghĩ của cựu thứ
trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ và nhiều
tài liệu nước ngoài khác.
Trong quan điểm của cá nhân, tôi thực sự nghĩ
chính phủ Mỹ có trách nhiệm đóng góp vào việc
tái thiết Việt Nam sau cuộc chiến, có trách nhiệm
đạo đức với 7 triệu tấn bom họ
đă rải xuống ba miền đất nước
Việt Nam, có trách nhiệm đạo đức với
hàng ngàn tấn hóa chất họ đă rải xuống
thôn làng đồng ruộng Việt Nam, có trách nhiệm
đạo đức với nhiều triệu người
Việt đă chết trong cuộc chiến. Nhưng
trách nhiệm đó không thể giải quyết bằng
chủ trương “ai thắng ai” như Lê Duẩn
huênh hoang sau 30 tháng 4 năm 1975 mà phải bằng những
cuộc thương thảo b́nh đẳng và có lợi
cho cả hai bên.
Chính sách của Đảng trong 30 năm qua chứng tỏ
quá rơ ràng giới lănh đạo Đảng không quan tâm
đến quyền lợi lâu dài của dân tộc. Mục
đích của họ là duy tŕ cho bằng được
vai tṛ đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt
Nam. Tất cả “đổi mới”, “hội nhập”
cũng chỉ nhằm phục vụ cho mục
đích đó mà thôi. Họ lừa bịp và khinh thường
nhân dân đến nỗi, trong khi hàng vạn người
bị giết một cách thảm thương oan uổng
trong cải cách ruộng đất, th́ trong Báo cáo Chính
trị trong Đại hội III năm 1960, Lê Duẩn
đă xem đó như một thành quả vĩ đại,
một thắng lợi lịch sử: “Đảng
ta đă vận động cuộc cải cách ruộng
đất ở miền Bắc nước ta, xoá bỏ
vĩnh viễn chế độ chiếm hữu phong
kiến đối với ruộng đất, thực
hiện triệt để khẩu hiệu "người
cày có ruộng". Việc hoàn thành hai nhiệm vụ
cơ bản của cuộc cách mạng dân chủ nhân
dân trên miền Bắc nước ta là một thắng
lợi lịch sử của nhân dân Việt-nam. Nó mở
đường cho cách mạng Việt-nam bước
sang một giai đoạn mới.”
Trở lại với chuyện “góp ư” của Tiến sĩ
Phan Đ́nh Diệu. Câu ca dao “Gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn” có lẽ thích hợp nhất để dành
ca ngợi nhân cách của hai trí thức lớn của
thời đại chúng ta: Nguyễn Mạnh
Tường và Phan Đ́nh Diệu. Giống
như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường,
người đă công khai tố cáo những sai lầm
của cải cách ruộng đất trước Mặt
trận Tổ quốc Hà Nội tháng 10 năm 1956, Tiến
sĩ Phan Đ́nh Diệu phát biểu trong tư cách của
một uỷ viên trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tháng 3 năm 1993 về con đường
không lối thoát của xă hội Việt Nam sau chiến
tranh. Hơn ai hết, Tiến sĩ Phan Đ́nh Diệu
biết cái chức ủy viên trong một hội mang
danh nghĩa Tổ quốc nhưng lại do một ủy
viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản
làm chủ tịch cũng chỉ là hữu danh vô thực,
nhưng ông đă khôn khéo vận dụng cái không có một
chút thực quyền đó thành một diễn đàn
có thực quyền để công kích Đảng một
cách công khai mà Đảng không làm ǵ được. Ngôn
ngữ trong các bài góp ư khác của ông trong những
năm gần đây cũng thế, trí thức, từ
tốn, nhẹ nhàng, khéo léo, tuy nhiều đoạn phải
đọc giữa hai hàng chữ, nhưng luôn chuyên chở
thao thức của một trí thức yêu nước.
Trí thức phải nói. Những bậc trí thức
như Nguyễn Mạnh Tường, Phan Đ́nh Diệu
đă nói, rồi những trí thức trẻ phải
nói.
Vâng, nhưng nói ǵ?
Trong một dịp tâm t́nh với các bạn sinh viên tại
một đại học ở Mỹ, một sinh viên
du học đă hỏi tôi, giả thiết chúng ta đồng
ư với nhau rằng đất nước cần phải
có tự do dân chủ, các quyền của người
dân phải được tôn trọng, xă hội Việt
Nam phải trong sạch, tương lai Việt Nam phải
giàu mạnh, đạo đức phải được
phục hồi và đất nước phải hội
nhập vào ḍng phát triển của văn minh nhân loại,
th́ việc phải làm của em khi về nước sẽ
là ǵ?
Tôi chia sẻ với em. Nếu chúng ta đồng ư với
mục đích đó rồi em làm ǵ cũng được.
