|
DC&PT - Thời
Sự 2006
Dầu Thô và Chính Trị Thế
Giới
TRẦN
B̀NH NAM
Giá dầu thô đang tăng. Giá một
barrel (31.5 gallons) trong tháng 4/2006 có ngày leo lên trên 70 Mỹ
kim (cách đây mấy năm khi giá một barrel dầu
thô lên 40 Mỹ kim, người ta đă cho là một
chuyện không thể tưởng tượng). Giá xăng
chạy xe cứ theo giá dầu thô mà leo thang. Trung b́nh tại
Hoa kỳ hiện nay một gallon (3.78 lít) gần 3 Mỹ
kim.
Chuyện
giá xăng trở thành thời thượng. Nó đụng
đến ngân sách của mỗi gia đ́nh. Đổ
đầy một b́nh xăng
thấy xót ruột nhất là khi trả bằng tiền
mặt, chưa nói vật giá cũng như mọi dịch
vụ khác đều tăng theo giá dầu.
Người
ta không biết giá xăng c̣n lên bao nhiêu nữa. Nhưng
nhiều giả thuyết lạc quan được đưa
ra để làm yên ḷng người tiêu thụ. Thứ
nhất là Saudi Arabia, nguồn dầu chính của thế
giới và là đồng minh của Hoa kỳ c̣n nhiều
dầu dự trữ. Họ sẽ mở khoá cho dầu
ra thị trường và giá dầu sẽ giảm xuống.
Người khác nghĩ rằng giá xăng lên, các nhà chính
trị mới chịu khuyến khích các nhà khoa học
t́m cách sản xuất nguồn nhiên liệu mới từ
thực vật không cần dùng đến nhiên liệu
thiên nhiên. Lạc quan hơn, người ta nghĩ giá xăng
lên th́ người ta sẽ bớt dùng nhiên liệu và
biết đâu đó là điều tốt v́ sẽ làm
cho bầu khí quyển chậm nóng và giảm bớt tác
hại của thời tiết. (The Economist số ngày 22/4 – 28/4/2006, “Nostalgia for
Calmer Days”, trang 11). Cách đây mấy tháng trong một
cuộc phỏng vấn của tạp chí Foreign Policy (số tháng 9 &
10/2005) ông John Browne, chủ tịch hội dầu
hỏa British Petrolium nói
vài chục năm nữa sẽ
không c̣n khí thải xe hơi nữa, v́ trước sau
người ta cũng t́m hay chế ra nguồn nhiên
liệu thay thế để thay xăng chạy xe (xem
tài liệu 176 www.tranbinhnam.com)
Nhưng
có một giả thuyết bi quan là chủ các công ti
dầu (gồm mua dầu thô, t́m ṭi những nguồn
dầu chưa khai thác, lọc dầu và phân phối ra
thị trường) đă làm
giá để làm giàu. Ông
Rex Tillerson, giám đốc công ti dầu Exxon Mobil
nói (The Economist số
ngày 29/4 – 5/5/2006, “The Texan sangfroid”, trang 70) chuyện giá
xăng là chuyện thị trường tự do, công
ty của ông không thể làm giá. Và ông nhấn mạnh
rằng chính sách của công ty ông không thay đổi ǵ
từ năm 1998 đến nay. Người tiêu
thụ không tin vào sự giải thích này, v́ khi giá
xăng lên cao, các đại diện dân tại quốc
hội Hoa kỳ nhất là khi tổng thống lên
tiếng và đề nghị biện pháp điều
tra xem có ai làm giá không th́ lại thấy giá xăng
giảm đôi chút.
Xăng
lên giá c̣n là chuyện nhạy cảm đối với
chính quyền Bush-Cheney v́ cả hai ông đều có
gốc “xăng nhớt” và gia đ́nh của tổng
thống chia một khoảng tiền lời lớn trong
công ti dầu Big Oil (The
Economist số ngày 29/4 – 5/5/2006, “Premium Pressure, trang
38). Tổng thống Bush và những phụ tá cực hữu
của ông đă quyết định đánh Iraq sau
vụ khủng bố 911 vài ngày cũng chỉ v́ Iraq là
một kho dầu lớn của thế giới
cần kiểm soát (theo Cobra
II, The Inside Story of the Invasion and Occupation of Iraq của
Michael R. Gordon và Trung tướng Thủy quân Lục chiến
hồi hưu Bernard E. Trainor, Pantheon Books, New York xuất
bản 2006).
