DC&PT - Thời Sự 2006

 

 

 TÀI LIỆU TỪ TRONG NƯỚC

 

 

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ ĐỨC VÀ NGUYỄN DU,

HAY LÀ VẤN ĐỀ MUÔN THUỞ CỦA TỰ DO SÁNG TÁC

 

 

(Tham luận của Trần Mạnh Hảo tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII.

Đọc tại Hội trường Ba Đ́nh – Hà Nội chiều ngày 23-4-2005)

                                                                      

LTS: Các nhà lănh đạo bảo thủ độc tài từ Nông Đức Mạnh tới Nguyễn Khoa Điềm thường than trách là ở VN hiện nay vắng bóng những sáng tác văn học có giá trị. Nhưng họ không nói là nguyên nhân tại sao. V́ đâu và v́ ai mà văn học VN bị nghèo nàn và ấu trĩ trong nhiều thập kỉ?  Nhà văn Trần Mạnh Hảo, một nhà văn c̣n giữ được nhân cách và phong độ -“ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !”-  đă dám nói thẳng về nguyên nhân này. Bạn đọc sẽ t́m thấy câu trả lời trong bài dứơi đây của Trần Mạnh Hảo.

 

 

 

Kính thưa quư vị đồng nghiệp tôn quư,

Kính thưa quư vị lănh đạo và quan khách

Trần Mạnh Hảo tôi tuy 70 kư nhưng thực ra chỉ là một con sâu, nói đúng hơn, là một con sâu ăn lá dâu  internet, nghĩa là mới đốc ra mê các tờ báo mạng, dù sáng nào cũng phải vượt qua bức tường lửa mới đọc được cái ǵ ḿnh thích đọc, mà không cần ai chọn món ăn tinh thần dùm cho ḿnh như bà bảo mẫu chọn cháo, hay thực đơn sữa cho trẻ nhỏ. Sáng sớm 21-4-2005, tôi đang đọc báo mạng, th́ nhà thơ Hữu Thỉnh gọi vào bảo : Ông viết tham luận chưa, gửi bằng email ra ngay để đăng kư đọc sớm. Tôi bảo : thôi anh Thỉnh ạ, tôi xin im lặng ngồi nghe là quư cho Đại hội bội phần rồi, cho tôi lên tiếng là hơi bị mệt đấy. Anh Thỉnh bảo : Ông cứ viết đi, viết cho hay vào ! Tôi ra điều kiện : tôi sẽ viết tham luận, nhưng viết thật ḷng những suy nghĩ của ḿnh về nghề văn, cả điều vui và nỗi buồn, mong được sự “đối thoại” lại của đồng nghiệp, thậm chí của sự giải thích từ cấp trên, nếu cấp trên “hạ cố” đối thoại cùng văn nghệ. Anh Thỉnh khuyến khích : th́ có ai cấm ông nói thật đâu. Vâng, được lời như cởi tấm ḷng, tôi xin thành thật đây, mặc dù biết : “ Thuốc đắng dă tật, sự thật mất ḷng”. Bài tham luận này của tôi, v́ sự thật đôi lúc rất khó nghe, có làm mất ḷng ai đó th́ xin làm ơn bỏ quá cho, cũng đừng vỗ tay đuổi xuống mà lớp trẻ nó lại cười cho rằng các bố già không biết “đối thoại”, ai nói hơi trái tai một tí là “Phong Lai mặt đỏ phừng phừng”. Vâng, v́ tương lai của nền văn học, hơn nữa là tương lai của văn hoá Việt Nam mà chúng ta có mặt ở đây, trong hội trường Ba Đ́nh lịch sử này, không chỉ để hoan hỉ chén chú chén anh đặng bầu bán nhau lên chấp hành chấp tỏi, mà thiết yếu là bàn xem, làm cách nào có được tác phẩm lớn như nghị quyết đảng từng nhiều lần yêu cầu chúng ta .