Em có thể đứng hẳn về phía người
dân trực diện với Đảng Cộng sản
để đấu tranh cho quyền lợi của
nhân dân, có thể đứng ngoài như một chuyên
gia độc lập, làm chủ một công ty tư
nhân, thậm chí em cũng có thể tham gia vào bộ máy
lănh đạo Đảng và Nhà nước, trở nên
một Đảng viên, một bí thư tỉnh ủy,
thành ủy, ủy viên trung ương Đảng, nói
chung, làm tốt nhất trong hoàn cảnh của em và với
những phương tiện em có. Làm tốt nhất
mà tôi muốn nói với em là mỗi công việc em làm, mỗi
chữ kư em kư, mỗi tiếng nói em cất lên, mỗi
chỉ thị em ban ra, bằng cách này hay cách khác phải
gởi gắm được, chuyên chở được,
phải thúc đẩy cho được mụch
đích cuối cùng tự do, dân chủ, nhân bản và
cường thịnh mà em theo đuổi cho đất
nước ḿnh. Nói cũng tương tự như
làm. Không nhất thiết phải nói đến những
vấn đề đao to búa lớn nhưng bằng
việc nói lên những bất công cụ thể,
trước mắt và ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống người dân. Cuộc
vận động phục hưng Việt Nam là một
cuộc vận động toàn diện chứ không giới
hạn trong một vài lănh vực.
Thật vậy. Chế độ độc tài hiện
nay mâu thuẫn với quyền lợi đất
nước về mọi mặt nên phê b́nh mặt nào cũng
đúng cả. Từ những cuộc biểu t́nh của
công nhân các khu Công nghiệp Điện Bàn Quảng Nam,
Khu Công nghiệp Biên Hoà II, Khu Công nghiệp Tân B́nh, Khu Chế
xuất Vĩnh Lộc, Công ty Giày Gia Định, tệ
nạn buôn bán phụ nữ, bán thân nuôi miệng, bán máu
nuôi con, làm dâu xứ lạ, cho đến ư thức hệ
Marx-Lenin, độc tài kiểu Stalin, đàn áp tôn giáo
v.v… đều là sản phẩm của chế độ
cộng sản Việt Nam.
Tôi không bao giờ nghĩ con đường phục
hưng dân tộc là độc đạo mà có thể
từ nhiều ngả khác nhau. Mỗi người Việt
Nam sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh gia
đ́nh, thời đại không giống nhau, mang trên
lưng một quá khứ khác nhau và do đó t́nh yêu
nước cũng thuận theo điều kiện mà
thể hiện. Tiến sĩ Phan Đ́nh Diệu phê
b́nh Đảng từ một diễn đàn hợp
pháp và được nhiều người nghe, điều
đó không có nghĩa là những tiếng nói phản
kháng khác là bất hợp pháp và không ai nghe. Nói cũng
không có nghĩa là thỏa hiệp với tầng lớp
lănh đạo Đảng. Nếu ngày mai, mỗi gia
đ́nh Việt Nam, mỗi người Việt Nam
đều gởi cho Đảng Cộng sản một
bản góp ư với nội dung “Tôi không chấp nhận
sự lănh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam” th́ tiếng nói đó có ư nghĩa biết
bao nhiêu.
Dĩ nhiên giới lănh đạo Đảng không muốn
người dân có quyền nói một cách tự do
như thế, nhưng muốn hay không không c̣n là quyết
định của giới lănh đạo Đảng
nữa. Vào năm 2006, Đảng Cộng sản vẫn
c̣n là một Đảng độc tài toàn trị
nhưng cũng chưa bao giờ trong suốt 76 năm
lịch sử, Đảng ở vào thế bị
động và bị cô lập hơn bây giờ. Trong
chiến tranh chống thực dân, Đảng có nhiều
lư do để vận động quần chúng, trong chiến
tranh Việt Nam Đảng có nhiều phương tiện
để bưng tai bịt mắt nhân dân, nhưng trong
cuộc tranh chiến tranh chống độc tài, nghèo
nàn, lạc hậu hiện nay th́ không. Quyền lợi
của Đảng và quyền lợi của dân tộc
về căn bản vốn mâu thuẫn và ngày nay mức
độ mâu thuẫn đă dẫn đến điểm
đối kháng. Nói theo kiểu quy luật lượng
chất th́ nước đă sôi, lửa đă cháy. Những
cuộc đ́nh công, từ tự phát đang tiến dần
đến tổ chức, đang diễn ra trên khắp
nước là hồi chuông báo tử cho một chế
độ mà mỗi khi há miệng là nhân danh quyền lợi
của giai cấp công nhân. Ngày nay người dân Việt
Nam đă thấy rằng, kẻ thù của nghèo nàn lạc
hậu, vật cản của phát triển kinh tế,
con kỳ đà của hội nhập vào trào lưu dân
chủ văn minh nhân loại không ǵ khác hơn là Đảng
độc tài Cộng sản. Nếu có cơ hội
để nói mà không lo sợ bị tù đày, tôi tin mọi
người dân Việt Nam đều nói.
Nhiệm vụ của tuổi trẻ Việt Nam hiện
nay, v́ thế, là mang lịch sử trả về cho những
người thực sự đă làm nên lịch sử.
Một lư do khác mà suưt chút nữa tôi quên đặt ra, nếu
tuổi trẻ không “góp ư” với Dự thảo Báo cáo
Chính trị Đại hội Đảng Cộng sản
lần này, biết đâu sẽ không c̣n cơ hội
nào nữa, v́ đây có thể là đại hội cuối
cùng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trích: Talawas
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|