Rút kinh
nghiệm về những khó khăn trước
mắt do cuộc chiến Iraq
và cách điều hành vừa luộm thuộm vừa
chậm chạp trong vụ băo Katrina, tổng thống
Bush đă hành động nhanh chóng trong xụ xăng
lên giá. Hôm 25/4/2006
ông đưa ra nhiều biện pháp chận giá
xăng. Ông cho ngưng trữ thêm xăng chiến
lược trong mùa hè này, tạm cho dùng xăng xấu,
tạm ngưng luật không đánh thuế vào tiền
lời của các hăng xăng dầu để dùng
tiền nghiên cứu các nhiên liệu thay thế như ethanol, yêu cầu quốc
hội làm luật khuyến khích người dân dùng xe
chạy vừa điện vừa xăng (xe hybrid).
Giá
dầu thô trên thế giới, do phản ứng tương
quan qua lại giữa các quốc gia sản xuất dầu
và dùng dầu và nhất là phản ứng của chính phủ
Hoa kỳ, có thể lên lên xuống xuống chút đỉnh.
Nhưng hiện tượng này nếu diễn ra
cũng chỉ làm “rối trí” người tiêu thụ.
Câu hỏi căn bản là thật sự phải làm ǵ
để giải quyết nhu cầu năng
lượng? Căn bản v́ (theo nhà b́nh luận Thomas
L. Friedman của tờ New
York Times nêu ra trong bài viết “The first Law of Petropolitics” đăng trên tạp
chí Foreign Policy số tháng
5 & 6/2006, trang 26 đến trang 36) vấn đề
dầu thô quan hệ đến t́nh h́nh dân chủ trên
thế giới một cách chặt chẽ.
Ông Friedman
nói rằng điều làm ông chú ư khi nghiên cứu các biến
chuyển chính trị tại vùng Vịnh Ba tư là nước
đầu tiên tổ chức bầu cử cho phép phụ
nữ ra ứng cử và đi bầu và sửa đổi
luật lao động (để cho dân trong nước
dễ kiếm việc hơn)
là nước Bahrain, trùng hợp vào lúc Bahrain hết dầu.
Bahrain cũng là nước đầu tiên trong vùng vịnh
kư thỏa ước tự do giao thương với Hoa
kỳ.
Nghiên cứu
sâu hơn, ông Friedman thấy sự liên quan giữa dầu
hỏa và dân chủ chặt chẽ đến nổi ông
không thể nói ǵ khác hơn là xem nó như một định
luật, mà ông gọi là “The
first Law of Petropolitics” (định luật thứ nhất
của chính trị dầu hỏa). Ông nói nước nào
có nhiều dầu hỏa, nước đó càng thiếu
dân chủ từ tự do ngôn luận, bầu cử
ngay thẳng, cho đến tư pháp độc lập.
Trái lại nước nào không có dầu, nghĩa là không
có tiền cho không bởi thiên nhiên, nước đó càng
dễ tiến tới dân chủ. Người cầm
quyền thấy cần phải lo lắng về giáo dục
để dân có khả năng phát triển và đối
ngoại một cách mềm dẽo để lôi hút đầu
tư.
Ông Friedman
đưa ra một danh từ mới gọi là “petrolist state” để định
nghĩa một nước mà nguồn lợi chính để
xuất cảng và chính yếu của GDP là do dầu thô
và là nước không có các định chế dân chủ
rơ ràng và người lănh đạo có khuynh hướng
độc tài. Danh sách petrolist
states của ông Friedman khá dài: Azerbaijan,
Angola, Chad,
Egypt, Equatorial
Guinea, Iran,
Kazakhstan,
Nigeria,
Liên bang Nga, Saudi
Arabia, Sudan,
Uzbekistan
và Venezuela.
Ba nước Hoa kỳ, Anh và Norway cũng là nước
có dầu thô nhưng ở ngoài danh sách này v́ trước
khi t́m thấy dầu các nước này đă có một
định chế dân chủ vững chắc.
Theo ông
Friedman, định
luật thứ nhất của dầu hỏa không
khác cái mà trong thập niên 1960 người ta gọi là “Dutch Disease” (hay là bệnh
Ḥa lan). Trong thập niên 1960 Ḥa lan khám phá ra một túi khí
đốt khổng lồ trong nước, đồng
thời với dầu hỏa, vàng và bạch kim. Đồng
tiền Ḥa Lan trở nên cao giá và hàng hóa sản xuất
không bán được trong khi hành nhập cảng rẻ
như bèo. Kết quả là kỹ nghệ của Ḥa lan
hoàn toàn ngưng trệ. Cái hiện tượng chung được
ông Friedman ghi nhận như là hiện tượng khi có
sẵn tiền trời cho (do dầu thô), người
lănh đạo nghĩ đến cách kiểm soát nguồn
dầu để bỏ tiền vào túi ḿnh thay v́ lo việc
giáo dục quần chúng và xây dựng dân chủ.
Chính phủ
các nước giàu nhờ dầu thô thường dùng
tiền dầu để giải quyết các vấn đề
xă hội mà không cần đánh thuế người dân,
và do đó họ nghĩ rằng người dân không cần
có ư kiến hay quyền lên tiếng trong bất cứ
vấn đề ǵ. Tại các nước khác (nhất
là tại Hoa kỳ) ngân sách quốc gia do tiền thuế
của dân nên dân có quyền phê b́nh khi chính phủ chi tiêu
ǵ mà dân không bằng ḷng v́ đối với họ nhiệm
vụ đóng thuế cho họ quyền ăn nói về
các vấn đề của đất nước. Ảnh
hưởng sau cùng là người cầm quyền nắm
quyền hành trong tay từ đời này sang đời
nọ trong một chế độ gần như gia đ́nh
trị thường có khuynh hướng ngăn cản
các tổ chức chính trị đối lập thành h́nh.
Những người cầm quyền có thừa khả
năng tài chánh để ưu đăi tướng lănh,
sĩ quan và lực lượng công an và các chức vụ
quan trọng đều được giao phó trong tay
những người thân tín trong gia đ́nh để bảo
vệ quyền hành nếu có sự tranh chấp và đ̣i
hỏi thật sự từ người dân. Một quốc
gia (có dầu) như vậy sẽ không có nhu cầu cải
tổ xă hội và một hệ thống giáo dục tốt
để tự lập và thăng tiến. Đó là điều
giới quan sát không ngạc nhiên khi thấy tại sao các
nước Trung đông và vài nước Phi châu (như
Nigeria) có nhiều dầu hỏa người dân vẫn
sống trong sự đàn áp và không có một chút quyền
hành chính trị trong tay.
Định
luật của ông Friedman cho thấy sự xuất hiện
thế lực của một “axis of oil” hay một “trục dầu” (OPEC là một trục dầu?)
và một sự quan hệ giữa giá dầu thô trên thế
giới và t́nh h́nh dân chủ chung. Một điều không
ai có thể nghi ngờ là với giá dầu thô đang lên
cao t́nh h́nh dân chủ trên thế giới càng bi thảm
và lối giải quyết các vấn đề trên thế
giới qua luật lệ quốc tế sẽ không c̣n
hiệu lực. Không nói chuyện Iran
có quyền phát huy khả năng sản xuất năng
lượng nguyên tử hay không, thái độ của Iran
trước mối lo ngại Iran
có thể qua đường phát triển năng lượng nguyên tử
để chế tạo vũ khí hạt nhân là một
bằng chứng. Nếu Iran không phải là một nước
có nhiều dầu thô Iran đă không thể coi thường
áp lực của Hoa kỳ và Âu châu như hiện nay.
Ông
Thomas Friedman đă dùng sự quan hệ giữa giá dầu
thô và t́nh h́nh dân chủ tại Nigeria
để minh chứng lập luận của ông. Theo thống kê giá dầu
thô Nigeria bán ra từ năm 1980 đến năm 1995 giảm
dần từ 35 mỹ kim một barrel xuống c̣n 15 mỹ
kim th́ chế độ dân chủ tại Nigeria trở
nên phóng khoáng hơn. Từ năm 1984 người ta thấy
xuất hiện nhiều tờ báo độc lập.
Nhưng từ năm 1995 khi giá dầu lên dần th́ chính
quyền Nigeria bắt đầu siết bàn tay sắt
lại và năm 2002 hủy bỏ các cuộc bầu cử
địa phương.
Trường
hợp điển h́nh khác là t́nh h́nh chính trị tại
Liên bang Nga. Khi Liên bang Xô viết sụp đổ vào cuối
năm 1991 giá dầu thô gần 17 hay 18 Mỹ kim một
barrel. Chương tŕnh cải tổ kinh tế cấp
tốc để cứu văn Liên bang Nga của Boris
Yeltin được thực hiện vào thời gian này.
Khi Validimir Putin đắc cử tổng thống vào năm
2000 giá dầu thô c̣n trong ṿng 20 Mỹ kim nên Putin c̣n tỏ
ra một người mềm mỏng dân chủ. Nhưng
ba năm sau khi dầu thô lên 30 Mỹ kim một barrel,
Putin bắt đầu lấy lại các quyền tự
do ban hành trước đó, và đặc biệt là bắt
bỏ tù ông Khodorkovsky, chủ một công ty dầu có ư định
dùng khả năng tài chánh của ḿnh để tranh giành
quyền hành chính trị với Putin. Và khi giá dầu lên
60 Mỹ kim một barrel, Putin hiện nguyên h́nh là một
nhà độc tài.
Nói đến nguyên nhân giá dầu thô trên thế giới tăng
từ năm 2001, trong giới hạn 20 – 40 Mỹ kim một
barrel qua giới hạn 40- 60 mỹ kim một barrel, đa
số các nhà chính trị cho là do nhu cầu tiêu thụ năng
lượng gia tăng của gần 3 tỉ người
Trung hoa, Ấn độ, Brazil và Liên bang Nga khi các quốc
gia này đang trên đà phát triển. Điều này chỉ
đúng một phần. Cuộc khủng bố ngày
11/9/2001 của al-Qaeda và tiếp theo là hai cuộc tấn
công của Hoa kỳ và đồng minh vào Afghanistan và
Iraq làm cho t́nh h́nh của vùng Trung đông, nguồn dầu
thô của thế giới, trở nên bất an cũng
là một nguyên nhân quan trọng khác. Các quốc gia Trung đông,
nếu là đồng minh với Hoa kỳ, cần tiền
để tăng cường an ninh chống khủng
bố. Nếu thuộc phe chống đối Hoa kỳ
th́ cũng cần tiền để tự bảo vệ
trước sự đe dọa của Hoa kỳ.
C̣n nhớ
vào đầu thập niên 1990 giá dầu thô xuống rất
thấp các nước sản xuất dầu như
Kuwait, Saudi Arabia, Ai Cập bắt đầu nói đến
cải tổ kinh tế, và trong 10 năm từ 1991 đến
2000 trên thế giới có một phong trào cải tổ
dân chủ. Nhưng từ cuộc khủng bố 2001 đến
nay trào lưu dân chủ cứ đi xuống với giá
dầu thô ngày càng cao. Theo ông Friedman thế giới sẽ
không bị đe dọa bởi một cuộc chiến
tranh như cuộc chiến tranh lạnh, nhưng sẽ
không có một sức mạnh nào có thể kiến tạo
dân chủ trên thế giới này chừng nào Hoa kỳ c̣n
lệ thuộc quá nặng vào nguồn năng lượng
chính là dầu thô của các nuớc khác. Chừng nào ngày
đó c̣n, khả năng can thiệp của Hoa kỳ để
kiến tạo dân chủ như tổng thống Bush
mong ước vẫn chỉ là một ước mơ.
Ông Friedman
kết luận bài viết của ông một cách khẳng
định rằng:
“Mặc dù Hoa kỳ không có
khả năng can thiệp vào sự sản xuất
(hay không sản xuất) của nước khác, Hoa kỳ
có thể làm thay đổi giá dầu thô trên thế
giới bằng cách thay đổi nguồn năng
lượng Hoa kỳ cần. Hoa kỳ đang dùng 25%
dầu thô đang được sản xuất trên
thế giới nên việc t́m những nguồn năng
lượng thay thế không c̣n là một ư tưởng
viển vông của những mẫu người lư
tưởng mong muốn một môi trường trong
sạch mà là một kế hoạch an ninh và sinh tử
của quốc gia.
“V́ vậy chương tŕnh
phát huy dân chủ trên thế giới của Hoa kỳ nếu
muốn thành công phải bao gồm cả chương
tŕnh t́m nguồn năng lượng thay thế.
Những nhà làm chính sách ngoại giao hay tài chánh quốc
tế nếu thật tâm muốn kiến tạo dân
chủ phải c̣n là những nhà môi trường
học.”
Ba vấn
đề lớn có lẽ Hoa kỳ quan tâm nhất hiện
nay là cuộc chiến chống khủng bố, cuộc
chiến tranh Iraq, và cuộc đối đầu tương
lai với Trung quốc trong thế kỷ này. Cả ba
vấn đề đều liên hệ đến dầu.
Thái độ của Hoa kỳ đối với cuộc
thăm viếng chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của
ông Hồ Cẩm Đào, tân chủ tịch nước
kiêm Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc
giữa tháng 4/2006 vừa qua tỏ ra không mấy vồn
vă v́ Trung quốc đang có chương tŕnh tranh giành những
nguồn đang cung cấp dầu hỏa cho Hoa kỳ
(theo The Washington Post National
Weekly Edition số ngày 24/4-30/4/2006 “Energy Quest” của
Steven Mufson, trang 20).
Nếu
thế giới (nhất là Hoa kỳ) giải quyết được
vấn đề năng lượng thay thế và không
cần đến dầu thô nữa th́ dầu thô chỉ
c̣n là một thứ nước lă và cục diện chính
trị thế giới sẽ có thể được
thay đổi một cách căn bản. Các nước
Hồi giáo Trung đông không c̣n thừa tiền để
giúp ngầm các tổ chức khủng bố. Các nhà lănh
đạo tại đó phải lo dân chủ hóa đất
nước nếu không sẽ bị lật đổ
giúp t́nh h́nh ở đó dịu đi. Và sau cùng sự căng
thẳng với Trung quốc cũng có cơ giảm cường
độ, cho dù Trung quốc vẫn không bỏ mộng
bá chủ thế giới ấp ủ từ ngàn xưa.
May 6, 2006
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|