Tương truyền, vua Tự Đức là người rất mê Truyện Kiều, như mê “   Đập cổ kính ra t́m lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi”. Nhưng khi đọc đến câu thơ Nguyễn Du viết về Từ Hải : “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, nhà vua đập bàn quát : “ Bắt ngay Nguyễn Tiên Điền vào đây cho ta, quất cho 20 roi để gă biết trên đầu c̣n có ai hay không ?”. Quan hầu thưa : “ Muôn tâu Hoàng Thượng, Nguyễn Tiên Điền tịch đă khá lâu rồi thưa hoàng thượng !”. Nhà vua không thể rút lệnh đánh roi Nguyễn Du về được, bèn phán : “ Treo cái án 20 roi ta ban cho Nguyễn Du lên giữa giời, để bọn văn nhân thi sĩ đời sau nh́n thấy gương tày liếp này mà liệu liệu cái thân phận bút nghiên thấp cổ bé họng thi với phú cứ thích chơi trèo !”. Hai trăm năm qua rồi, hậu thế vẫn c̣n mừng cho Nguyễn Du không bị vua nọc ra đánh toét đít, bởi v́ cái chết đă cứu ông ! Cũng may vô cùng cho hậu thế, may vô cùng cho văn hoá Việt Nam, đội ơn vua Tự Đức bội phần. Ngài đă không v́ một câu thơ “khi quân” của Truyện Kiều mà ra lệnh đốt hết sách Nguyễn Tiên Điền hay bỏ “Đoạn trường tân thanh” vào cối giă để lấy giấy tái chế như hôm nay. Ngài đă hi sinh cái “sĩ diện thiên tử” bị xúc phạm đi, như nuốt một mối nhục lớn, để dâng hiến cho ngàn sau dân tộc một kiệt tác vĩ đại nhất là Truyện Kiều mà Ngài từng rung đùi thưởng ngoạn cùng trăng thanh gió mát nơi Khiêm Lăng tuyệt mỹ. Ôi, giá mà thời nay có được vài ông vua như vua Tự Đức th́ mấy cuốn sách “hiền như bụt” kiểu : “ Thượng Đế th́ cười” của Nguyễn Khải, “ Truyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn”, “ Đi t́m nhân vật” của Tạ Duy Anh… dù lục lọi mỏi tay, t́m bới mỏi mắt cũng chẳng thấy  một câu văn khi quân nào, đă không phải ném vào máy nghiền để thành bột giấy !Than ôi, thời Nguyễn Du, thời vua Tự Đức làm ǵ đă có pháp lệnh : “ TỰ DO SÁNG TÁC” như hôm nay. Nhưng cái món roi vọt kia vốn là món sở trường vua chúa Trung Hoa dành cho văn thi sĩ, tuy chưa kịp quất vào thân xác Nguyễn Du, th́ nó vẫn c̣n hằn đầy ra đấy trong Truyện Kiều. Mỗi câu lục bát nổi lên như một vết lươn không chỉ của lằn roi định mệnh quất nỗi đau lên  trang giấy xưa, mà là đ̣n roi hiện thực Tú Bà quất vào thân xác Thuư Kiều, hiện thành thơ rơm rơm máu, xót xa ḷng mai hậu nỗi kêu thương đoạn trường muôn thuở. Về mối quan hệ giữa roi vọt và thi ca, tôi đă viết bài tứ tuyệt có nhan đề : “ Tú Bà định hướng Thuư Kiều” như sau : “ Này tấm ḷng trinh bạch / Bà đánh chừa nghe con / Thuư Kiều đâu trang sách / Để câu thơ chịu đ̣n”…

Để truyền nỗi đoạn trường của thời đại ḿnh lại cho hậu thế, cũng chính là nỗi buồn đau muôn thuở kiếp người một cách đệ nhất tài t́nh, đệ nhất rung động nhường ấy, tôi đồ rằng, khi ngồi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đă viết với tâm thức tự do sáng tác tuyệt đối. Nghĩa là trong thế giới sáng tạo của bút nghiên, thi sĩ chính là Thượng Đế, là ông chủ của vũ trụ thi hứng, phải ứng xử như đấng toàn năng với nguyên tắc bất di bất dịch : “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !”. Vâng, tự do sáng tác là khi ngồi trước trang giấy, nhà nghệ sĩ là Chúa Trời sáng thế. Anh tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hăi nào quấy nhiễu ḿnh. Ví như anh c̣n phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô h́nh kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư, nhớ đến anh Khổng Minh Dụ [1], anh Đỗ Kim Cương [2], anh Trịnh Đ́nh Khôi [3], anh Nguyễn Đ́nh Nhă [4], anh Vũ Duy Thông [5], nhớ mấy anh canh cửa phê b́nh, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập viên cầm hai tay hai cái kéo, nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy ḍ câu chữ nghe đồn c̣n kỹ hơn máy ḍ hành lư hải quan; th́ than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lư sáng tạo của anh, nên “vừa viết vừa run” như thế; nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thầm của ḿnh,  cho khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên v́ phát dục, xóa hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi, đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, th́ nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi, v́ mi quá nhiêu khê, quá rách việc, quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định việc sống c̣n của ng̣i bút mi theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa, có thể bất cứ lúc nào vui th́ cho anh qua, buồn th́ giữ anh lại khám xét, lục vấn, xử lư cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lư bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan v́ vừa ra đời đă bị bóp mũi.

