|
DC&PT - Thời
Sự 2006
TÀI LIỆU TỪ TRONG NƯỚC
Kiến nghị 5 điểm của
nhà báo Phan Thế Hải
về Dự thảo Báo cáo chính trị của
Đại hội 10
LTS: Tin vào lời hứa “Tôn trọng
những ư kiến khác biệt” của TBT Nông Đức
Mạnh và “Sẵn sàng lắng
nghe những ư kiến khác nhau” của Ủy viên BCT Nguyễn
Phú Trọng, nên nhà báo và chuyên viên kinh tế trẻ tuổi
Phan Thế Hải đă trung thực và thẳng thắn
gởi tới giới lănh đạo CSVN những quan
tâm của ḿnh về t́nh h́nh đất nước
trong dịp chế độ kêu gọi nhân dân góp ư với
Dự thảo Báo cáo chính rị của Đại hội
10.
PHAN THẾ HẢI
Gỡ “nút cổ chai” cho nền
kinh tế tăng tốc và cất cánh
Ngày 3/2/2006, trên các
báo lớn đă đăng Dự thảo Báo cáo chính trị
tŕnh Đại hội X của Đảng với tiêu
đề: “NÂNG CAO NĂNG
LỰC LĂNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA
ĐẢNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY
MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, SỚM
ĐƯA NƯỚC TA RA KHỎI T̀NH TRẠNG KÉM PHÁT
TRIỂN.”
Ngay tiêu đề
báo cáo đă thấy một thiện chí của Đảng
ta:... Phát huy sức mạnh toàn dân tộc,
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới... Vượt qua mọi sự cám dỗ
của những cuộc vui đầu xuân, tôi kiên tŕ
đọc từ đầu đến cuối bản
báo cáo này. Với 32 trang A4 khoảng hơn 20.000 chữ,
Dự thảo báo cáo kỳ này khá ngắn gọn.
Đây được coi là ưu điểm thứ nhất.
Phần kiểm điểm 5 năm thực hiện
nghị quyết Đại hội 9 với những lời
lẽ khá khiêm tốn, chừng mực, có thể coi là
ưu điểm thứ hai. Phần 9, nói về đổi
mới và chỉnh đốn đốn Đảng
đă nêu được quan điểm: “Đảng
viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về
quy mô phải gương mẫu chấp hành Điều
lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà
nước và quy định cụ thể của Ban
Chấp hành Trung ương.” Điều này
không mới nhưng, khi Đảng nêu công khai trong một
văn kiện đă thể hiện phần nào bản
lĩnh của một đảng cầm quyền.
Đây có thể coi là ưu điểm thứ ba.
Cùng với những
ưu điểm, báo cáo c̣n có vô số những hạn
chế vẫn thường thấy như trong các báo
cáo chính trị trước đây. Như đă nói ở
trên, với tiêu đề “đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới”
nhưng ư tưởng trong báo cáo th́ sự đổi mới
toàn diện vẫn chưa thấy đâu. Hầu hết
vẫn là giọng văn cũ, khái niệm cũ, có
nhiều thứ không c̣n hợp thời.
Báo cáo đă nói nhiều
về những đột phá, những tăng tốc,
những con đường chấn hưng nền kinh
tế nước nhà, nhưng cần phải bắt
đầu từ đâu? đột phá ở những
khâu nào? Cố gắng t́m kiếm ở các đoạn
trong báo cáo nhưng chưa có câu trả lời thoả
đáng. Các giải pháp đề ra vẫn chung chung,
chưa cụ thể. Cũng chính v́ vậy mà sau hai
mươi năm đổi mới, nền kinh tế
nước ta chưa đạt được tŕnh
độ phát triển như cả dân tộc mong muốn.
Nếu cách mạng Việt Nam vẫn phát triển theo
tinh thần của báo cáo này, không ai dám chắc rằng,
nền kinh tế Việt nam sẽ tăng tốc trong
nhiệm kỳ tới.
Muốn có một
đô thị đẹp, phải bắt đầu bằng
một quy hoạch khoa học, hợp lư. Muốn đất
nước phát triển, phải bắt đầu bằng
hệ tư tưởng, bằng Hiến pháp khoa học,
bằng một báo cáo chính trị đúng hướng.
Cách đây hơn 200 năm, nước Mỹ từ một
vùng thuộc địa của Anh đă từng bước
vươn lên thành một cường quốc số 1
thế giới và đứng vững ở vị trí
này hơn 100 năm qua chính là nhờ một bản hiến
pháp ngắn gọn, khoa học. Nước Nhật,
nước Pháp, Hàn quốc cũng bắt đầu
công cuộc phục hưng đất nước bằng
cách như vậy.
Việt Nam chúng ta
đă có một bản Hiến Pháp tuyệt vời do
Bác Hồ chủ tŕ soạn thảo và được
Quốc hội khoá I thông qua năm 1946 với 7
chương, 70 điều. Đây được coi
là đường băng cơ bản với những
hành lang thông thoáng. Thế nhưng, sau nhiều lần sửa
đổi, không những bản hiến pháp ấy
không hay hơn mà c̣n ngày càng lệch lạc, bị “lấn chiếm”, tạo ra không
ít nút cổ chai. Việc phải trả lại
giá trị pháp lư của Hiến pháp năm 1946, có thể
ví như việc giải phóng mặt bằng cho những
nút cổ chai do bị lấn chiếm trước
đó.
1- Định nghĩa rơ,
nhà nước ta là Đảng quyền hay Pháp quyền
Muốn tăng tốc
và cất cánh, cùng với việc xây dựng những
xa lộ, chúng ta phải mua sắm những
phương tiện hiện đại để chạy
trên đường băng ấy. Qua hai mươi
năm đổi mới, một số đoạn xa
lộ đă được mở, nhưng vẫn c̣n
đó không ít nút cổ chai chưa được dỡ
bỏ. C̣n phương tiện, trong nền kinh tế
toàn cầu, mỗi năm có hàng trăm loại
phương tiện hiện đại ra đời,
thế nhưng chúng ta vẫn kiên tŕ một
phương tiện cũ kỹ từ thế kỷ
XIX. Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một
số phương án khơi thông những
nút cổ chai và sử dụng phương tiện nào
cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh.
Đây là câu hỏi
mà thực tiễn đặt ra đă lâu nhưng trong
báo cáo chưa có câu trả lời thoả đáng. Trong
phần XIII với tiêu đề: “PHÁT HUY DÂN CHỦ XĂ
HỘI CHỦ NGHĨA, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XĂ HỘI CHỦ NGHĨA” báo cáo nói nhiều về
nhà nước pháp quyền XHCN, nhưng bản chất
của nhà nước pháp quyền này là ǵ th́ chưa giải
thích thoả đáng. Tôi đă dùng câu này để hỏi
nhiều cán bộ lănh đạo trung cao cấp. Câu trả
lời là không thống nhất và thường là chia
làm hai luồng:
Nhóm ư kiến thứ
nhất cho nhà nước ta là Pháp quyền lư giải rằng:
Đâu đó, có vẫn có khẩu hiệu: Sống và
làm việc theo pháp luật, rằng chúng ta đang xây dựng
nhà nước pháp quyền.
Nhóm ư kiến thứ
2 cho rằng nhà nước ta là Đảng quyền lư
giải rằng, Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam
ghi: “ĐCSVN, đội tiên phong của giai cấp
công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền
lợi của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động
và của cả Dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng
lănh đạo Nhà nước và Xă hội”. Ở
một số diễn đàn quan trọng, các vị
lănh đạo đều cho rằng: Đảng lănh
đạo một cách tuyệt đối và toàn diện.
Cũng chính v́ lư do này, một số
phiên toà trọng điểm đều có sự chỉ
đạo trực tiếp của Ban bí thư.
Dân chúng thay v́ phải học luật là học nghị
quyết....
Sự nhá nhem này
đă xẩy ra không ít chuyện hài ước: chính quyền
xă khi xác nhận hồ sơ cho công dân xin việc, phần
phía dưới thường ghi: “Bản thân và
gia đ́nh chấp hành tốt chủ trương
đường lối của Đảng...”
mà không cần quan tâm rằng, với tư cách công dân,
anh ta có phạm luật hay không! Khi
cán bộ c̣n không định nghĩa được
nhà nước ta là Pháp quyền hay Đảng quyền
th́ việc nâng cao ư thức pháp luật của dân chúng
là điều vô cùng khó khăn.
Nhân loại đang
nỗ lực hoàn thiện một xă hội pháp quyền,
trong đó quyền công dân được ghi rơ trong Hiến
pháp. Nếu chúng ta muốn hội nhập với thế
giới, không nên luyến tiếc điều 4 của
Hiến pháp, khi nó không c̣n hợp thời. Thêm nữa, nếu
đảng tự tin vào chính bản thân ḿnh, hăy để
cho nhân dân tự đánh giá, tự phán xét. Không ai khác,
nhân dân sẽ lựa chọn đảng mà không cần
bất cứ một sự áp đặt nào. Việc
thể chế hoá bằng luật chỉ là biểu hiện
của một sự thiếu tự tin, sự không
minh bạch mà thôi.
Đó là chưa nói
đến việc, từ chính sách Đảng lănh
đạo tuyệt đối và toàn diện đă
đẻ ra một bộ máy khổng lồ song
trùng với chính quyền. 64 tỉnh thành có 64 ông
chủ tịch, 64 ông bí thư, 64 bộ máy tỉnh uỷ.
Hơn 600 huyện cũng vậy. Chúng
ta có một hệ thống chính quyền kép. Chính
quyền lồng trong chính quyền ở cả bốn
cấp, rất cồng kềnh nhưng không ai chịu
trách nhiệm chính. Một doanh nhân nói với tôi: Khi dự
án của ông đă được UBND tỉnh thông qua,
nhưng theo lời khuyên của một chuyên viên, ông buộc
phải sang xin ư kiến của tỉnh uỷ. Nếu
ông Bí thư tỉnh uỷ chưa có bút phê th́ đừng
ḥng triển khai nổi.
Sự song trùng của
bộ máy không chỉ làm tăng biên chế, tăng chi
phí cho bộ máy mà c̣n tạo thêm một cửa, một
sự phức tạp, thêm một nút cổ chai cho các
thủ tục hành chính.
Chính v́ cách
thức tổ chức bộ máy này, hiện nay Việt
Nam có 6 triệu người ăn lương. Con số
này của Thái Lan là 2 triệu. Thế nhưng bộ máy của chúng ta
không phải v́ thế mà hoạt động có hiệu
quả hơn. Không những thế, bộ máy song trùng
c̣n tạo thêm một cửa buộc các nhà đầu
tư phải đi qua. Khi dự án đă được
duyệt ở UBND tỉnh, nhưng tỉnh uỷ không
đồng ư, dự án đó nghiễm nhiên bị ách lại.
Muốn qua được cửa
này buộc phải thoả hiệp, phải “đi
đêm”, nếu không đừng ḥng triển khai.
Khi xác định được nhà nước ta là
pháp quyền, các cơ quan Đảng sẽ tự
động thu hẹp lại và chỉ là một bộ
phận kiêm nhiệm trong hệ thống chính quyền.
Theo cách này, chúng ta không những minh bạch hoá nền
chính trị đất nước mà c̣n giảm
được khoảng 1 triệu công chức trong các
cơ quan đảng và các đoàn thể.
Bộ máy song trùng và
đồ sộ của nước ta đă tồn tại
hơn nửa thế kỷ qua, ai cũng thấy rằng
nó là cồng kềnh và kém hiệu lực, nhưng giải
quyết thế nào để giải thoát sự cồng
kềnh ấy, sự kém hiệu lực ấy th́ báo
cáo không hề đề cập đến. Nếu
chúng ta định nghĩa rơ, nhà nước Việt
nam là Nhà nước Pháp quyền, Đảng có mặt
trong những khâu quan trọng của bộ máy mà không
h́nh thành một bộ máy riêng, ăn lương ngân
sách sẽ từng bước giải quyết
được vấn nạn này.
2.- Vận dụng chủ
nghĩa Marx thế nào?
Phần II, đánh
giá khái quát 20 năm đổi mới, dự thảo
có nói: “... trong quá tŕnh đổi mới phải kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xă hội trên nền tảng chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh...”.
Nền tảng chủ
nghĩa Marx- Lenin được nhắc đi nhắc
lại nhiều lần trong dự thảo. Đây là một
điều xưa cũ mà các báo cáo chính trị của
9 kỳ đại hội trước đă từng
nói đến và nay vẫn nhắc lại.
Cùng với điều
4 của Hiến pháp, cách thức tổ chức, tuyên
truyền, áp đặt vào hệ thống đào tạo
ở các cấp, vô t́nh hiện nay Việt Nam có một
thứ tư tưởng thống soái trong mọi hoạt
động kinh tế- xă hội, văn hoá, tư
tưởng đó là Chủ nghĩa Marx- Lenin.
Bất cứ
một cán bộ nào muốn được đề
bạt, không chỉ cán bộ công quyền mà c̣n cả
lănh đạo các doanh nghiệp nhà nước đều
phải trải qua học viện chính trị, trong
đó, các môn học về chủ nghĩa Max- Lênin chiếm
đến hơn 50% thời lượng.
Chủ nghĩa Marx
là một học thuyết đồ sộ gồm ba lĩnh
vực chính: Triết học, Kinh tế chính trị và
Chủ nghĩa cộng sản khoa học. Không bàn sâu
vào học thuyết này, nhưng tôi chỉ xin được
dẫn ra một số điểm quan trọng sau
đây:
Năm 1848, tại
London, Marx và Anghen cho xuất bản: “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”, đây được coi
là cột mốc quan trọng của việc h́nh thành
chủ nghĩa Marx, một “bóng ma ám ảnh châu Âu” (chữ
của Marx) và nhân loại. Về hoàn cảnh lịch sử,
giữa thế kỷ XIX là thời đại văn
minh cơ khí với đặc trưng là đầu
máy hơi nước.
Chúng ta đang sống
trong thế kỷ 21, với nền văn minh kỹ
thuật số. Cứ cho Chủ nghĩa Marx là một
công tŕnh khoa học đi nữa th́ với những hạn
chế của hoàn cảnh lịch sử, sẽ có
không ít những điều bất cập.
Tuy nhiên bản thân
chủ nghĩa Marx ngay từ nguyên thuỷ cũng
đă chứa đựng rất nhiều yếu tố
sai lầm và cực đoan. Xin được dẫn
ra 2 sai lầm quan trọng của Marx là:
Thứ nhất, về
động lực phát triển của xă hội loài
người, ngay ḍng đầu tiên, của “Tuyên ngôn của
đảng cộng sản” Marx viết: “Lịch sử
tất cả các xă hội tồn tại từ trước
đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu
tranh giai cấp.”
Marx đă tuyệt
đối hoá vai tṛ đấu tranh giai cấp, mà không
nh́n thấy vai tṛ của đấu tranh dân tộc, tôn
giáo, văn hoá v.v.... trong quá tŕnh phát triển của lịch
sử loài người.
Marx đă
tuyệt đối hoá vai tṛ của giai cấp công
nhân, chỉ toàn nh́n thấy măt tốt mà không nh́n thấy
mặt hạn chế của giai cấp này. Ngược
lại Marx lại chỉ nh́n thấy mặt xấu của
giai cấp tư sản, mà không nh́n thấy mặt tốt
của họ.
Từ những phiến
diện này, Marx đă đưa ra những kết luận
sai lầm về đấu tranh giai cấp. Marx chủ
trương xóa bỏ giai cấp tư sản, thiết
lập công hữu về tư liệu sản xuất
và thực hịên chuyên chính vô sản...
Các trường phái
tư tưởng triết học phương Đông
đă không được Marx đề cập đến,
nên triết học của Marx mang nặng mùi đấu
tranh. Marx chí thấy tính Đối kháng, triệt tiêu lẫn
nhau của các mặt đối lập mà không thấy
tính thoả hiệp, tính khoan hoà giữa cúng.
Thứ hai, sai lầm
về “bóc lột giá trị thặng dư” kể cả
khái niệm lẫn bản chất. Khi nghiên cứu nền
kinh tế, Marx bắt đầu bằng hàng hoá. Marx
phân tích cấu trúc giá trị thành ba thành phần: C + V +
m Trong đó, C là tư bản bất biến, V là
tư bản khả biến, và m là giá trị thặng
dư.
Theo Marx, m là giá trị
dôi ra ngoài giá trị sức lao động của
người công nhân làm thuê sáng tạo ra bị nhà
tư bản chiếm không. Trong đó Marx đă quên hẳn
vai tṛ tổ chức, quản lư của nhà tư bản;
vai tṛ sáng kiến, vai tṛ ư tưởng, đặc biệt
là bản quyền sáng tạo của nhà tư bản
nên đă có những kết luận lệch lạc.
Trong tư duy Marx bị
mắc bệnh tuyệt đối hoá và trong
phương pháp Marx mắc bệnh quy nạp phiến
diện. Khi nói về về duy vật lịch sử,
Marx đặt trên cơ sở nghiên cứu lịch sử
phát triển xă hội châu Âu.
Cuốn “Tư bản”
được viết trên cơ sở nghiên cứu lịch
sử phát triển của kinh tế - xă hội nước
Anh thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ
19.
Cũng có lẽ do
hoàn cảnh lịch sử, nên trong các tác phẩm của
Marx, ông không đề cập đến nhiều khái
niệm như: toàn cầu hoá, tự do hoá thương
mại, thương quyền, thương hiệu...
là những khái niệm rất quan trọng của xă hội
ngày nay.
Nh́n một cách xuyên
suốt, ngoài những bất cập trên, học thuyết
Marx c̣n đầy rẫy những mâu thuẫn.
Marx say sưa với
vẫn đề công hữu hoá tư liệu sản
xuất, nhưng ông đă "quên" mất vấn
đề tối quan trọng là công hữu hoá quyền
lực, trong các tác phẩm của ḿnh, ông không đề
cập đến cách thức tổ chức xă hội
theo kiểu nghị viện, với sự tôn trọng
những ư kiến khác biệt.
Marx tôn thờ phép biện
chứng nhưng ông lại mắc bệnh tuyệt
đối hoá giai cấp, quá tin tưởng ở những
phẩm chất tốt đẹp của giai cấp
công nhân mà quên rằng nó cũng có đầy những
tính xấu như bất cứ giai cấp nào hay con
người nào khác.
Hậu quả
của kẽ hở này là ở các nước đi
theo mô h́nh của Marx, đảng cộng sản sau khi
nắm được chính quyền đă trở thành
giai cấp thống trị mới c̣n tệ hại
hơn giai cấp thống trị cũ, do nó được
biện minh bởi học thuyết mới.
Với giai cấp
tư sản cũng vậy, ông chỉ nh́n thấy mặt
hạn chế của giai cấp này mà không nh́n nhận
thấy mặt tốt của họ. Marx cho rằng,
mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản là mâu thuẫn đối kháng và chủ
trương “đào mồ chôn CNTB”. Thực tiễn
đă cho thấy, sau khi lập đổ giai cấp
tư sản, thiết lập được nền
chuyên chính vô sản, các nước cộng sản
đều đưa nền kinh tế đi vào ngơ cụt.
Với công thức
công hữu hoá, đất đai là sở hữu toàn
dân, do nhà nước quản lư. Nhưng chính quyền lại
là sở hữu riêng của đảng cộng sản,
đảng không chia sẻ quyền lực cho ai, nên
trong các nước theo mô h́nh CNXH, đều trở
thành những chế độ phong kiến kiểu mới
- chế độ phong kiến không vua, hay đúng
hơn là không ngai - đảng cộng sản ở những
nước này, trở thành những chính đảng
giàu có, trở thành các siêu địa chủ - tư sản,
do họ trở thành chủ sở hữu thực tế
của toàn bộ tài sản quốc gia - điều
ngay cả một ông vua phong kiến cũng không sánh nổi.
Sau này Lenin có phát triển
học thuyết Marx lên một bước cao hơn,
nhưng ông cũng chỉ đi sâu vào chuyên chính vô sản,
vào đấu tranh giai cấp. Đặc biệt,
Lenine là người tuyệt đối sùng bái Marx mà
không nhận ra những sai lầm quan trọng mà Marx mắc
phải.
Cũng chính v́ những
hạn chế này, nên ngay trên quê hương ông, ở
nước Đức, Chủ nghĩa Marx đă từng
có mặt hơn 40 năm (ở Đông Đức)
nhưng cuối cùng đă thất bại. C̣n nước
Anh, nơi chủ nghĩa Marx ra đời, hiện
không có một sự cấm đoán nào về tư
tưởng nhưng người dân vẫn nói không với
chủ nghĩa Marx.
Thậm chí, có
người c̣n cho rằng, đó chỉ là một waste
theory (lư thuyết bỏ đi). Một số đảng
cộng sản trước đây đă từng coi chủ
nghĩa Marx là hệ tư tưởng nay cũng
đă thay đổi cương lĩnh.
Chúng ta
đă trót yêu chủ nghĩa Marx, chúng ta không bài xích chủ
nghĩa Marx nhưng coi nó là một quốc đạo
như xưa nay vẫn làm th́ quả là không ổn. Đó là chưa nói đến
chuyện, ngoài học thuyết Marx c̣n có vô số học
thuyết khác cần phải nghiên cứu, tham khảo.
Trong phần XIV-
ĐỔI MỚI VÀ CHÍNH ĐỐN ĐẢNG, NÂNG
CAO NĂNG LỰC LĂNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN
ĐẤU CỦA ĐẢNG” ở đoạn 1, dự
thảo có đoạn: “Kiên quyết đấu tranh bảo
vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan
điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các
quan điểm sai trái, thù địch.”
Một
đảng cầm quyền, tiên phong dẫn dắt dân
tộc trong thế kỷ 21 mà vẫn khư khư coi
chủ nghĩa Marx- Lenin là nền tảng, khi ngay trên
quê hương sinh ra nó, chủ nghĩa này đă bị
người ta loại bỏ không luyến tiếc là một
điều không b́nh thường.
3.- Định hướng
CNXH và quốc hiệu XHCN
Trong suốt hơn
32 trang Dự thảo báo cáo, cụm từ CNXH và XHCN
được nhắc đi nhắc lại nhiều
lần, đặc biệt nó được gắn chặt
vào những khái niệm, phạm trù kinh tế xă hội
của đất nước như: Nhà nước
pháp quyền XHCN; định hướng CNXH; Tổ quốc
Việt Nam XHCN... nhưng chưa có một ḍng nào giải
thích rơ ngữ nghĩa của khái niệm này.
Phải chăng
đây cũng chỉ là sự sáo rỗng như thường
thấy trong các báo cáo chính trị của các kỳ
đại hội trước đây.
Cụm từ Xă hội
chủ nghĩa được thêm vào quốc hiệu
nước ta kể từ tháng 4/1976. Nói đúng hơn
th́ nó đă được thay thế cho cụm từ
Dân Chủ đă được Bác Hồ lựa chọn
cho quốc hiệu và đă được dùng suốt
trong 30 năm từ 1945 đến 1975.
Thể chế Xă hội
chủ nghĩa là một mô h́nh nhà nước của
Liên Xô, được xây dựng theo học thuyết
của Marx, Lenin và Staline.
Trong dịp kỷ
niệm 60 năm Cách mạng tháng Mười (11/1977),
Liên Xô đă long trọng tuyên bố “xây dựng thành
công Chủ nghĩa xă hội” và tiếp tục tiến
lên xây dựng Chủ nghĩa cộng sản. Chính v́ vậy,
đến 1991 Liên Xô đă sụp đổ, kéo theo sự
sụp đổ của khối Xă hội Chủ nghĩa
và sự phá sản hoàn toàn của mô h́nh kinh tế, xă hội
này.
Việt Nam,
kể từ 1955 (ở miền Bắc) và từ 1975
trên phạm vi cả nước cũng đă từng
“tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc
lên chủ nghĩa xă hội” và tự nhận là “tiền
đồn của phe xă hội chủ nghĩa”. Chính v́
lư do này, cuộc chiến tranh chống Mỹ càng trở
nên khốc liệt, làm hàng triệu người chết
và tàn phế và đất nước bị tàn phá nặng
nề với những hậu quả kéo dài nhiều thế
hệ.
Cũng chính v́ định
hướng CNXH theo tư tưởng của Staline mà
Việt Nam đă tiến hành các chính sách như: Cải
cách ruộng đất (1953- 1956) Cải tạo tư
sản tư thương (1958- 1959); Cải tạo công
thương nghiệp ở miền Nam (1977- 1978)... thực
chất là huỷ diệt lực lượng sản
xuất tiên tiến, phá hoại nền kinh tế, nhiều
nhân tài bị giết hại, đầy ải, vô số
tài sản, nhà cửa, ruộng đất của nhân
dân bị cướp đoạt, y tế, giáo dục,
đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, khoa
học…. đều xuống cấp trầm trọng,
luật pháp, kỷ cương, truyền thống
văn hoá dân tộc bị phá hoại, đảo lộn
nghiêm trọng, đời sống nhân dân khốn cùng.
Từ sự khốn
cùng của nền kinh tế, đến sự khốn
cùng của đại bộ phận các tầng lớp
nhân dân, hàng triệu người bỏ nước ra
đi. Cùng với làn sóng vượt biên, di tản là cả
một thể chế đứng bên bờ vực của
sự sụp đổ.
Đại
hội đảng lần thứ V (tháng 3/1982), đảng
ta vẫn một mực khẳng định đường
lối “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững
chắc lên chủ nghĩa xă hội” của đại
hội IV và lớn tiếng lên án chính sách “Cải cách”,
“Khai phóng”, “Bốn hiện đại hoá” của Trung
Quốc là “kẻ phản bội lớn nhất trong
phong trào cộng sản quốc tế”.
Vào những năm
80, khi nền kinh tế Liên Xô đi vào ngơ cụt, có
nguy cơ tan ră, Đại hội đảng lần
thứ 27 (tháng 3/1985), Tổng bí thư Gorbachev đề
ra chính sách Peretroika (Cải tổ) và Glasnost (Công khai) th́
đảng ta mới “tiếp thu” họp đại hội
VI (tháng 12/1986) đề ra chính sách Đổi mới
và Nói thật. Có ư kiến cho rằng, đây thực chất
là một sự ăn cắp bản quyền hay
“ăn theo nói leo”.
Nếu nh́n vào lịch
sử, thực chất đây là chính sách “đổi cũ”,
quay lại các chính sách kinh tế thị trường
mà loài người đă trải qua hàng trăm năm. Ở
Việt nam kinh tế thị trường cũng
đă từng có thời Pháp thuộc và đặc biệt,
nền kinh tế thị trường đă phát triển
ở tŕnh độ khá cao trước năm 1975 ở
miền Nam.
CNXH là ǵ, thực chất
của định hướng CNXH sẽ đưa
đất nước đến đâu? Đây là một
câu hỏi không quá khó. Liên Xô đă có 70 năm vô ích, các
nước đông Âu cũng đă từng đi đến
bờ vực v́ cái định hướng này.
Chính v́ lư do đó, gần
500 triệu dân ở khối này đă tỉnh ngộ
và quyết định, đập đi làm lại từ
đầu. Dẫu có mất ổn định một
vài năm, nhưng nay họ đă vào đường
băng và đang cất cánh.
Như đă nói ở
trên, thực chất của công cuộc đổi mới
là “đổi cũ”, thôi không cấm đoán sức
sáng tạo của dân chúng, thôi không ḱm hăm sức sản
xuất của khu vực dân doanh, thay thế chính sách
cai trị bằng quản lư. Trên thực tế, nước
ta đă từ bỏ con đường Xă hội Chủ
nghĩa đói nghèo trước kia, không đi theo vết
xe đổ trước đó.
Nhưng nếu cứ
định hướng CNXH, trên lư thuyết, nước
ta vẫn bị buộc phải đi theo con đường
đau khổ đó và cũng không ai dám chắc là, vào một
ngày xấu trời nào đó, vào một phút ngẫu hứng
nào đó, đảng ta, với tư cách là người
cầm quyền độc tôn, sẽ diễn lại
các chính sách “cải tạo tư sản” hay “Quốc hữu
hoá” sao cho đúng cái “định hướng xă hội
chủ nghĩa”
Cũng chính
v́ lư do này, không phải doanh nghiệp, doanh nhân nào cũng
toàn tâm toàn ư làm giàu, toàn tâm toàn ư lo mở rộng sản
xuất. Không ít doanh nhân, đặc biệt là các nhà
đầu tư nước ngoài vừa làm vừa nghe
ngóng, động tĩnh, diễn biến của các
chính sách của Đảng. Khi bàn chuyện làm ăn, một
cán bộ phát biểu: “Đất nước này không
cho ai giàu quá 20 năm.”
Xin được
nói thêm, ông này hiện đang là thứ trưởng một
bộ quan trọng. Đến cán bộ cao cấp mà
c̣n chưa đủ niềm tin th́ những người
dân đen hoài nghi là điều dễ hiểu.
Một doanh nhân nói với
tôi, cái “định hướng XHCN” như một bản
án có sẵn treo lơ lửng trên đầu, khi nào cần
trưng thu tài sản, Đảng ta sẽ dùng đến
nó. Thực chất của chính sách đổi mới
chỉ là sự “vỗ béo” các doanh nghiệp để,
khi cần Đảng đem ra “giết thịt.”
Có lẽ v́ lư do này,
Việt Nam là một trong số những nước
nghèo nhưng có nhiều tài khoản ngoại tệ gửi
ở các nhà băng nước ngoài. Một lượng
không nhỏ nguồn lực của đất nước
bị phân tán chỉ v́ cái định hướng này.
Cũng có ư kiến
cho là Chủ nghĩa xă hội không phải là cái đă
sụp đổ đó. Nó là cái khác, cao đẹp
hơn nhiều… Nhưng như vậy th́ Chủ nghĩa
Xă hội là cái ǵ? Nó là một khái niệm mơ hồ,
chưa rơ h́nh hài? Nó là một mô h́nh không có trong thực
tiễn? Tóm lại nó chỉ là một ảo tưởng?
Vậy tại sao ta lại định hướng cho
đất nước theo một ảo tưởng?
Lại có ư kiến
cho rằng Chủ nghĩa Xă hội chính là “dân giàu,
nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ,
văn minh”. Nhưng nói như vậy là nhận vơ,
là ăn cắp bản quyền.
“Quốc phú, Dân
cường” là lời của Khổng Tử,
được coi là tiêu chí của Nho giáo.
“Công bằng, Dân chủ,
Văn minh” là thực tiễn của các nước
Tư bản tiên tiến, được h́nh thành từ
lư tưởng “Tự do, B́nh đẳng, Bác ái” của
Cách mạng Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1789.
Một cá nhân đạo
văn là một điều đáng trách, c̣n một
đảng cầm quyền làm như vậy th́ khó mà
làm gương cho dân chúng.
Một lư do
khác, trong số hàng trăm quốc gia đạt
được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xă hội công bằng, dân chủ, văn minh”, không
nước nào giàu lên bằng con đường “kiên
định CNXH”. Sự kiên định CNXH là không có
cơ sở khoa học.
Về phương
diện ngữ nghĩa, xin được nh́n dưới
4 góc độ khác nhau:
- Thứ nhất, nếu
nó là cái đă sụp đổ th́ đó là cái tên xúi quẩy,
tất nhiên không nên vận vào ḿnh.
- Thứ hai, nếu
nó là đích siêu việt, cái không định nghĩa
được, là cái không có trong thực tiễn, th́
không nên ôm ảo tưởng. Ít ra th́ ta chưa nên mang
danh mà ta chưa đạt được, đây là sự
trung thực cần thiết của một đất
nước có thiện chí đổi mới.
- Thứ ba, nếu
nó là cái mà nhân loại tiến bộ đă đạt
được hoặc đang xây dựng, phấn
đấu, th́ ta hăy làm giống họ, không việc ǵ
phải “treo đầu dê, bán thịt chó”. Có nước
tiên tiến nào mang danh Xă hội chủ nghĩa đâu!
- Thứ tư, cho
dù có thể chứng minh được CNXH là cái tuyệt
vời, nhưng con đường tiến đến
nó cực kỳ khó khăn, đến nỗi chưa
nước nào đạt được, th́ liệu
chúng ta có cần nhất thiết phải mạo hiểm
đi đến đó không, khi tất cả những
nước đi trước đều đă thất
bại thảm hại và có rất nhiều nước
khác không hề đi theo con đường đó,
đều đă đạt được đến
cái đích “dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng,
dân chủ văn minh”?
Tại sao
ta không học tập những nước đă thành
công, lại cứ nhất định đi theo những
nước đă thất bại?
Sách Luận ngữ
của Khổng Tử có câu: “Danh bất chính tất
ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tất sự
bất thành”. Hơn hai ngàn năm trôi qua, nhưng chân lư
đó vẫn luôn đúng.
Chúng ta hăy dũng cảm
nh́n thẳng vào sự thật để trả lại
tên nước mà Bác Hồ đă đặt cho Tổ
quốc Việt Nam thân yêu: “Nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà” Đây là cũng là hành động cụ
thể để tôn trọng tư tưởng Hồ
Chí Minh trong công cuộc dựng nước.
4.- Mạnh dạn trút bỏ
những trói buộc do ḿnh tạo ra
Trong mục 2 của
phần III, khi nói về “Mục tiêu và phương
hướng tổng quát 5 năm 2006 – 2010” dự thảo
có viết: “..nâng cao năng lực lănh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, huy động và sử
dụng tốt mọi nguồn lực, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước;...”
Tuy nhiên, làm thế
nào để phát huy tốt sức mạnh toàn dân tộc?
làm thế nào để đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới? làm thế nào để
huy động và sử dụng tốt mọi nguồn
lực? th́ vẫn chưa có giải pháp thoả
đáng.
Các biện pháp
như: “Phát huy hơn nữa dân chủ xă hội chủ
nghĩa; đổi mới hệ thống chính trị;
nâng cao năng lực lănh đạo và sức chiến
đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước
pháp quyền xă hội chủ nghĩa, tăng cường
hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước
và chính quyền các cấp; phát huy vai tṛ của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, không
ngừng tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc... là những đoạn
văn khẩu hiệu cũ kỹ, không tạo
được bước đột phá về tư
duy.
Ai dám chắc rằng,
với những biện pháp như thế, chúng ta sẽ
gỡ được vô số những nút cổ chai
đang cản trở nền kinh tế!
Trong một thời
gian dài, chúng ta đă mất công tạo ra vô số sự
trói buộc. Từ chuyện ngăn sông cấm chợ,
xoá bỏ tư hữu, cấm kinh tế tư nhân, cấm
giao lưu với tư bản nước ngoài, cấm
phát ngôn trái với đường lối chủ
trương của Đảng... và hàng ngàn thứ cấm
khác.
Ngày đầu xuân,
trong cuộc trao đổi với một cán bộ
ngân hàng, chị này cho biết, hiện nay, mọi cán bộ
ngành này muốn đi nước ngoài đều phải
có tờ tŕnh để thống đốc ngân hàng duyệt.
Tôi hỏi: ông Thống
đốc làm như vậy th́ lấy đâu ra thời
gian làm việc khác? chị bảo: Không những là những
chuyến đi công tác ra nước ngoài mà cả những
chuyến đi du lịch trong những ngày nghỉ, muốn
xuất ngoại phải tŕnh thủ tục trước
đó ít nhất là cả tuần. H́nh như quy định
này có sự thống nhất với Tổng cục Hải
quan.
Thực tiễn lịch
sử đă chứng minh, tự trói ḿnh là tự sát. Từ
khi có chính sách đổi mới, từng bước cởi
trói đă giải phóng được rất nhiều
nguồn lực, đời sống kinh tế, xă hội
phát triển vượt bậc, quan hệ quốc tế
trở nên thân thiện hơn... Tuy nhiên, dường
như chúng ta c̣n lưu luyến với không ít những
trói buộc ấy.
Sự cởi trói mới
chỉ dừng lại ở một số chính sách ở
tầm vi mô, c̣n lại những chính sách vĩ mô
chưa cởi được bao nhiêu.
Thử đặt
câu hỏi: Tại sao phải trung thành với học
thuyết Marx- Lenin, trong khi học thuyết của hai
ông này ra đời cách đây hơn một trăm
năm và có rất nhiều điều không c̣n phù hợp
với t́nh h́nh hiện nay? Mục
tiêu của chúng ta là "dân giàu, nước mạnh, xă
hội công bằng, dân chủ, văn minh" hay là
" kiên tŕ chủ nghĩa xă hội”?
Sự nhầm lần
giữa mục đích và phương tiện khiến
chúng ta tự trói ḿnh vào những cách nghĩ, cách làm
xưa cũ, không phù hợp với ḍng chảy hiện
đại.
Với khoảng 200
nước và vùng lănh thổ trên thế giới, ngoài
Việt Nam, chỉ c̣n 3 nước theo con đường
CNXH là Cuba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên. Phải
chăng đây là khuôn vàng thước ngọc để
Việt Nam nhất thiết phải tuân theo. Phải chăng, chúng ta thông minh hơn phần c̣n lại của thế
giới? Chúng ta có thực sự là “đỉnh cao của
trí tuệ” không khi là một trong những nước
nghèo nhất thế giới và tham nhũng nhất thế
giới?
Tự trói buộc
ḿnh vào những khuôn phép giáo điều, những quy luật
kinh tế riêng có của CNXH đă đưa đất
nước đến đâu, kết quả thế
nào đă rơ. Khi tự cởi trói cho ḿnh đă góp phần
giải phóng sức sản xuất, tạo nên một
thời kỳ phát triển mới của dân tộc.
Tuy nhiên, để
có những thành tích cao hơn, cần phải tiếp tục
việc cởi bỏ những trói buộc do ḿnh tạo
ra. Đó cũng là cách làm hiệu quả để giải
quyết những vấn nạn nhức nhối hiện
nay.
5.- Tôn trọng những ư
kiến khác biệt
Đây là câu mà Tổng
bí thư Nông Đức Mạnh đă nói trong cuộc họp
tổng kết năm 2005 của Hội đồng lư
luận được chương tŕnh thời sự
của Đài truyền h́nh Việt nam đưa ngày
24/01/2006.
Thực chất của
điều này cũng chỉ là quyền tự do ngôn
luận của nhân dân đă được ghi vào
Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được
thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu
t́nh theo quy định của pháp luật”. (Hiến
pháp CHXHCNVN sửa lần thứ tư 1992).
Tại cuộc mít
tinh kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đảng
3/2 tại Hà Nội, trong diễn văn kỷ niệm,
ông Nguyễn Phú Trọng, Uỷ viên BCT, Bí thư thành uỷ
Hà Nội cũng nhắc lại: “Sẵn sàng lắng
nghe những ư kiến khác nhau” của các tầng lớp
nhân dân. Điều này đă khẳng định tính
ưu việt của Đảng ta, một đảng
cầm quyền lănh đạo cách mạng Việt Nam
trong 75 năm qua.
Thêm nữa, theo Công
ước Quốc tế về quyền con người
mà Nhà nước ta đă tham gia kư kết từ 1982,
điều 19 về quyền dân sự và Chính trị của
Công ước Quốc tế ghi rơ:
“Mọi người
đều có quyền giữ quan điểm của
ḿnh mà không bị ai can thiệp vào. Mọi người
đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền
này bao gồm cả quyền tự do t́m kiếm, nhận
và truyền đạt mọi loại tin tức, ư kiến,
không phân biệt ranh giới, h́nh thức tuyên truyền
miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng
h́nh thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi
phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa
chọn của họ”. (Việt Nam với Công ước
Quốc tế về quyền con người. Nhà xuất
bản Sự Thật 1992).
Về mặt
lư thuyết là vậy nhưng thực tế diễn ra
không phải vậy.
Một tổng biên tập một
ṭa báo hoặc một phóng viên đều có thể bị
sa thải bất cứ lúc nào chỉ v́ đưa tin
bài "không thích hợp" với định hướng
của Ban Tư tưởng văn hoá, thậm chí chỉ
là khác với cách nghĩ của một số người
đang nắm quyền. Có người c̣n bị bắt
bớ, giam cầm dăm bảy ngày chỉ v́ những
lư do tương tự.
Tự do ngôn luận
là quyền cơ bản của công dân. Quyền của
dân phải được trả lại cho dân và thực
thi đầy đủ. Một xă hội dân chủ
như vậy sẽ tạo ra không gian không hạn chế
cho tinh thần kinh doanh, trí sáng tạo của mọi tầng
lớp, của mỗi người Việt Nam.
Trong một xă hội
thực sự sôi nổi, sống động như vậy,
mỗi người có thể trực tiếp và gián tiếp
đóng góp cho việc quản lư xă hội, đóng góp
cho quê hương, cho đất nước.
Lịch sử loài
người đă chứng minh, chỉ khép kín trong nội
bộ chính quyền, bộ máy nhà nước chưa
bao giờ tự chấm dứt được quá
tŕnh quan liêu hóa, ph́nh to ban bệ, chưa bao giờ tự
ḿnh gột rửa được khỏi tham nhũng,
tư lợi và lạm dụng chức quyền.
Chỉ có dân mới
giúp được Nhà nước làm được việc
đó, dân phải được giám sát, dân phải kiểm
tra, dân phải băi miễn mới cải cách được
Nhà nước. Và dân phải tự tổ chức
để tự quản đời sống địa
phương, làng xóm.
Ngày Xuân năm Bính Tuất,
dẫu thời gian không nhiều nhưng tôi đă kịp
đi thăm một vài công trường trên địa
bàn thủ đô. Không khí làm việc thật náo nhiệt
và phấn khởi. Không chỉ Hà Nội, trên mọi nẻo
đường của quê hương, đất
nước yêu quư của chúng ta đang trở thành công
trường xây dựng lớn trở thành công xưởng
lớn và trường học lớn, nhưng vẫn
c̣n đó vô vàn lực cản chưa được dỡ
bỏ.
Muốn làm giàu, cả
nước phải trở thành một doanh nghiệp
khổng lồ, trong đó, Bộ Chính trị là Hội
đồng quản trị, Chính phủ là Ban giám đốc
điều hành cái doanh nghiệp khổng lồ ấy.
Muốn tạo
cơ hội cho mỗi bàn tay, mỗi khối óc của
mỗi người dân Việt Nam có thể phát huy hết
năng lực vào công cuộc kiến thiết nước
nhà phải đổi mới một cách toàn diện,
không chỉ chính sách vi mô mà c̣n cả vĩ mô, cả hệ
tư tưởng.
Trong lịch sử
hàng ngh́n năm của nhân loại, Việt Nam không phải
là dân tộc hèn kém. Dân tộc Việt nam phải tiến
mạnh hơn nữa trong công cuộc cải cách, xây dựng
cái mới tốt đẹp và chữa trị những
căn bệnh kinh niên đă ḱm hăm đất nước
hàng chục năm nay.
Trong đó, nguy hiểm nhất là căn bệnh dối
trá, không dám nh́n thẳng vào sự thật. Tham nhũng,
quan liêu, cửa quyền cũng là con đẻ của
căn bệnh này. Năm điều kiến nghị
với Đảng với đầy thiện chí. Hy vọng
sẽ được lắng nghe và phản hồi.
Trân trọng cám
ơn quư vị đă quan tâm!
Nhà báo Phan Thế Hải-Báo
Vietnamnet Số 4 Láng Hạ- Ba Đ́nh- Hà Nội
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|