Với cơ chế luật pháp lằng nhằng, cấm th́ bảo cấm, thu hồi th́ bảo thu hồi, kiểm duyệt th́ bảo kiểm duyệt y như thời Tây đi một nhẽ th́ nhà văn sẽ mừng vô cùng. Nhưng đảng ta bảo, chế độ ta tự do báo chí, tự do sáng tác, không kiểm duyệt mà khi thực hiện th́ than ôi, ai có qua cầu mới biết, g̣ bó cấm cản muôn phương. Thời Tây, nước ta mất, dân ta nhục, Tây nó bảo tao không cho chúng mày tự do sáng tác, tự do báo chí, tao kiểm duyệt rơ ràng đây này; luật nó khiếp hăi, gian ác là vậy mà dân ta rón ra rón rén đến cười cười nói nói giả lả làm quen, thử xin nó ra báo tư, xuất bản tư xem thằng Tây này mày nô lệ các quan đến hồi nào mới thôi đây! Tây xem giấy phép tí tẹo xong, cho liền anh này ra báo tư, anh kia xuất bản tư, mừng quá ! Thời Mặt trận b́nh dân nó c̣n cho cả báo chí, xuất bản của đảng cộng sản ra công khai, mới có hàng loạt tiểu thuyết lớn xuất hiện, tố cáo chính chế độ gian ác, phản tự do, phản dân chủ của nó;mà thằng Tây gian ác cũng lạ, sách ra, có nhẽ nó cóc đọc được tiếng Việt nên nó cóc có cấm, cóc có ban tư tưởng, cóc có A 25, có hàng chục cơ quan, hàng trăm người có thể tḥ tay tḥ chân vào nắn nắn từng con chữ như chế độ độc lập tự do bây giờ. Trong thời Tây nô lệ muôn vàn, gian ác muôn vàn, không hiểu các bố nhà văn ta hồi ấy lấy tự do sáng tác ở đâu ra mà sinh ra bao nhiêu kiệt tác : “ Số đỏ”, “ Chí Phèo”, “Tắt đèn”, “Kép Tư Bền”, “ Bỉ vỏ”, “ Vang bóng một thời”, “Thơ Mới 1932-1945”…truyền tới hôm nay !Viết báo viết văn chống Tây, công bằng nó cũng bắt, cũng bắn, cũng bỏ tù một mớ, nhưng thường th́ nó chép miệng bảo : chuyện vặt, cho chúng mày chửi, coi như tao xả xú bắp cho dân chúng an nam mít chúng mày, ăn thua mẹ ǵ, xưa nay trong lịch sử nhân loại có thấy bọn văn sĩ nhát như cáy miệng hùm gan sứa kia đưa tiểu thuyết, thi ca ấm ớ ra mà lật đổ được triều đại nào bao giờ ?

 Khi đưa nhân vậy cô gái lầu xanh Thuư Kiều ra làm nguyên mẫu cho cái đẹp,  nâng cô gái phạm huư, phạm phong, phạm pháp kia lên thành nguyên lư CHÂN THIỆN MỸ CỦA THỜI ĐẠI, Nguyễn Du đă vượt qua mặt chế độ phong kiến dă man, vỗ cái đốp vào mặt chế độ nó nảy đom đóm mắt ra như thế mà nó tha chết cho th́ kể cũng là một sự thậmhay và thậm lạ! Rồi Nguyễn Du lội qua chế độ phong kiến chưa có đảng ta lănh đạo ấy mà tiến thẳng tới thời đại tự do dân chủ  định hướng xă hội chủ nghĩa hôm nay, chính nhờ có nguyên tắc sáng tạo : “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !” đấy. Cái mà thời nay ta gắn cho nhà văn một thiên chức vô cùng tốt đẹp, vô cùng cao quư là : “ Nhà văn là người hướng dẫn tinh thần thời đại”.Thời đó, Việt Nam ta chưa có chủ nghĩa Marx, chỉ có Nho giáo là tư tưởng chính thống của thời đại. Mà Nho giáo th́ cương cường nghiêm chỉnh, khắc khổ, tu thân : “Trai th́ trung hiều làm đầu/ Gái th́ tiết hạnh là câu sửa ḿnh”; Nho giáo chúa là ghét chuyện ong bướm, chuyện lả lơi trai trên gái dưới gần như là chuyện phản động, thế mà Nguyễn Du lại đưa một cô gái lầu xanh ra từ nhà thổ để thông qua chữ hiếu của nàng, thông qua vẻ đẹp thân xác và tâm hồn của nàng mà xóa sổ những giáo điều giả dối phong kiến, đưa cô gái bị xă hội cho là thập thành  ấy lên thành BÀ CHÚA CỦA CÁI ĐẸP  th́ “tội” ấy c̣n ghê hơn cả tội khi quân !

Thế mới biết quan niệm thẩm mỹ về văn học của ông cha ta thoáng vô cùng ! Nguyễn Du tất nhiên là thoáng vô cùng, mà Tự Đức cũng vô cùng thoáng, không th́ làm ǵ chúng ta có được Truyện Kiều trên tay. Hi vọng, những nhà quản lư văn học nghệ thuật của chúng ta hôm nay cần phải học được lối ứng xử với nhà văn không hơn được th́ ít ra cũng bằng với ông cha, mới hi vọng có tác phẩm lớn. Xin thực hiện đúng cương lĩnh ‘TỰ DO SÁNG TÁC’ của đảng và nhà nước vẫn ban hành, xin bơn bớt dùm đi các cấp trung gian, quan tâm tới nhà văn vượt  mức các chỉ tiêu trên giao th́ quư hoá biết là chừng nào. Xin chư vị Bắc Đẩu Nam Tào chứng giám, nếu NÓI và LÀM đượp khớp với nhau đẹp đôi như Nguyễn Du – Thuư Kiều ( nhà văn và nhân vật) th́ cánh viết lách chúng em đây cứ là mở cờ trong bụng như lúa chiêm tháng tư này đang ngấp nghé đầu bờ, chờ tiếng sấm mưa móc tự do của đảng, hồn vía lúa sẽ  phừng phừng phọt lên mà phất đ̣ng đ̣ng sáng tác, báo hiệu vụ chiêm văn học bội thu chứ chẳng chơi; rồi th́ chúng em rúc rích họp cho hết đại hội 7 nhà văn xong là lại tưng bừng, phấn khởi chuẩn bị họp tiếp đại hội 8 ạ ! Chúng em sẽ túc tắc bảo nhau mà viết ra tác phẩm xứng đáng với thời đại, với dân tộc Việt Nam; một dân tộc  mà số phận đă giành cho nó một khung cửa hẹp vào thiên đường độc lập tự do qua hàng triệu hi sinh xương máu, để cho quyền làm người được có cơ tồn tại dưới mặt trời, như chính Nguyễn Du, và Thuư Kiều từng khát vọng.

 H́nh như, trong kỳ họp đại hội nhà văn lần thứ 7 này, tôi đă manh nha thấy cái tinh thần cha ông xưa, cái quan hệ giữa chính trị và văn nghệ vừa cương vừa nhu, vừa thương khó, vừa phục sinh, vừa thuỷ vừa hoả tương khắc mà thực ra là tương hỗ . Truyện Kiều sở dĩ có được là bởi nó biết cách thai nghén, giáng sinh trong hang Betlem ḅ lừa của tự do sáng tác, nơi lănh đạo chính trị và văn nghệ quan hệ với nhau theo nguyên mẫu cặp bài trùng kỳ ảo giữa Tự Đức và Nguyễn Du, rất nên được tham chiếu hôm nay. Chừng như mối quan hệ ấy đang ẩn hiện thấp thoáng đâu đây như khói như sương, giục giă chúng ta cùng tiễn đưa những rào cản đi khỏi nỗi sợ hăi của nhà văn, như xưa nàng Kiều từng tiễn đưa Thúc Sinh (hay tiễn đưa chính cái chuyện t́nh dấm dúi bán chính thức nhá nhem tối sáng của ḿnh lên đường, đi t́m danh chính ngôn thuận dưới mặt trời). Đoạn, cùng nhau mà lảy Kiều,  rằng : “ Người lên ngựa, kẻ chia bào / Rừng văn  nghe sắp nhuốm màu rưng rưng”. ( Xin cụ Nguyễn Du tha lỗi) và xin chấm hết ở đây.,.

 

Sài G̣n 22-4-2005

Trần Mạnh Hảo

CH THÍCH :

[1] Khổng Minh Dụ : Thiếu tướng công an- Cục trưởng Cục Bảo vệ tư tưởng văn hoá ( A 25) Bộ Công An

[2] Đỗ Kim Cương : Vụ trưởng Vụ Văn Nghệ Ban tư tưởng văn hoá Trung Ương

[3]Trịnh Đ́nh Khôi : Chuyên viên cao cấp Ban Tư tưởng Văn Hoá Trung Ương phụ trách theo dơi Hội Nhà Văn VN

{4]Nguyễn Đ́nh Nhă : Cục trưởng Cục xuất bản – Bộ Văn hoá Thông tin

[5] Vũ Duy Thông : Cục trưởng Cục báo chí Ban Tư Tưởng Văn hoá Trung Ương

 

(Bài đă đọc chiều ngày 23-4-2005 trên diễn đàn Đại hội Nhà văn lần thứ 7 trong Hội trường Ba Đ́nh- Hà Nội. Chiều 24-4-2005 Thiếu tướng Khổng Minh Dụ –Cục trưởng Cục Bảo vệ tư tưởng văn hoá Bộ Công an lên diễn đàn phản ứng tham luận này của Trần Mạnh Hảo)

 



 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

 

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục