|
DC&PT - Thời
Sự 2006
TÀI LIỆU TỪ TRONG NƯỚC
BÀN
VỀ DÂN CHỦ
NGUYỄN
THANH GIANG
TÓM LƯỢC NỘI DUNG _ Dân chủ trở thành lư
tưởng của nhân loại v́ nó là một học
thuyết nhân danh con người và phụng sự con
người. Dân chủ và phát triển vừa là nhân, vừa
là quả của nhau, nương tựa nhau, bồi
bổ cho nhau đưa lịch sử tiến tới.
Sở dĩ Tây Đức phát triển hơn
Đông Đức, Đài loan và Hồng kông giầu có hơn Trung quốc,
Nam Hàn phồn vinh hơn Bắc Triều Tiên v́ Tây
Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng kông đều
dân chủ hơn Trung quốc, Đông Đức,
Bắc Triều Tiên.
Chẳng những dân chủ không gây mất
ổn định mà thiếu dân chủ th́ không thể
phát triển bền vững. Lịch sử Trung
quốc cho thấy, nhà Tần chỉ tồn tại 14
năm, trong khi nhà Hán 426 năm, nhà Đường 289
năm … Liên bang cộng hoầ xă hội chủ
nghĩa xô viết Nga chỉ tồn tại 72 năm
trong khi Hợp Chủng quốc Hoa kỳ bền
vững đă hơn 200 năm.
Chỉ có dân chủ mới mở
đường và bảo đảm cho phát triển
lành mạnh. Sau khi đổi mới, kinh tế
Việt Nam tiến vọt hẳn lên so với những
năm u ám trước đó để đạt
tốc độ tăng trưởng vào loại cao
nhất thế giới. Nhưng, xét trong tổng
thể, không thể nói Việt Nam đang phát triển
lành mạnh. Việt Nam hiện là một trong những
nước tham nhũng nhất thế giới (
xếp hạng 94/143 nước ), Việt Nam hiện
vẫn c̣n được xếp hạng kém nhất
thế giới về chỉ số phát triển con
người ( xếp hạng 112/177 nước ),
Việt Nam hiện là một trong những nước
có chỉ số tự do báo chí tồi tệ nhất
thế giới ( xếp hạng 135/143 nước ) …
Nước ta có truyền thống dân chủ
tự ngàn xưa. Các h́nh thái dân chủ, các sinh hoạt
dân chủ đă xuất hiện trong lịch sử
nước ta c̣n sớm hơn cả ở rất
nhiều nước phương Tây. Tư
tưởng dân chủ, tinh thần thượng tôn
pháp luật đă nẩy nở khá sớm và phát
triển ngày một cao từ cổ đại, qua
thời Bắc thuộc đến thời Pháp
thuộc. Tiếc rằng, tất cả đă chựng
lại sau Cách mạng Tháng Tám và ngày càng suy thoái trong
chế độ Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă
Việt Nam.
Đấu tranh v́ sự nghiệp đẩy
mạnh công cuộc dân chủ hóa đất
nước tất gian khó, thậm chí phải hy sinh
nhưng đấy là nghĩa vụ không thể thoái
thác đối với tổ quốc, với nhân dân.
Chúng ta đă từng xả thân v́ cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc, cuộc cách mạng dân chủ
này c̣n thiêng liêng, cao cả hơn. Nụ cười
rạng rỡ của tổ quốc Việt Nam
dưới ánh ngời dân chủ sẽ là vinh quang, là
phần thưởng vô giá cho tất cả những ai
đang vững bước tiến lên trong ngọn trào
dân chủ.
*
Nước Cộng
hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam được
cương lĩnh của đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định xây dựng tại
đây một thiết chế dân chủ xă hội
chủ nghĩa triệu lần dân chủ hơn dân
chủ tư sản.
Nhưng, Phạm
Hồng Sơn vào tù v́ dịch và phổ biến tài
liệu “ Thế nào là Dân chủ ” của Hoa Kỳ,
Nguyễn Vũ B́nh vào tù v́ đệ đơn xin thành
lập đảng Tự do - Dân chủ, Nguyễn
Khắc Toàn vào tù v́ giúp bà con đưa đơn
thỉnh nguyện lên cấp trên, Lê Chí Quang vào tù v́ dám
sử dụng quyền tự do thông tin ở cửa
hàng internet …
Dự thảo báo cáo
chính trị đại hội X của ĐCSVN quy
định nội dung thiết chế dân chủ xă
hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm :
“ - Lấy việc xây dựng
một bộ máy, một đội ngũ cán bộ,
công chức thật sự của nhân dân, do nhân dân và v́
nhân dân làm tiền đề để phát huy dân
chủ XHCN. Mọi chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước đều thể
hiện ư chí, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Trong
điều kiện cơ cấu giai cấp-xă hội
đang có sự thay đổi sâu sắc, cần có các
tổ chức thích hợp để thu hút và tạo
điều kiện cho mọi người, mọi
tầng lớp nhân dân tham gia các công việc chung
của Đảng, Nhà nước và xă hội.
Xây dựng và
hoàn thiện các cơ chế nhằm tổ chức,
thu hút và tạo điều kiện để nhân dân
thụ hưởng, thực hiện các quyền dân
chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trj, văn
hoá, xă hội … trong trật tự, kỷ cương
và bằng pháp luật, đề cao trách nhiệm pháp
lư giữa Nhà nước với công dân và công dân
với Nhà nước.
Thực
hiện dân chủ hoá sinh họat và phong cách lănh
đạo ngay trong Đảng và trở thành tấm
gương thực hiện dân chủ cho toàn xă hội
”
Từ điển
Triết học của Liên xô do nhà xuất bản
Tiến bộ tại Moskva năm 1975 th́ quan niệm: “Dân chủ là một trong
những h́nh thức chính quyền mà điều
đặc trưng là việc tuyên bố chính thức
nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và
thừa nhận quyền tự do và b́nh đẳng
của công dân … Trên thực tế, bất cứ
nền dân chủ nào với tính cách là một h́nh
thức tổ chức chính trị của xă hội,
xét đến cùng, đều do các quan hệ sản
xuất trong một xă hội nhất định
quyết định … Trong những h́nh thái giai cấp
đối kháng, nền dân chủ chỉ tồn
tại một cách thực tế đối với
những đại diện của giai cấp
thống tri ”
Trong khi đó, tài
liệu “ Thế nào là dân chủ ” của Mỹ
lại ghi nhận rằng hiện thực dân chủ “phụ thuộc vào sự
quyết tâm cống hiến và sự khôn ngoan tập
thể của chính bản thân người dân chứ
không phải dựa trên bất kỳ quy luật nào
của lịch sử và chắc chắn cũng không
dựa trên ḷng nhân từ được mong mỏi
từ các nhà lănh đạo độc đoán.
Khác với
một số nhận thức, một xă hội dân
chủ lành mạnh không chỉ đơn giản là
một đấu trường cho các cá nhân theo
đuổi các mục đích của cá nhân họ. Dân
chủ chỉ được thực hiện khi dân
chủ là mong muốn của các công dân có quyết tâm
sử dụng quyền tự do mà họ vất
vả mới giành được để tham gia vào
đời sống của xă hội – góp tiếng nói
của họ vào các tranh luận tập thể,
bầu ra các vị dại diện có trách nhiệm
đối với các hành động của họ và
chấp nhận đ̣i hỏi sự dung hoà và thoả
hiệp trong đời sống công cộng … ”.
Th́ ra, hoạt
động dân chủ tuy đă được khởi
nguyên từ Athens cổ đại nhưng cho
đến nay những ư niệm về dân chủ
vẫn c̣n khác biệt nhau nhiều lắm. Những khác
biệt đó đă và sẽ c̣n tồn tại trong
thời gian, giữa các xă hội khác nhau, với
những ước muốn của các cá thể khác
nhau. Cho nên t́m hiểu về dân chủ, phát biểu
về dân chủ, bàn luận về dân chủ là
chuyện không bao giờ dứt và không chỉ là
nhiệm vụ của các học giả uyên thâm.
I - Những ư niệm về dân
chủ
1 -
Một cách thông thường và đơn
giản, người ta thường hiểu dân
chủ theo dịnh nghĩa của J.J. Rudent : dân
chủ là quyền lực của nhân dân. Định
nghĩa này xuất phát từ các từ nguyên cổ Hy
Lạp : Démos là nhân dân, Krátos là sức mạnh, là quyền
lực.
Định nghĩa
này quá sơ giản và ngày càng trở nên khiếm
khuyết so với yêu cầu cuẩ xă hội hiên
đại..Trước hết v́ nó chỉ tập trú
dân chủ vào vấn đề quyền lục,
quyền lực áp đảo, quyền lực
khống chế, quyền lực cai trị, dù là
quyền lực đó được gọi là của
nhân dân.V́ từ nhân dân không đơn nghĩa nên
rất dễ và đă từng bị lợi dụng
quy cho một số đông, một tầng lớp,
một thành phần xă hội nào đó … Dẫn chứng nghịch cảnh dễ
thấy nhất khi ta được nghe tô vẽ
rằng chuyên chính vô
sản mang bản chất dân chủ tuyệt vời !
Nhà tư tưỏng cổ đại Plato cũng
từng định nghĩa “ Dân chủ đến sau
khi những người nghèo lật đổ những
người giầu, tàn sát một số và giữ
lại một số khác. Đó là chính quyền của
người nghèo ”
Quyền lực
phải được quy định bởi ba
yếu tố : quyền lực của ai, thuộc
về ai, xuất phát từ ai ?, quyền lực do ai
kiểm soát ? và quyền lực được sủ
dụng cho ai, v́ ai ? Do không được ràng buộc
chặt chẽ bởi ba yếu tố trên nên Plato
đă phán xét được rằng démocratie ở
Athens là “Thế lực tự phát của thói hèn hạ
vô chính phủ ”. Plato và Aristotle th́ phân biệt dân
chủ có luật pháp và dân chủ không bị luật
pháp hạn chế.
Dân chủ không
chỉ chứa đựng những nội hàm chính
trị, mà c̣n xă hội nữa. Định nghĩa trên
không bao hàm đựoc những thành tố xă hội phi
chính quyền như giữa người với
người, giữa các thành viên trong gia đ́nh (
vợ chồng, cha con, ông cháu … ), trong học
đường ( thầy, tṛ … ), giữa các sắc
dân, giữa các tín ngưỡng …
Trong xă hội thông
tin như ngày nay dân chủ không chỉ nhằm
điều tiết những quan hệ trên
dưới, giữa cai trị và bị trị, không
chỉ có quan hệ phụ thuộc mà c̣n có quan hệ
hoà hợp, quan hệ dưới lên, quan hệ phổ
biến toàn xẫ hội …Người quản lư
cũng như người bị quản lư,
người chủ cũng như người trực
tiếp sản xuất … đều phải
được thông tin để bảo đảm cho
xă hội hoạt động b́nh thường và cho
sản xuất phát triển.
Y niệm dân chủ
này đă đựoc quán triệt và thực hiện
từ công xă Paris với dân chủ trực tiếp,
không phân quyền, chủ yếu sử dụng các
biện pháp trấn áp. Công xă Paris về sau
được xem là tiền đề của dân
chủ vô sản và được các nước XHCN
coi là một “ h́nh thức nhà nước ” mẫu
mực.
2 -
Theo B. Curasvili th́ dân chủ là phương thức
tổ chức những tác động qua lại
về mặt xă hội sao cho giải thoát khỏi
chuyên quyền. Đặc trưng phương thức
tổ chức dân chủ của ông là sự b́nh
đẳng của các bên, hoặc là ưu thế
của những người bị quản lư so
với những người quản lư.
Ư niệm này gắn
được dân chủ với b́nh đẳng theo
hàm nghĩâ rộng gồm cả các quan hệ từ
trên xuống dưới, quan hệ từ dưới
lên trên, giữa quản lư với bị quản lư và
quan hệ ngang Mặc dầu vậy ư niệm này
vẫn chưa vươn tới được
những quan hệ xă hội đời thường.
Nó cũng chỉ chú ư được đến
vấn đề b́nh đẳng mà chưa quán
xuyến được lĩnh vực tự do. Ngày
nay, ư niệm này c̣n tỏ ra khiếm khuyết ở
chỗ không bao hàm được đời sống
dân chủ trong xă hội thông tin. Trong xă hội thông tin,
nhu cầu thông tin theo chiều ngang nhằm bảo
dảm hiệu quả kinh tế nhiều khi c̣n
bức xúc hơn cả những lư lẽ của dân
chủ chính trị. Dân chủ về kinh tế trong xă
hội thông tin nhằm đáp ứng vấn đề
vai tṛ của người sản xuất ngày nay ngày
càng phụ thuộc vào khối lượng thông tin mà
họ nắm được. Trong sản xuất ngày
nay, sự thông thạo chuyên môn c̣n phẩi bao gồm
cả kinh nghiệm tiếp xúc cá nhân với quần
chúng và khả năng đối thoại với dư
luận xă hội … Tại các xí nghiệp Nhật
Bản có biểu hiện sự lắng nghe ư kiến
của người sản xuất rất rơ và trả
tiền cao cho những ư kiến hay. Đấy cũng
là hệ quả của dân chủ.
3 -
Claude Polin định nghĩa : “ Dân chủ là một từ ngữ để
chỉ vừa là lư tưởng của việc nhân
đân tự cai trị lấy ḿnh và cũng là
để chỉ những thể chế có thật hay
là phải có để bảo đảm những
điều trên ” .
Định nghĩa
này đă phân biệt được giữa cái lư
tưởng và cái thực tiễn, cái hiển nhiên và
cái cần phấn đấu của dân chủ. Tuy
nhiên ở đây vẫn chỉ bao hàm chủ yếu
lĩnh vực chính trị.
4 -
Theo S. Alesiev, “ Dân
chủ ngày nay là một h́nh thái của tự do cá nhân,
đồng thời là phương thức quản lư
xă hội, và cũng là chỉ số phản ánh tŕnh
độ hoạt động xă hội của dư
luận”.
Trong quan điểm
này, lần đầu tiên vấn đề cá nhân
được đề cập cho nội hàm dân
chủ. Có cá nhân đ̣i dân chủ th́ mới có xă
hội dân chủ. Có cá nhân dân chủ với bản
thân ḿnh th́ xă hội mới buộc phải thực
hiện dân chủ. Alesiev cũng rất quan tâm
đến dư luận xă hội. Thái độ
quần chúng và năng lượng tác động
của họ vào đời sống chính trị xă
hội thể hiện qua dư luận xă hội. Thông
qua dư luận xă hội mà trạng thái dân chủ
được bộc lộ ra một cách chân
thực.
5 -
Theo tài liệu “ Thế nào là dân chủ ” do bác
sỹ Phạm Hồng Sơn lấy từ trang web
của Đại sứ quán Hoa Kỳ và đă dịch
ra tiếng Việt th́ các cột trụ cơ bản
của một nền dân chủ gồm :
-
Quyền tối cao của nhân dân
-
Chính phủ thành lập dựa trên
sự nhất trí của người dân
-
Nguyên tắc đa số
-
Các quyền thiểu số
-
Đảm bảo các quyền cơ
bản của con người
-
Bầu cử tự do và công bằng
-
B́nh đẳng trước pháp
luật
-
Thực hiện đúng luật
-
Hiến pháp đặt ra và giới
hạn quyền lực đối với chính phủ
-
Da nguyên về chính trị, kinh tế
và xă hội
-
Thúc đẩy các giá trị của
dung hoà, thực dụng, hợp tác và thoả hiệp.
Trong đó :
a – Chính phủ dân chủ là “ chính phủ được
thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực
tối cao được trao cho nhân dân và
được thực hiện bởi nhân dân hoặc
bởi các đại diện được bầu ra
từ một hệ thống bầu cử tự do ”.
Theo Abraham Lincoln , dân chủ là
một chính phủ “ của dân, do dân và v́ dân ”.
b -
Về nguyên tắc đa số và các quyền
thiểu số - Các thể chế dân chủ là các
hệ thống trong đó mọi công dân
được tự do đưa ra các quyết
định chính trị theo nguyên tắc đa số.
Nguyên tắc đa số phải được ràng
buộc với sự bảo đảm các quyền
con người của cá nhân, các quyền này,
đổi lại, lại đóng vai tṛ bảo vệ
quyền lợi cho bên thiểu số, dù đó là dân tộc
ít người, nhóm tôn giáo hay chính trị hoặc
chỉ đơn giản là những người thua
cuộc trong tranh luận về một vấn
đề lập pháp nào đó. Các quyền của
thiểu số không phụ thuộc vào ư nguyện
của bên đa số và cũng không thể bị
loại bỏ hoàn toàn bởi biểu quyết của
đa số.
c -
Trong một thể chế dân chủ, chính phủ
chỉ là một thành phần cùng tồn tại trong
một kết cấu xă hội bao gồm rất
nhiều các định chế khác nhau, các đảng
chính trị, các tổ chức và các hiệp hội.
Tính chất đa dạng này được gọi là đa
nguyên và thể chế dân chủ đó quy định
sự tồn tại, tính pháp lư hay quyền lực
của các tổ chức và các định chế khác
nhau trong một xă hội dân chủ không phụ
thuộc vào chính phủ.
Xă hội dân chủ luôn có hàng ngàn các tổ
chức tư nhân hoạt đông ở phạm vi
địa phương hay toàn quốc. Rất
nhiều các tổ chức đó đóng vai tṛ trung gian
giữa các cá nhân và các định chế của chính
phủ hay các tổ chức xă hội liên hiệp khác
mà họ là một thành phần.
6 -
Theo Hồ Chí Minh th́ “
Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi
ích đều v́ dân, bao nhiêu quyền hạn đều
v́ dân, của dân. Đầu tiên là v́ dân, rồi
đến của dân. Công việc đổi mới,
xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp
kháng chiến kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xă đến chính quyền trung
ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ trung
ương đến xă là do dân tổ chức nên.
Như vậy là của dân, do dân, v́ dân. Nói tóm lại
quyền hành và lực lượng đều ở
nơi dân ”.
Ư niệm dân chủ này đă bao hàm được
nội dung cơ bản là nhà nước của dân, do
dân, v́ dân như tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln
đă đề xuất từ năm 1776. Điều
đặc biệt là Hồ Chí Minh đă đưa tiêu
chí v́ dân lên đầu, trong khi A. Lincoln xếp ở
cuối. Dẫu sao, ở đây c̣n thấy một
thiếu sót cơ bản là chưa xác định
được chính quyền này phải do cái ǵ, do
cơ quan nào kiểm tra, kiểm soát ?
II -
Dân chủ với tự do
Dân chủ trở thành lư
tưởng của nhân loại v́ nó là một học
thuyết nhân danh con người và phụng sự con
người. Nó bảo đảm tính hợp lư,
hợp quy luật, hợp lẽ phải ( chân );
hợp nhân tính ( thiện ); hợp với khát vọng
về sự hài hoà và những t́nh cảm cao
thượng của con người ( mỹ ). Những
giá trị căn bản phổ biến
được dân chủ bao gồm là : quyền
tự do cá nhân, quyền b́nh đẳng về
điều kiện hay b́nh đẳng về cơ
hội phát triển cho mỗi cá nhân trong xă hội,
sự thống nhất trong tính đa dạng ( hoà
đồng, hoà điệu, chấp nhận lẫn
nhau, khoan dung và bảo tồn tính đặc thù )
của các cá thể trong mỗi cộng dồng
với nhau trong một quốc gia dân tộc, rộng
hơn nữa là giữa các nền văn hoá, văn
minh trên trái đất.
Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của cách mạng Pháp năm 1789 từng
viết : “ Người ta
sinh ra tự do và b́nh đẳng về quyền
lợi và phải luôn luôn được tự do và
b́nh dẳng về quyền lợi”. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đă trích nguyên văn câu này vào Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt Nam
năm 1945. Người c̣n nhấn mạnh thêm “Đó
là những lẽ phải không ai chối căi
được.”. Trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, Marx và Engels cũng đă viết : “ Thay cho xă hội tư
sản, với những giai cấp và đối kháng
giai cấp của nó, xuất hiện một liên
hợp, trong dó sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự
phát triển tự do của tất cả mọi
người ”.Trong Chống Duhring F.Engels c̣n khẳng
định : “ Xă hội
không thể nào giải phóng cho ḿnh được
nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt
”.
J.J.Rousseau đă nói đến
tự do cá nhân trong “ Khế ước xă hội ” : “ Tự do là từ bản
chất con người mà có. Luật đầu tiên
của tự do là mỗi người phải
được chăm lo cho sự tồn tại
của ḿnh. Những điều quan tâm đầu tiên
là quan tâm đến bản thân. Ơ tuổi lư trí, con
người phải tự định đoạt các
phương tiện sinh tồn của ḿnh và do
vậy, tự ḿnh làm chủ lấy ḿnh ”, “ Từ
bỏ tự do của ḿnh là từ bỏ phẩm
chất con người và cả nghĩa vụ làm
người ”.
Trong buổi b́nh minh của
lịch sử nhân loại, trước sự hoang dă
của thế giới tự nhiên, con người không
thể tồn tại bên ngoài cộng đồng
huyết tộc.Cái cá nhân hoà tan tuỵệt
đối trong cái cộng đồng. Sức mạnh
cá nhân nằm trong sức mạnh cộng đồng. Sức
mạnh cộng đồng là tổ hợp đơn
giản của sức mạnh các cá nhân. Trong cộng
đồng thị tộc, mặc dù khái niệm nhân
dân chưa xuất hiện nhưng họ là tất
cả các thành viên cộng đồng sống tự
do, b́nh đẳng, không ai tách khỏi cộng
đồng đ̣i hỏi một quyền ưu tiên nào
cả. L. Morgan, nhà nhân chủng học Mỹ thế
kỷ XIX nhận xét : “
Trong xă hội cộng đồng nguyên thuỷ toàn
thể các thành viên trong xă hội thị tộc
đều là những người tự do. Họ
đều có quyền cá nhân như nhau, cả tù
trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự
đều không đ̣i hỏi quyền ưu tiên nào
cả. Họ kết thành một tập thể thân ái,
gắn bó với nhau bởi quan hệ ḍng máu. Tự
do, b́nh đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ
được nêu thành công thức nhưng vẫn là
nguyên tắc của thị tộc ”
Theo thuyết Sáng thế, con
người là h́nh ảnh của Thiên chúa, nên tự do
cũng là món quà mà Thiên chúa ban cho con người, tự
do tinh thần được coi trọng hơn tự
do thân xác. Thậm chí, ngay cả khi con người
bị biến thành nô lệ th́ sự nô lệ thân xác
vẫn không ngăn cản được ư chí tự
do.
Những năm 20 của
thế kỷ XIX đă xuất hiện cách giải
thích tự do theo ư chí luận mà đại diện tiêu
biểu là A.Schopenhauer. Ông cho rằng, ư chí là bản
nguyên sống cố hữu của con người, ư
chí sinh tồn hiện hữu khắp nơi và trở
thành ư chí vũ trụ. Thế giới là ư chí biểu
tượng của Tôi. Tôi cảm nhận thế
giới qua lăng kính ư chí và biểu tượng
của Tôi, bởi lẽ thế giới hiện ra
không như nó vốn là như vậy, mà qua sự
biểu tượng của Tôi. Ư chí của Tôi áp
đặt cho thế giới đó một ư nghĩa
chủ quan; ư chí tự do và sáng tạo dẫu sao
cũng là mù quáng. A. Schopenhauer c̣n cho rằng tự do ư
chí sẽ không c̣n ư nghĩa nếu khả năng
của con người bị giới hạn theo
những khuôn mẫu của lư trí. Chân lư duy nhất
không dành chỗ cho sự tự do lựa chọn. Độc
quyền, nhất nguyên, sự thiếu vắng tự
do lựa chọn tự chúng đă mâu thuẫn với
bản chất con người.
G.P. Sartre th́ đề cập
đến sự tự do lựa chọn thái
độ sống của mỗi cá nhân. Ông viết : “ Con người là một
dự phóng, sống bằng cuộc sống riêng
của ḿnh, thay v́ là một đám rêu xanh mốc meo,
hoặc một bắp cải ôi ” .
Thực ra, tự do cá nhân có
chiều cạnh triết học của nó. Chiều
cạnh triết học ấy được thể
hiện trong việc giải quyết mối quan
hệ giữa cái tự do mang tính bản năng
với cái tất yếu mang tính xă hội. Triết
học luôn cố gắng t́m ṭi tính đặc thù
của con người so với giới tự nhiên c̣n
lại. Tính đặc thù ấy biểu hiện ở
chỗ con người có ư thức, có ư chí tức là nó
có tự do, nhưng mặt khác, con người cũng
là một bộ phận của giới tự nhiên cho
nên nó phải phục tùng những quy luật của
giới tự nhiên, trong đó có quy luật nhân quả
- quan hệ nhân quả với tư cách quan hệ phổ
biến. Chính từ đó đă nẩy sinh một
vấn đề quan trọng và nan giải đối
với triết học, đó là vấn đề
mối tương quan giữa tính chế định
nhân quả của ư thức với tự do ư chí. Trong
lịch sử triết học, vấn đề này
c̣n được đặt ra và giải quyết
như là vấn đề quan hệ giữa tất
yếu và tự do ư chí của con người.
Trong khi giải quyết
mối quan hệ giữa tất yếu và tự do ư
chí ở con người, việc nhấn mạnh
hoặc tất yếu hoặc tự do đă
đưa tới hai quan điểm đối lập
: định mệnh luận và duy ư chí luận.
Các nhà triết học theo quan
điểm quyết định luận máy móc
khẳng định sự tồn tại của tính
chế định nhân quả và coi đó là
định mệnh đối với mọi hành
động, mọi hành vi của con người,
kể cả lối ứng xử có ư chí ở họ.
Hoạt động tự do, tích cực của con
người là cái không thể có. Mọi hoạt
động của con người đều là
tất yếu. Không những lối ứng xử
của một cá nhân riêng biệt, mà toàn bộ tiến
tŕnh phát triển của lịch sử đều
được định trước. Con
người chỉ lầ một sinh thể phục
tùng một cách thụ động, mù quáng các quy
luật của tự nhiên và của xă hội, ư chí
của họ không thể để lại dấu
ấn ở các sự kiện lịch sử.
Duy ư chí luận giữ một
lập trường đối lập hoàn toàn với
định mệnh luận. Các nhà triết học theo
quan điểm vô định luận cho rằng
tự do là tuyệt đối và được
thể hiện ra thông qua quyền tự do mong
muốn, quyền tự do có động cơ ứng
xử; rằng thông qua tự do ư chí, quyền tự do
hành động của con người dường như
sinh ra từ tự ư thức, từ sự quan sát hàng
ngày về người khác và từ tự quan sát
của con người.
Khát vọng tự do là cơ
sở bùng nổ sáng tạo trong cuộc sống mà
cuộc sống là sự thực hiện những khát
vọng và bùng nổ sáng tạo ấy. Tuy nhiên, chính
cuộc sống lại đặt ra các nhu cầu,
những giới hạn, những tính quy định
cho hoạt động con người mà thiếu chúng,
con người sẽ rơi vào t́nh trạng hỗn
loạn, vô chính phủ, không thể kiểm soát
được. Ở đây nẩy sinh mâu thuẫn,
xung đột và đấu tranh giữa người
với người, thúc đẩy sự giằng co
giữa cái xă hội và cái phi xă hội trong con
người
Tư tưởng dân chủ
phân biệt rơ ràng giữa tự do của cá nhân ( con
người xă hội ) và tự do bản năng hay
thú tính. Tự do mang tính người phải là tự
do nhuốm mầu sắc lư tính. Theo Kant, nó phải
tồn tại trước hết dưới dạng
tự do ư chí, tức là quyền của cá nhân
được khẳng định ư chí của minh. Quyền
đó chỉ bị hạn chế bởi quyền
tự do tương tự của những
người khác, v́ những người khác cũng có
quyền năng như vậy.
Hegel cho rằng tự do ư chí
của cá thể không thể thoát ly khỏi tiến
tŕnh chung của sự phát triển xă hội. Trong “
Những bài giảng về triết học của
lịch sử ” Hegel đă quan niệm tiến tŕnh này
là quá tŕnh lột xác và khai nở của ư niệm
tự do qua các giai đoạn : 1- Thời kỳ mông
muội : không một ai tự do. Thời kỳ
xuất hiện xă hội có nhà nước ( nô lệ
và phong kiến ) : một người ( phương Đông ),
hoặc một nhóm người ( phương Tây )
tự do. 3 - Thời kỳ hiện đại ( xă
hội tư sản của châu Âu thuở ấy ) :
một số cộng đồng văn minh tự do.
4 – Tương lai : toàn thể nhân loại sẽ đi
đến trạng thái tự do hoàn toàn, khi sự
chuyển hoá và thâm nhập vào nhau tới độ
dồng nhất giữa tự do ư chí và tất yếu
của xă hội, được hoàn tất trong ư
niệm tuyệt đối.
Giới hạn của tự
do hành động bởi cả bản tính tự nhiên
của con người lẫn của thế giới,
tạo nên một không gian sinh tồn mang tính xă hội
cho con người, hay không gian của tự do. Tự
do chân chính chỉ có ư nghĩa với điều
kiện là mỗi người thừa nhận
những giới hạn của không gian này, cũng
như tính tương hỗ hay chế ước nhau
của quyền lợi và nghĩa vụ.
Marx và Engels đồng ư
với quan niệm của Hegel : tự do là sự
nhận thức được tất yếu. Tất
yếu nẩy sinh từ bản chất bên trong
của các sự vật, hiện tượng và nói lên
tính quy luật, trật tự, kết cấu của
chúng. Tất yếu tồn tại trong tự nhiên và xă
hội dưới h́nh thức các quy luât khách quan. Tuy
nhiên, Marx và Engels đă đi xa hơn khi cho rằng
tự do không chỉ là nhận thức được
tính tất yếu mà c̣n là hành động dựa trên
sự nhận thức đó, nghĩa là vận
dụng nó vào hoạt động thực tiễn
của con người. Trong “ Chống Duhring ” Engels
viết : “ Tự do không
phải là ở sự độc lập tưởng
tượng đối với các quy luật tự
nhiên mà là ở sự nhận thức được
những quy luật dó và cái khả năng – có
được nhờ sự nhận thức này -
buộc những quy luật đó tác động
một cách có kế hoạch nhằm những mục
đích nhất định ”, “ Tự do là ở sự
chi phối được chính bản thân và tự
nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên
sự nhận thức được những tất
yếu của tự nhiên
”
Marx và Engels cho rằng sự
hoàn thiện nhất của lịch sử là ở
chỗ con người được giải phóng
khỏi thân phận nô lệ, trở thành người
tự do, được phát triển tự do mọi
khả năng lao động sáng tạo của ḿnh,
kết hợp được một cách hài hoà sự
phát triển tự do của mỗi cá nhân với
sự phát triển tự do của cả cộng
đồng.
Tự do mà chúng ta hướng
tới và đang đạt tới là sự tự do
của những cá nhân. Không tồn tại một
tự do nào khác ngoài tự do của con người. Nhưng
nếu các cá nhân muốn nhận được toàn
bộ hay thậm chí là một phần tự do có
thể là tự do của họ th́ cần phải
hiểu là tự do của mỗi cá nhân phụ
thuộc vào những ǵ
tất cả mọi cá nhân cùng nhau hợp nhất thành
xă hội đă làm được và sẽ làm
được. Nó phụ thuộc vào khả năng
hoạt động và sự lựa chọn hoạt
động mà cá nhân sử dụng. Đến
lượt ḿnh, các khả năng và sự lựa
chọn có ở mỗi cá nhân lại phụ thuộc
vào các phương tiện nào để hoạt
động và để đáp ứng nguyện
vọng được tạo ra trong xă hội mà cá
nhân thuộc về, cũng như phụ thuộc vào
việc các thành viên khác của xă hội có cho phép hay
không cho phép cá nhân đó làm.
Động viên tinh thần
của nền dân chủ, bổ sung nó về mặt
đạo dức, dựa vào trách nhiệm của cá
nhân và sự tôn trọng của mỗi người
đối với quyền và lợi ích của người
khác – đó là những điều kiện cần
thiết để làm lành mạnh hoá xă hội, sử
dụng một cách văn minh các quyền và tự do.
Engels đă chỉ ra mối
quan hệ không tách rời giữa tự do và trách
nhiệm : “ Con
người chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi
vi phạm của ḿnh, nếu khi thực hiện nó con
người có tự do ư chí một cách đầy
đủ ”.
Quan niệm cận hiện
đại về tự do luôn gắn kết với
sự h́nh thành và khẳng định tư
tưởng về con người cá nhân, về xă
hội công dân và nhà nước pháp quyền. Tổng
thống Pháp F. Mitterrand nói : “
Không có thứ dân chủ không cần đến nhà
nước … Nhà nước cấp tiền để
thực hiện những quyết định dân
chủ dưới dạng các bộ luật hoặc các
văn bản dưới luật; nó bảo
đảm việc duy tŕ pháp luật - nỗ lực
phải có để thực hiện dân chủ, nó
bảo vệ và bảo đảm sức sống
của các quyền tự do của nhân dân ”.
Montesquieu từng nói : “ Tự do là quyền làm cái
mà luật pháp cho phép. Gíá như công dân có thể làm cái
mà luật pháp này ngăn cấm th́ hẳn là họ
sẽ mất tự do v́ những công dân khác cũng có
thể làm được điều giống hệt
như thế ”. Trước đó J. Locke cũng
đă phát biểu : “
Mặc dù những lời lư giải có thể giả
dối đến đâu, mục đích của
luật vẫn là không thủ tiêu và hạn chế mà là
bảo toàn và mở rộng tự do….nơi nào không có
luật, nơi đó cũng không có tự do”.
Tuy nhiên, môi trường
để cho cá nhân công dân thực hiện
được đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ của ḿnh trong quan hệ pháp luật
với nhà nước là dân chủ.
Nhà nước dân chủ pháp
trị coi nhiệm vụ của ḿnh, sứ mạng
của ḿnh là bảo đảm tất cả các
quyền tự do cho mỗi công dân cụ thể; không
cho phép ḿnh phục tùng bất cứ chuẩn mực
nào đứng trên hiến pháp, dù là nhà vua hay
đảng.
Tuyên ngôn của đảng
Cộng sản từng dơng dạc tuyên bố : “ Giai cấp vô sản
biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy
dân chủ ”.
Chẳng nhẽ dân chủ là
sự thống trị của giai cấp vô sản ? !
Tiếc thay, tư tưởng
của Tuyên ngôn này cũng đă được thể
hiện rơ ràng trong giải thích của từ
điển Triết học Liên Xô: “ … nền dân chủ chỉ tồn tại
một cách thực tế đối với những
đại diện của giai cấp thống trị
”.
Thực ra, trong học
thuyết dân chủ, vấn đề chính trị quan
trọng không phải là vấn đề ai cầm
quyền, mà là cách thức giám sát việc sử
dụng nó. V́ không nhà cầm quyền nầo không
thể bị quyền lực mê hoăc nên vấn
đề chính trị cơ bản không phải là
ở chỗ giao quyền lực cho ai, mà thực ra là ở
cách thức giám sát hữu hiệu nhất đối
với quyền lực thông qua các thiết chế chính
trị.
Ưu việt v́ dân nhất
của chế độ dân chủ là ở chỗ nó
bảo đảm khả năng thiết lập
sự giám sát đối với hoạt động
của những người cầm quyền hay là
của những cá nhân có chức quyền. Nó cũng
đồng thời cho phép, trong trường hợp
cần thiết, phế truất những người
cầm quyền mà không sử dụng bạo lực.
Tuyên ngôn Độc lập
của Hợp chủng quốc Hoa kỳ năm 1776
đă công bố rơ rầng : “
Khi một h́nh thức chính phủ nào đó trở nên
đối nghịch với các mục đích trên (
bảo đảm quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
cho nhân dân ) th́ nhân dân có quyền thay đổi hay
phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập
một chính phủ mới, dựa trên nền tảng
những nguyên tắc như vậy và tổ chức
các quyền lực của ḿnh theo h́nh thức nào
để cho các quyền lực đó có khả
năng bảo đảm an ninh và hạnh phúc cho
họ nhiều nhất ”
Nhà xă hội học Đức
hiện đại K. Popper phát biểu như sau : “ Tôi hiểu dân chủ không
là một cái ǵ đó không xác định, giống
như “ quyền lực của nhân dân ” hay là “
quyền lực của đa số ”, mà là một
hệ thống các thiết chế ( trong số đó
đặc biệt là các cuộc bầu cử phổ thông
đầu phiếu, tức là quyền của nhân dân
băi miễn chính phủ của ḿnh ), hệ thống cho
phép thực hiện sự giám sát xă hội đối
với những người cầm quyền và băi
miễn họ theo ư muốn của những
người không cầm quyền, cho phép những
người này đạt tới những cải cách
vượt khỏi tầm của nhà cầm quyền
mà không cần sử dụng bạo lực ”.
Tự do, nếu không bị
hạn chế, sẽ tự thủ tiêu bản thân
ḿnh. Quyền lực nhà nước cần thiết và
có chức năng giám sát tự do nhưng dân chủ
càng cần thiết hơn đề giám sát quyền
lực nhằm bảo vệ các quyền tự do
thiêng liêng chân chính của con người.
III – Dân chủ với b́nh
đẳng
Con người không chỉ có
khát vọng tự do mà c̣n đ̣i hỏi phải
được b́nh quyền, b́nh đẳng trong xă
hội. B́nh đẳng là cái gốc tạo sự công
bằng. Bản Tuyên ngôn Độc lập bất
hủ của Hoa kỳ ra đời năm 1776 đă
mở đầu bằng sự khẳng định
một trong những điều thiêng liêng nhất :“ Chúng tôi coi những chân lư
sau đây là hiển nhiên : tất cả mọi
người sinh ra đều b́nh dẳng …”. B́nh
đẳng là một trong những khả năng
bẩm sinh của con người. Nó đ̣i hỏi
không được có sự hành xử phân biệt
giữa các vị thế xă hội, giữa tuổi
tác, màu da, giới tính hay quốc tịch …Nó bao gồm
các quyền b́nh đẳng trong các quan hệ dân
sự, thương mại, quan hệ tố tụng,
quan hệ giữa người dân với chính quyền
…
Kant coi tự do và b́nh
đẳng như là quyền độc nhất, có
từ xưa, không bị bất cứ hạn chế
nào do điều kiện sống cụ thể. Tự
do và b́nh đẳng liên kết bền chặt h́nh thành
nên phẩm chất con người và cá tính con
người.
Tuy nhiên khát vọng tự do,
b́nh đẳng cùng với những yêu cầu
điều tiết những mâu thuẫn nẩy
sinh giữa các phạm trù
này đ̣i hỏi h́nh thành quyền lực trong xă
hội. Từ đấy nhà nước ra đời.
Khi nhà nước xuất hiện, con người,
một mặt với tư cách là toàn thể có thêm
quyền lực mới : quyền lực chính trị;
mặt khác, với tư cách là những người
bị trị, bị tước bớt quyền. Quyền
lực của họ bị cắt xén, bị thâu tóm,
tập trung trong tay nhà nước. Nguồn gốc
của quyền lực nhà nước là quyền
lực nhân dân, nhưng bệnh quan liêu vốn dĩ
của nhà nước luôn có xu hướng tách nhà
nước ra khỏi nhân dân, đặc biệt khi
bộ máy nhà nước được thiết
kế và xây dựng không hợp lư, không có cơ chế
kiểm soát.
Quyền lực nhà nước
tồn tại như một tất yếu nhằm duy
tŕ trật tự xă hội . Nhưng theo Marx, đă có
hai loại trật tự : “ trật tự xă hội
cần thiết ” và “ trật tự thặng dư ”. “
Trật tự thặng dư ” là thứ trật
tự phụ trội được áp dụng không
phải v́ quyền lợi cũa xă hội mà chủ
yếu dành riêng cho quyền lợi của những
người cầm quyền : nhà nước,
đảng … “ Trật tự thặng dư ” là
đối lập với trật tự đem lại
lợi ích và cần thiết cho xă hội. Những nhà
nước thiết lập nên và lạm dụng “
trật tự thặng dư ” để đè
nặng ách thống trị lên đầu người
dân đau khổ đều từ bỏ cái mà
Khổng tử gọi là “ thừa thiên mệnh ”.
Lịch sử từng
chứng kiến nghịch lư trớ trêu. Cộng
đồng xă hội lập ra nhà nước. Nhưng
nhà nước vốn để phục dịch xă
hội, chẳng bao lâu trở thành ông chủ
đối với xă hội, đứng trên xă hội,
thống trị trở lại xă hội. Họ
được quyền dặc miễn. Từ đó
mà nẩy ra chế độ chuyên quyền độc
đoán. Áp bức tràn lan, bất công khống chế xă
hội. T́nh h́nh đó làm các nhà tư tưởng
tiến bộ nghĩ đến phải có một
khế ước xă hội. Con người trong xă
hội phải có trách nhiệm lẫn nhau, giữa
người cai tri và người bị trị.
Cho nên từ khi nhà nước
xuất hiện th́ quyền dân chủ thực chất
là phải bao gồm những yêu sách về sự b́nh
đẳng chính trị và xă hội của mỗi cá
nhân trong mối quan hệ với nhà nước,
nhằm bảo đảm cho cá nhân có được
khả năng hành động theo ư ḿnh, tự
quyết định và làm chủ ư chí của ḿnh mà
không làm hại đến người khác, và do đó
đem lại khả năng giải phóng toàn diện
những năng lực bản chất người
của mỗi cá nhân. Engels khẳng định : “ Từ sự b́nh
đẳng của mọi người với tư
cách là con người, rút ra cái quyền có một giá
trị ngang nhau về chính trị và xă hội cho
tất cả mọi người, hay ít ra là cho mọi
công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên
trong một xă hội ”.
Muốn có một xă hội dân
chủ phải có một hệ thống chính trị
dân chủ. Môi trường để cho cá nhân công dân
thực hiện được đầy đủ
các quyền và nghĩa vụ của ḿnh trong quan hệ
với nhà nước là dân chủ. Dân chủ đóng
vai tṛ như là điều kiện tiên quyết, là
phương tiện để xây dựng một
thiết chế xă hội tiến bộ - một
thiết chế xă hội bảo đảm và hiện
thực hoá các quyền tự do và b́nh đẳng
của con người. David Bentham đă chỉ ra
rằng : “ Dân chủ là
một phương tiện để thực hiện
lợi ích chung, bởi v́ nó cho phép nhân dân xác
định được lợi ích chung đó là ǵ
cũng như kiểm soát quá tŕnh mà ở đó nó
được thực hiện một cách có hiệu
quả trong thực tiễn ”.
Hệ thống chính trị dân
chủ chỉ có thể tồn tại trong một nhà
nước dân chủ pháp trị với những
đặc điểm cơ bản sau :
- Nhà nước dân chủ pháp
trị đối lập với các thể chế
chính trị cực quyền, độc quyền,
thần quyền, quyền lực nhà nước
thực sự thuộc về nhân dân.
- Có hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh, trong đó các đạo luật có vai tṛ
tối thượng, mọi cơ quan nhà nước,
tổ chức xă hội, người có chức vụ
và công dân đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh
pháp luật và b́nh đẳng trước pháp luật
- Không chỉ công dân có trách
nhiệm đối với nhà nước, mà nhà
nước phải có trách nhiệm đối với
công dân, khái niệm trách nhiệm ở đây
được hiểu theo cả nghiă rộng và
nghĩa hẹp, nghĩa là quan hệ giữa công dân và
nhà nước là quan hệ b́nh đẳng về
quyền và nghĩa vụ.
- Các quyền dân chủ tự
do và lợi ích chính đáng của con người
được pháp luật bảo đảm và
bảo vệ toàn vẹn, mọi hành vi lộng
quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước
và người có chức vụ nào, cũng như
mọi hành vi phạm pháp khác xâm phậm quyền
tự do, lợi ích chính đáng của công dân
đều bị nghiêm trị.
- Quyền lực nhà
nước được phân chia rơ rệt thành ba
quyền : lập pháp, hành pháp, tư pháp;
được phân định rơ ràng và hợp lư cho ba
hệ thống cơ quan tương ứng trong
mối quan hệ cân bằng, đối trọng,
chế ước lẫn nhau.
Trong nhà nước pháp trị
dân chủ, mọi chủ thể, kể cả nhà
nước, đều tuân thủ nghiêm chỉnh,
chịu phục tùng pháp luật - một hệ
thống pháp luật có tính pháp lư cao, phù hợp với
lư trí, thể hiện đầy đủ những giá
trị cao cả nhất của xă hội, của con
người. Mọi tổ chức và hoạt
động đều trên cở sở nguyên tắc
b́nh đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà
nước và công dân.
Trái với những tư
tưởng trên, trên cơ sở cho rằng chế
độ dân chủ chỉ là một h́nh thức,
một chế độ nhà nước, Marx cho
rằng không có một chế dộ dân chủ nói chung
mà chỉ có chế độ dân chủ có tính giai
cấp. Lenin cũng quả quyết : trong xă hội có
giai cấp, nhà nước phải “ là một nhà nước dân chủ kiểu
mới ( dân chủ đối với những
người vô sản và nói chung đối với
những người không có của ), và chuyên chính
kiểu mới ( chống giai cấp tư sản ) ”.
Trong cái nhà nước dân
chủ kiểu mới của Lenin phải tồn
tại một bộ máy chuyên chính khổng lồ
để chống lại, để tàn sát giai cấp
tư sản và tất cả những ai có tư tưởng
tư sản hay liên quan đến tư sản.
Tíếc thay, ông cử nhân
luật Lenin khi làm chính trị lại phỉ báng pháp
luật đến mức ngang nhiên tuyên bố: “Đối
với bọn địa chủ, tư sản, chúng ta
phải bắn ngay tại chỗ, không cần xét
xử ”. Ở Việt Nam, ông Trần Phú cũng hô
hào: “ Trí, phú, địa ,
hào, đào tận gốc, trốc tận rễ ”
Thế là, 61 triệu 911 ngàn
người đă bị giết trong các trại tù
Gulag dưới thời Liên bang Xô viết. Thế là,
ở Việt Nam, đă có khoảng 9 vạn
người ( trong đó có 2 vạn đảng viên
cộng sản ) bị giết và 9 vạn
người khác ( trong đó có nhiều đảng viên
cộng sản ) v́ bị vu oan mà uất ức
hoặc sợ hăi quá phải tự tử trong cải
cách ruộng đất.
Cả Marx và Lenin
đều cho rằng tự do của một giai
cấp là sự mất tự do của giai cấp
đối lập. Giữa các giai cấp đối
lập không có sự b́nh đẳng, b́nh đẳng
chỉ có thể tồn tại trong nội bộ
một giai cấp.
Marx-Lenin không thừa
nhận quyền b́nh đẳng giữa giai cấp
thống trị và giai cấp bị trị, giữa
nhà nước và nhân dân.
Chính v́ thế mà cả hệ
thống giáo dục trường học lẫn báo chí,
loa đài ra rả dạy trẻ già lớn bé mở
miệng ra là phải biết tụng niệm đời
đời ơn Đảng, ơn Bác mà không bao
giờ có ai nói điều chân lư rằng Đảng
phải thực ḷng nhớ ơn nhân dân đă sinh ra,
nuôi lớn lên và tạo mọi điều kiện cho
Đảng tồn tại và lập công.
Chính v́ vậy mà
Đảng không c̣n đủ tự trọng khi cứ
ngoan cố áp đặt măi vị trí độc tôn
của ḿnh qua điều 4 của Hiến pháp.
Chính v́ vậy mà Đảng
ngang nhiên nẫng cả phần trên của trời
đất. Mặc dù trong tất cả các ngày kỷ
niệm lớn, ngày sinh nhật Đảng, loa đài
đă xói xả inh tai nhức óc hàng trăm, hàng ngàn
bản tụng ca công tích của Đảng, thế
mà, mỗi độ xuân về, cờ phướn
vẫn cứ phải giăng giăng “ Mừng
Đảng, mừng xuân”, … rồi mới đến “
mừng đất nước ” !
Chính v́ thế mà, mặc dù nhân
dân mang nặng đẻ đau ra quân đội,
vắt từng giọt sữa gầy để nuôi
quân đội nhưng phải chăng, khi cần, quân
đội cũng có thể là phải hy sinh tất
cả đi ( như quân đôi Trung quốc tại
chiến trường Thiên An Môn từng cho xe tăng
dày xéo lên xác muôn dân ) để chỉ cần “ Trung
với Đảng ” !
Lịch sử tư
tưởng chính trị pháp lư đúng đắn chính
là lịch sử đấu tranh giữa các quan
niệm tiến bộ với các quan niệm bảo
thủ lạc hậu trong việc xác dịnh mối
quan hệ giữa nhà nước và cá nhân . Lịch
sử đấu tranh dể nhận thức ngày càng
đúng đắn bản chất mối quan hệ
pháp lư đó chính là lịch sử khám phá từng
bước giá trị của cá nhân con người
trong mối quan hệ với quyền lực nhà
nước.
P. Frank – nhà hiến pháp học
nổi tiếng Hoa kỳ đă viết : “ Nhà nước không
được áp đặt thêm các điều bất
công cho xă hội trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhà
nước cần phải đối xử công
bằng và b́nh đẳng với tất cả
những người dân của nó ”.
Nhà nước tất nhiên
phải có quyền lực để duy tŕ trật
tự xă hội và xử phạt các tội phạm
nhưng các nguyên tắc và thủ tục để nhà
nước thực thi pháp luật bắt buộc phải
được công khai, rơ ràng, không dấu diếm,
không tuỳ tiện, không được sử
dụng vào mục đích chính trị của nhà
nước.
K. Popper cho rằng : “ Bản thân tính b́nh
đẳng là yêu cầu nhà nước phải nh́n
nhận mọi công dân
một cách vô tư. Thực chất của yêu
cầu đó là làm thế nào để cho những
điểm trội liên quan đến nguồn gốc, ḍng dơi,
sự hiện diện các mối quan hệ hay sự
giầu có, không chi phối những người
đang thực hành pháp luật v́ lợi ích của công
dân ”. Ông xác định :
“ Con người không b́nh đẳng nhưng chúng ta có
thể đi theo con đường đấu tranh v́
các quyền b́nh đẳng”.
Mục đích của dân
chủ là tạo môi trường xă hội để
mọi người được đối xử
như nhau. Để phản bác lại một số
nhà quư tộc trước đây và Karl Marx sau này, cho
rằng có một tầng lớp, một số cá nhân
nào đó ưu việt hơn, được xem là quan
trọng hơn, nhà hiến pháp học J. Bentham đă
khẳng định “ Mỗi người chỉ
được tính là một và không ai được
tính hơn một ”. Nguyên tắc b́nh đẳng này
không chỉ nói lên rằng các chính sách chung phải
nhằm bảo vệ quyền lợi của tất
cả mọi người một cách như nhau mà c̣n cho
thấy những quan diểm cá nhân cũng phải
được tôn trọng như nhau, không phân biệt
giữa người này, kẻ khác.
Nguyên tắc thiểu số
phục tùng đa số bị lạm dụng làm cho
người ta hiểu rằng quyền lực của
đa số là tuyệt đối. Dân chủ thực
sự là quyền lợi thuộc về nhân dân có
nghĩa rằng quyền lực này được
thực thi bởi toàn thể dân chúng chứ không
phải chỉ bởi một tập thể dân chúng
bằng cách áp đặt ư muốn của họ lên
một tập thể dân chúng khác. Nói cách khác,
đặc trưng căn bản của dân chủ là
công nhận cho mọi người được
quyền b́nh đẳng tham gia vào quyết định
chung, trong đó nguyên tắc đa số chỉ là
một phương cách để giải quyết
những bất đồng sau khi đă tận
dụng mọi thủ tục: tranh luận, bổ sung
ư kiến và thoả hiệp, mà không đạt kết quả.
Phải như vậy dân chủ mới bảo
đảm cho mọi người đều
được tham gia một cách tự do, b́nh
đẳng và đầy đủ vào các công việc
của nhà nước cũng như toàn bộ
đời sống xă hội.
Dân chủ bảo hộ cho
cả hai mặt đối lập: thiểu số
lẫn đa số. Sự phát triển biện
chứng của dân chủ làm cho nó như một
hợp đề của chính đề đa số và
phản đề thiểu số. Trong giai đoạn
lịch sử mới phôi thai của ḿmh dân chủ
chỉ chấp nhận quyền của đa số
nhưng sau quá tŕnh tiến hoá nó chấp nhận cả
quyền của thiểu số. Từ khả năng
hiện đại hoá, dân chủ chẳng những
chấp nhận sự khác biệt mà c̣n lấy sự
khác biệt làm nền tảng, đấu tranh cho
sự tồn tại của tính khác biệt. Mọi
sự khác biệt đều có quyền tồn
tại và do vậy mà chúng b́nh đẳng. Dân chủ
như môi trường nuôi dưỡng và bảo
tồn các bộ phận thiểu số trong xă
hội, là sự khoan dung và chấp nhận lẫn nhau
giữa chủ quyền của thiểu số và
đa số.
Dân chủ thực sự
gắn liền với b́nh đẳng v́ nguyên tắc
dân chủ bảo đảm việc thực hiện
các biện pháp nhằm thiết lập sự giám sát
đối với những người cầm
quyền từ phía những người bị cai
trị. Những người bị cai trị phải
có các quyền b́nh đẳng trong quá tŕnh tham gia vào
sự giám sát đó. Không một giai cấp nào, một
cá nhân nào bị loại trừ khỏi sự tham gia
quá tŕnh thiết lập giám sát chính quyền dân chủ.
Nguyên tắc dân chủ tạo quyền giám sát, từ
đấy bảo đảm cho người dân không
chỉ có thể chỉ trích, phê phán mà c̣n đ̣i
hỏi phế truất chính phủ. Từ năm 1776,
Tuyên ngôn Độc lập của Hoa kỳ đă công
khai thừa nhận quyền này : “
Khi nào một loạt những hành động lộng
hành và lạm quyền, luôn theo đuổi một
mục đích và để lộ ư đồ bắt
mọi người phải tuân theo chế độ
chuyên chế, th́ mọi người có quyền và có bổn
phận lật đổ chế độ ấy,
bổ nhiệm những người mới để
bảo vệ an ninh sau này của họ ”.
Để bảo đảm
mọi thành viên xă hội được thụ
hưởng các quyền tự nhiên : quyền
được sống, quyền mưu sinh, quyền
mưu cầu hạnh phúc – con người c̣n cần
được b́nh đẳng về điều
kiện. B́nh đẳng về điều kiện là
một đ̣i hỏi tất yếu của đời
sống xă hội. Nó được hiểu là mỗi
người đều có cơ hội như nhau
về mặt pháp lư để phát triển khả
năng của ḿnh.. B́nh đẳng về điều
kiện không thủ tiêu sự khác biệt giữa các
cá thể hay giữa các cộng đồng dân tộc
mà là nền tảng cho sự nẩy nở tính khác
biệt. Nó chỉ ra rằng con người muốn
dược tự do th́ phải chấp nhận tự
do của kẻ khác; đồng thời xác nhận
rằng, mỗi nhân cách là một sự độc
đáo, không lặp lại, và do đó là duy nhất. V́
vậy, họ b́nh đẳng với nhau.
Nhà sử học Anh Toynbee trong
cuốn “ Khả biến và bất biến ” của
ḿnh đă nêu nhận xét :
“ Chủ nghĩa
cộng sản sai lầm không phải ở chỗ
đ̣i hỏi công bằng mà ở chỗ v́ công
bằng mà hy sinh tự do … Chủ nghĩa cá nhân sai
lầm không phải ở chỗ đ̣i cho được
quyền bất khả xâm phạm của cá nhân con
người mà ở chỗ v́ nó mà hy sinh công bằng xă
hội ”
Đề cập đến
nội hàm của phạm trù b́nh đẳng về
điều kiện Kant cho rằng : b́nh đẳng
không có nghĩa là b́nh đẳng về tài năng mà là
b́nh đẳng về cơ hội để phát
triển và áp dụng tài năng.
Ơ Việt Nam, sau một quá
tŕnh cực tả, suy tôn người nghèo, vinh danh cái
nghèo, chợt bừng tỉnh, người ta nhẩy
sang cực hữu thúc giục nhau hô toáng lên : “Đảng
viên cũng phải biết làm giầu ”. Nghe cái cụm
trợ động từ “ cũng phải ” thấy
tội tội làm sao. Nhưng, trong thực tế, nói
chung, người ta đă tạo điều kiện
ưu tiên cho đảng viên làm giầu nhanh chóng
hơn, do đó nhiều tư bản đỏ
thật kếch xù là đảng viên Cộng sản
Việt Nam có chức có quyền đă xuất hiện
và góp phần gây ô nhiễm xă hội. Lẽ ra,
Đảng nếu có tinh thần dân chủ, chỉ
cần tạo điều kiện b́nh đẳng cho
mọi người được sống,
được mưu sinh, được mưu
cầu hạnh phúc. Ai muốn làm giầu tiền
bạc ( trở thành chủ doanh nghiệp lớn … ),
ai muốn làm giầu trí tuệ ( trở thành nhà khoa hoc
lỗi lạc, nghệ sỹ tài danh …), ai muốn làm
giầu tâm linh ( trở thành thầy tu … ), theo khả
năng, đều được tạo điều
kiện ngang nhau để trở thành “ giầu có ”
trong lĩnh vực sở trường, sở thích
của ḿnh. Khuyến khích làm giàu như khẩu
lệnh trên kích thích người ta xông tới chèn ép
nhau h́nh thành một xă hội tư bản hoang dă
với đầy dẫy những tệ nạn
xấu xa như hiện t́nh Viêt Nam ngày nay.
B́nh đẳng về
điều kiện giúp cho tinh thần cộng
đồng có đường hướng, cho pháp
luật có khung hợp lư, cho những người cai
trị có chuẩn tắc mới và cho những
người bị trị có thói quen đặc
biệt. B́nh đẳng về điều kiện là
yếu tố không thể thiếu của nền dân
chủ.
Chế độ dân
chủ khác hẳn với chuyên chế ở chỗ, nó
luôn thích nghi và có năng lực tự điều
chỉnh cao. Khả năng tự hoàn thiện và
tiến bộ không ngừng của nền dân chủ
chính là nhờ sự thống nhất trong tính đa
dạng và sử dụng tính đa dạng ấy
như một phương tiện để phát
triển.
IV - Dân chủ, phát triển,
ổn định
Dân chủ và phát triển liên
quan với nhau ra sao ? Dân chủ có dẫn đến
mất ổn định không ? Phần này bàn luận
về các vấn đề đó.
Trước khi xem xét mối
quan hệ giữa dân chủ và phát triển
tưởng cũng cần làm sáng tỏ quan niệm
thế nào là phát triển.
Thử trích ra đây một vài
đoạn ngắn nói đến phát triển trong “
Dự thảo báo cáo chính trị tại đại
hội X của Đảng CSVN ” : “ Con đường đi lên xă hội chủ
nghĩa ở nước ta là phát triển kinh tế
thị trường định hướng xă hội
chủ nghĩa …”, “ Phát triển nền kinh tế
nhiều h́nh thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà
nước giữ vai tṛ chủ đạo … ”, “
Bảo đảm sự gắn kết chặt
chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ
: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng
Đảng là then chốt và phát triển văn hoá-
nền tảng tinh thần của xă hội ”
Bản báo cáo tỏ ra rất
tự hào khi nói đến
“ Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau
cao hơn năm trước, b́nh quân trong 5 năm 2001
-2005 đạt mức kế hoạch 7,5%”, và phấn
đấu “Đến năm 2010 tổng sản
phẩm trong nước ( GDP ) tăng gấp hai
lần so với năm 2000, mức tăng
trưởng GDP b́nh quân đạt 7,5% - 8% /năm và
phấn đấu đạt 8%/năm ”.
Thế nhưng, tăng
trưởng kinh tế có đồng nghĩa với
phát triển kinh tế không ? Nền kinh tế phát
triển có bảo đảm hoàn toàn định giá
được cho sự phát triển của
đất nước không ?
Khi bàn đến phát triển,
ông Nguyễn Gia Kiểng, trong tác phẩm “ Tổ
quốc ăn năn ”của ḿnh đă tỏ ra tâm
đắc với nhận định của nhà nghiên cứu nào đó cho
rằng, phát triển không phải là một vấn
đề kinh tế mà là một vấn đề
văn hoá xă hội. Ông viết : “ Phát triển rất dễ mà lại rất khó.
Rất dễ v́ không đ̣i hỏi một lư thuyết
phức tạp hay một kế hoạch cao siêu nào
cả. Rất khó v́ nó đ̣i hỏi một tâm lư và
một văn hoá mới. Mà thay đổi tâm lư và
văn hoá là điều khó nhất ”. Ông đặt
nhẹ các yếu tố tư bản và nguyên liệu
mà chỉ liệt kê những yếu tố vô h́nh mà ông
cho là cần thiết cho phát triển như sau :
-
một chế độ tự do, dân chủ và
đa nguyên
-
một nhà nước nhẹ nhường không
gian tối đa cho xă hội dân sự, cho ư kiến và
sáng kiến cá nhân
-
một sinh hoạt kinh tế thị
trường bảo đảm cạnh tranh công
bằng
-
một xă hội linh động và b́nh
đẳng, không bị trói buộc bởi những
thành kiến, không bị ngăn cách bởi những
giai cấp hay những đại gia đ́nh;
-
một tâm lư tôn vinh kinh doanh và buôn bán;
-
một tinh thần quốc gia ( hay cộng
đồng ) mạnh;
-
một xă hội trong đó thông tin
được tự do, các kinh nghiệm và kiến
thức được truyền bá nhanh chóng và dễ
dàng;
Ai đó lại cũng đă
từng cho rằng : “ Phát
triển đă nẩy sinh tại một số
quốc gia khi, do một sự t́nh cờ của hoàn
cảnh lịch sử, bộ máy chính quyền trở
thành vắng mặt, quần chúng được
một không gian tự do hơn hẳn và v́ thế
đă tổ chức một cuộc sống cộng
đồng trên căn bản đồng thuận và
tương kính. Hoặc v́ không muốn hoặc v́ không
được phép, họ đă không t́m kiếm uy
quyền để khống chế lẫn nhau mà
chỉ thi đua nhau làm giầu trong một luật
chơi công bằng ”.
Quy phát triển kinh tế là
cốt lơi của phát triển hay phát triển chỉ
là một vấn đề văn hoá xă hội,
phải chăng chỉ là những thái cực khác nhau
khi xem xét vấn đề phát triển của xă
hội ?
Tôi ghi nhận một diễn
giải bằng h́nh tượng ngắn gọn và
đơn giản của thạc sỹ-bác sỹ
Phạm Hồng Sơn như sau : “ Chúng tôi thiển
nghĩ, một đất nước phát triển,
phải là một đất nước phát triển
cả về kinh tế và tư tưởng, cũng
như một con người không chỉ chú ư
đến việc bồi bổ thể lực cơ
bắp mà quên đi phát triển tinh thần, trí
tuệ. Mà để phát triển tinh thần, trí
tuệ th́ không có con đường nào khác tốt
hơn là để con người đó
được tiếp xúc, trao đổi, va chạm
với xă hội xung quanh trong đó có các cá thể và
thiên nhiên rộng lớn ”.
Trong lịch sử cận
đại, Hà lan được xem là đất
nước phát triển sớm nhất. Sau đó
mới đến Anh, Hoa kỳ, Nhật bản.
Người ta nói thế kỷ 17 là thế kỷ Hà
lan, thế kỷ 18 là thế kỷ Anh. Từ thế
kỷ 19, Hoa kỳ lên ngôi bá chủ hoàn cầu. Tiếp
sau đó, Nhật bản đă vươn lên mạnh
mẽ như một hiện tượng thần
kỳ.
Dựa trên thuyết phát
triển nẩy sinh “ do một sự t́nh cờ
của hoàn cảnh lịch sử, bộ máy chính
quyền trở thành vắng mặt ”, ông Nguyễn Gia
Kiểng giải thích sự phát triển sớm và
rực rỡ của Hà lan lúc ấy chủ yếu là
do Hà lan không bị cai trị bởi một ông vua hay
một lănh chúa mà chỉ bởi một “đại
thường trú ” cư ngụ tại một ṭa nhà
được dựng ra chỉ để giải
quyết các vấn đề hành chính tối cần
thiết. Ông nói, trong hoàn cảnh như thế “ Những người Hà lan
không thể có vinh quang được làm vương,
làm tướng, họ chỉ c̣n một lư
tưởng là làm giầu ”.
Trước đó, giải thích
sự phát triển của Hà lan, Montesquieu lại cho
rằng, do bị thiên nhiên ngược đăi nên
đất nước này phải phấn đấu
để tiến lên, và để tiến lên th́
cần có tự do. Khác với các dân tộc Nam Á v́
được ngủ trên nệm êm thiên nhiên ưu
đăi nên không cần phấn đấu, dù cam chịu
kiếp nộ lệ.
Max Oebe th́ cho rằng sự phát
triển của Hà lan và của Anh, Mỹ sau đó là
nhờ quốc đạo Tin Lành ở xứ này
năng động và cởi mở hơn đạo
Công giáo.
Thuyết phát triển dựa
vào những phấn đấu vượt bậc
của các quốc gia phải vật lộn để
khắc phục t́nh trạng bị thiên nhiên
ngược đăi không tồn tại được
trước câu hỏi v́ sao Hoa kỳ với
đất đai trù phú, tài nguyên dồi dào,
điều kiện sinh sống dễ dăi đă phát
triển rất mạnh mẽ, trong khi các nước
có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, tài
nguyên không phong phú như Mali, Etiopia, Bangladesh lại nghèo
nàn, lạc hậu măi. Nói rằng nước Nhật
phát triển mạnh v́ người Nhật bắt
buộc phải sản xuất nhiều để
xuất cảng lấy ngoại tệ mua nguyên
liệu và nhiên liệu th́ giải thích ra sao
trường hợp nước Anh trở nên hùng cường
nhờ than đá và sắt. …
T́m nguyên nhân phát triển trong
các trường hợp trên dễ bị rơi vào
một bài toán đa nghiệm rất khó quy kết
mối liên quan giữa nghiệm số với các
ẩn số. Bài toán sẽ trở nên đơn
nghiệm trước các câu hỏi : v́ sao xuất phát
từ cùng một nền văn hoá, một tâm lư dân
tộc, một điều kiện thiên nhiên mà Nam Hàn
đă trở thành một con Rồng, trong khi Bắc
Triều Tiên ngày một kiệt quệ, dân chúng đói
khổ vật vờ bên những ḷ phản ừng
nguyên tử lăm lăm đe doạ chế tạo
vũ khí hạt nhân ? ( Hai miền bán đảo này
không chỉ cách biệt về đời sống kinh
tế mà cả về đời sống tinh thần. Người
dân Việt Nam rất mê và được xem rất
nhiều phim Hàn quốc nhưng không thích xem và hầu
như không có phim Bắc Triều Tiên để mà xem ).
Cũng câu hỏi trên đem
đặt ra cho các trường hợp giữa Trung
quốc với Đài loan và Hồng kông, giữa Tây
Đức với Đông Đức, câu trả
lời đơn nhất sẽ nhận
được là : Sở dĩ Tây Đức phát
triển hơn Đông Đức, Đài loan và
Hồng kông giầu có
hơn Trung quốc, Nam Hàn phồn vinh hơn Bắc
Triều Tiên v́ Tây Đức, Nam Hàn, Đài loan,
Hồng kông đều dân chủ hơn Trung quốc,
Đông Đức, Bắc Triều Tiên.
Dẫn chứng để minh
định kết luận trên c̣n có thể
được nêu lên từ ngay các nước quanh vùng
Đông Nam Á. Với các hoàn cảnh tự nhiên và
chủng tộc na ná như nhau nhưng xét tŕnh
độ phát triển, dễ dàng nhận thấy
Singapor, Thái lan, Malaysia là đối cảnh của
Myanma, Lào, Kampuchía, Việt Nam và trên một bậc so
với Indonesia, Philipine. T́nh trạng đối
cảnh gây nên do nhóm nước này có chế độ
dân chủ, nhóm nước kia không. T́nh trạng phát triển
cao thấp chênh lệch nhau liên quan tới chất
lượng và tŕnh độ dân chủ ở các nhóm
nước.
Từ một làng đánh cá
khoảng 100 dân, Singapor được thành lập bởi
một người Anh từ thế kỷ 19 và
chưa hề biết tới một tổ chức xă
hội nào khác ngoài khuôn mẫu tự do dân chủ
phương Tây. Chính quyền Singapor nằm trong tay
quốc hội h́nh thành từ bầu cử tự do.
và quốc hội chỉ định thủ
tướng. Ở Singapor tuy đảng Nhân dân Hành
động cầm quyền liên tục suốt từ
ngày độc lập đến nay nhưng các
đảng đối lập không bị cấm,
người đối lập không bị trấn áp,
báo chí tư nhân được tự do phát hành …. Singapor
là một nước có luật lệ khe khắt
nhưng cái cơ bản là luật pháp tại đây
được áp dụng nghiêm ngặt và ngang bằng
cho mọi đối tượng xă hội, không
kể đảng viên hay ngoài đảng, không kể
quan chức hay dân thường …
Ông Lư Quang Diệu lớn
tiếng phê phán dân chủ, nhân quyền phương
Tây, đề cao các giá trị Châu Á là chỉ cốt
tỏ vẻ có tư tưởng độc lập
của một lănh tụ Đông Nam Á. Thực tế,
hơn tất cả mọi nước Đông Nam Á,
hơn cả Hồng kông, Singapor là nước châu Á
bị Tây phương hoá nặng nhất. Mọi
người Singapor đều thạo tiếng Anh mà
quên tiếng mẹ đẻ Trung quốc của ḿnh. Ngay
cả Lư Quang Diệu cũng nói tiếng Anh trơn tru
hơn tiếng Trung quốc, và trong suốt cuộc
đời làm thủ tướng ông đă cố
gắng học và làm theo phương Tây tối đa. Chỉ
đến khi về già ông mới bầy tỏ
muộn màng đôi chút vương vấn với
nguồn cội Trung Hoa của ḿnh.
Chế độ độc
tài quân phiệt Thái lan tồn tại suốt 60 năm
dựa trên một liên minh vững chắc giữa quân
phiệt, tài phiệt và nhà vua. Liên minh này vừa có quân
lực, vừa khống chế được tài
chính, vừa có quyền uy thế tử. Nhưng,
năm 1932, sau một cuộc đảo chính buộc
vua Thái chấp nhận chế độ quân chủ
lập hiến, nhường thực quyền cho
một chính phủ xuất phát từ một quốc
hội do dân bầu. Tuy Thái lan có biểu hiện quân
quyền, các nhóm tướng lĩnh thường
đảo chính nhau để tranh giành quyền
lực, nhưng Thái lan tôn trọng đa nguyên –đa
đảng và tự do ngôn luận. Các cuộc biểu
t́nh tuần hành thường do sinh viên tổ chức. Sinh
viên ào ạt xuống đường chủ yếu
không v́ lư do kinh tế mà v́ lư tưởng tự do, dân
chủ và nhân quyền. Mùa xuân năm 1992, trước
sự sụp đổ của bức tường
Berlin, trong ngọn gió dân chủ ào ạt quật nát các
chế độ cộng sản độc tài Liên xô,
Đông Âu và nhân v́ một cuộc bầu cử gian
dối trong nước, sinh viên Thái lan đă rầm
rập xuống đường lật đổ
chế độ quân phiêt. Từ đó Thái lan càng
khởi sắc, kinh tế phát triển càng mạnh,
nâng cánh con rồng Thái Lan bay lên.
Malaysia được
chuyển từ tay Bồ Đào nha cho Hà lan từ
năm 1641. Năm 1795, Hà lan lại phải
nhường Malaysia và vùng Bắc Bornéo cho đế
quốc Anh để rút về cố thủ quần
đảo Indonesia. Năm 1891, Liên Bang Malaysia
được thành lập dưới quyền cai
trị của Anh. Năm 1957, sau khi kư kết một
hiệp ước quân sự, Anh đă trả lại
độc lập cho Malaysia. Malaysia có 55% dân gốc
người Bumiputra, với hơn 30% dân số gốc
Trung Hoa và khoảng 10% gốc Ấn độ,
nhưng v́ là một quốc gia hoàn toàn được
tạo dựng và cai trị suốt thời gian dài
bởi các nước phương Tây tiên tiến nên
thiết chế xă hội, tinh thần luật pháp,
tư tưởng tự do dân chủ đều chi
phối bởi phương Tây. Chế độ chính
trị của Malaysia tuy là quân chủ lập hiến
nhưng rất ít ai biết đến vua, mà ở
đây có tất cả những yếu tố cốt
lơi của dân chủ : tự do ngôn luận, tự do
kết hợp, tự do bầu cử và ứng
cử. Các chính đảng cũng được
hoạt động tự do. Hỗn hợp chủng
tộc trong một quốc gia như Malaysia tồn
tại vững bền được chính nhờ tinh
thần dân chủ. Nhờ tinh thần dân chủ mà
người Hoa nhường nhịn người
Bumiputra, người Bumiputra chấp nhận
người Hoa và người Ấn. Nhờ có dân
chủ, chẳng những thế, Malaysia c̣n vươn
lên thành một cường quốc ở Đông Nam
Á.
Minh chứng điển h́nh
nhất cho thuyết phát triển nhờ dân chủ là
trường hợp của Hoa kỳ.
Năm 1492, Colombus là
người đầu tiên đặt chân lên châu
Mỹ nhưng đến năm 1499, nhà hàng hải Ư
Amerigo Vespaci mới đến Nam Mỹ và đặt
tên Amerigo cho lục địa này. Từ đấy các
vua Tây Ban nha, Pháp, Anh …lần lượt xua quân
đến đây chiếm đất. Năm 1535 Pháp
chiếm miền Saint Lawrence thành lập nên New France. Năm
1539 Tây Ban nha tới Florida. Năm 1587, Anh lập Virginia
…. Lục địa Mỹ có nguy cơ bị chia
năm xẻ bẩy, không bao giờ hợp nhất
được bởi rất nhiều chủng
tộc, sắc tộc, rất nhiều tôn giáo tín
ngưỡng và các yếu tố văn hoá hoàn toàn khác
biệt.
May sao ư thức cộng
đồng ở đây đă sớm được
dấy lên từ “ Kết ước Mayflower ”. Năm
1620 một nhóm Tân giáo phái Calvin đă rời bỏ Anh
quốc t́m sang châu Mỹ để được
tự do hành đạo. Khi con tàu Mayflower của họ
cập bến, cả lănh thổ Hoa kỳ bao la lúc
ấy chỉ vỏn vẹn vài ngàn người da
trắng. Họ cũng phải đương
đầu với những khó khăn gian khổ
như những lớp người đến
trước đă từng bị mất tích, phải
làm nhà trong hoang vu, khai hoang để trồng trọt,
săn bắt, chống chọi với người da
đỏ, bệnh tật, đói rét … Khoảng 40
người đă rủ nhau đi lập nghiệp
tại Massachussetts. Để chung lưng đấu
cật đương đầu với muôn vàn khó
khăn gian khổ, họ phải thảo chung với
nhau bản “ Kết ước Mayflower”. Bản
kết ước cộng đồng sơ khai này
đă mang tinh thần tuyên ngôn thành lập một xă
hội tự do dân chủ pháp trị sơ khởi
tại Hoa kỳ. Kết ước có các đoạn
ghi như sau : “ …Chúng tôi
thoả thuận thành lập với nhau một tập
thể … Mỗi khi thấy cần thiết cho phúc
lợi chung, chúng tôi sẽ làm ra và ban hành các luật
lệ đúng đắn và đồng đều cho
tất cả, và chúng tôi sẽ tuân phục những
luật lệ đó”. Tinh thần “ Kết
ước Mayflower ” sau này thấm cả vào bản
Tuyên ngôn Độc lập 1789 dắt dẫn
đất nước Hoa kỳ từ sơ khai qua
suốt chiều dài lịch sử gắn bó chặt
chẽ với chế độ dân chủ. Khi mới
tuyên bố độc lâp, Hoa kỳ chỉ có 2,5
triệu dân lắp ghép từ những khối
người xa lạ đến từ nhiều lănh
thổ, nhiều châu lục khác nhau, nghèo khổ,
nhếch nhác, phần lớn không biết đọc
biết viết. Dân chủ và tự do đă dần
dần gắn kết họ lại, hỗ trợ
nhau, khuyến khích nhau lao động sáng tạo. Một
thế kỷ sau, năm 1890, họ đă trở thành
quốc gia tiến bộ nhất gồm 63 triệu
dân. Trong nhiều thập kỷ qua, và cho tới nay,
họ vẫn là một siêu cường hàng đầu
thế giới.
Trên đây đă chứng minh
các quốc gia phồn vinh đều có chế
độ dân chủ, nhưng, giữa dân chủ và phát
triển, cái nào có trước, cái nào có sau ? Có
người nói dân chủ phải là tiền
đề, thậm chí là tiên quyết duy nhất cho phát
triển. Ngược lại, một số
người khác, đặc biệt ở Việt Nam
hiện nay, cho rằng dân chủ phải đến
sau. Phải đợi phát triển kinh tế đă,
rồi từ từ mới có dân chủ
được.
Nói phải có dân chủ rồi
mới phát triển được th́ không thể
giải thích v́ sao Tần Thuỷ Hoàng xây
được Vạn lư Trường thành, v́ sao Hitler
đă từng uy hiếp được cả châu Âu ? Cũng
không giải thích nổi hiện tượng Trung
quốc và Ấn độ. Đây là hai nước
cùng có quy mô dân số nhất nh́ thế giới. Ấn
Độ trở thành nước dân chủ từ
năm 1947, ngược lại, Trung quốc đă
chọn chế độ cộng sản độc
tài từ năm 1949. Vậy mà Trung quốc đă
hơn hẳn Ấn độ trong lĩnh vực kinh
tế, kể cả nông nghiệp lẫn công
nghiệp.
Cho nên phải nói dân
chủ tŕnh độ nào và phát triển kiểu nào ? Có
phát triển lành mạnh và phát triển bệnh
hoạn, phát triển bền vững và phát triển
đoản thời.
Thiếu dân chủ th́ không
thể phát triển bền vững. Trong lịch
sử Trung quốc, nhà Tần chỉ tồn tại 14
năm, trong khi nhà Hán 426 năm, nhà Đường 289
năm … Liên bang cộng hoà xă hội chủ nghĩa xô
viết Nga chỉ tồn tại 72 năm trong khi
Hợp Chủng quốc Hoa kỳ bền vững
đă hơn 200 năm.
Thiếu dân chủ th́ không
thể phát triển lành mạnh. Sau khi đổi
mới, kinh tế Việt Nam tiến vọt hẳn
lên so với những năm u ám trước đó
để đạt tốc độ tăng
trưởng vào loại cao nhất thế giới. Nhưng,
xét trong tổng thể, không thể nói Việt Nam
đang phát triển lành mạnh. Việt Nam hiện là
nước có chỉ số kinh tế tự do vào hàng
kém nhất thế giới ( xếp hạng 137/161
nước ), Việt Nam hiện là một trong
những nước có khả năng cạnh tranh kém
nhất thế giới
( xếp hạng 77/104 nước), Việt Nam
hiện là một trong những nước tham nhũng
nhất thế giới ( xếp hạng 94/143 nước
), Việt Nam hiện vẫn c̣n được xếp
hạng kém nhất thế giới về chỉ
số phát triển con người ( xếp hạng
112/177 nước ), Việt Nam hiện là một trong
những nước có chỉ số tự do báo chí
tồi tệ nhất thế giới ( xếp hạng
135/143 nước ) …
Sở dĩ như
vậy v́ Việt Nam hiện là một trong những
nước mất dân chủ nhất thế giới (
xếp hạng 138/143 nước ).
Thiếu dân chủ nên
phát triển bệnh hoạn. V́ phát triển bệnh
hoạn nên mới có t́nh trạng công nhân ( giai cấp
lănh đạo cách mạng ) làm ăn đầu
tắt mặt tối chỉ được từ 4
trăm ngàn đến trên dứơi một triệu
đồng lương tháng, trong khi có quan chức nhà
nước bỏ ra 120 tỷ đồng ( 7 triệu
đôla ) đánh bạc trong vài tháng. V́ phát triển
bệnh hoạn nên mới có t́nh trạng trên lừa
dưới ( XHCN là con đường Bác Hồ và nhân
dân ta đă chọn. Dân chủ XHCN gấp triệu
lần … ), dưới dối trên ( 90% tiến sỹ
giả hoặc tồi dở. Học sinh ngồi trong
lớp 6 vẫn không biết đọc biết
viết…). V́ phát triển bệnh hoạn nên số
tử vong và thương tích hàng năm trong giao thông
vận tải lớn hơn rất nhiều lần
các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. V́ phát
triển bệnh hoạn nên tài nguyên thiên nhiên bị
khai thác vô tội vạ, môi trường bị huỷ
hoại ghê gớm (
sông không c̣n là sông, núi lở, đất nhiễm
mặn, lũ lụt tàn phá… ) …
Chỉ có dân chủ mới
mở đường và bảo đảm cho phát
triển lành mạnh và bền vững. Đến
lượt ḿnh, phát triển càng cao lại bảo
đảm cho dân chủ càng có chất lượng
tốt hơn, tŕnh độ cao hơn
Ta từng đă thấy trong
tự nhiên, phát triển là quá tŕnh vận động
từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, mà nét đặc trưng là
cái cũ dần dần được thay thế
bởi cái mới. Phát triển là một quá tŕnh
nội tại: bước phát triển từ thấp
lên cao xẩy ra bởi v́ trong cái thấp đă chứa
đựng dưới dạng tiềm tàng những
khuynh hướng dẫn tới cái cao, c̣n cái cao là cái
thấp đă phát triển. Coi sự phát triển
chỉ là sự tăng lên hoặc giảm bớt
một cách giản đơn những đặc tính
ban đầu của một hiện tượng nào
đó, không quan tâm đầy đủ sự
chuyển hoá những biến đổi về
lượng thành những biến đổi về
chất sẽ đưa đến những nhận
định phiến diện, không biện chứng.
Trong xă hội cũng
vậy, dân chủ và phát triển vừa là nhân, vừa
là quả của nhau. Ở giai đoạn này, cái này là
nhân của cái kia, và sau đó, ngược lại. Dân
chủ và phát triển nương tựa vào nhau,
bồi bổ cho nhau cứ thế dưa các cộng
đồng dân cư, đưa nhân loại không
ngừng tiến tới.
Dù phải thừa nhận dân
chủ dẫn tới phát triển lành mạnh và
bền vững nhưng một số người,
đặc biệt quư vị lănh đạo và giới
tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay
lại thường hù doạ: phát triển do dân
chủ thường dẫn đến mất ổn
định.
Nhưng, thử
hỏi mất ổn định cái ǵ kia chứ ? Mất
ổn định chính trị ư ? Mất ổn
định chính quyền ư ? Người dân cần
ổn định xă hội hơn ổn định
chính trị, ổn định chính quyền. Ổn
định xă hội là ổn định cho muôn dân, v́
muôn dân; ổn định chính
trị là thứ ổn định mà người ta
đang ngoan cố duy tŕ bằng mọi giá : tuyên
truyền lừa bịp, hù doạ, trấn áp, tù
đầy, kể cả sẵn sàng tàn sát hàng trăm,
hàng ngh́n người như kiểu Thiên An môn. Ở
Việt Nam hiện nay, ổn định chính trị
nghĩa là phải cam chịu măi cái cùm Marx-Lenin, cái gông
giai cấp công nhân lănh đạo … Biết rằng
những điều ấy đă quá bất hợp lư
và cực kỳ nguy hại rồi, nhưng
người ta vẫn cứ phải, dù biết là
vờ vĩnh, hô toáng lên như vậy. Bởi lẽ,
chỉ có như vậy mới có lư để áp
đặt cho được vai tṛ lănh đạo
tuyệt đối của đảng CSVN. Quan
trọng hơn, cụ thể hơn là, duy tŕ cho
được cái ghế ăn trên ngồi trốc
của tập đoàn người nào đó.
Trong thực tế, ổn định chính trị, ổn
định chính quyền, thường đối
lập với ổn định xă hội. Để
ổn định chính quyền, dưới thời
Stalin, từ năm 1929 đến 1953 khoảng 15
đến 20 triệu người dân Liên Xô đă
thiệt mạng trong các trại tập trung Gulag. Để
ổn định chính trị, hơn ba chục
triệu người Trung quốc đă chết trong
chế dộ cộng sản ( Thổ cải, Cách
mạng Văn hoá, Thiên An môn … ). Để ổn
định chính trị, dù chỉ trong thời gian
rất ngắn, 2 035 000 người dân Kampuchia đă
chết dưới thời Khme Đỏ …
Ở các nước dân chủ
đă kể ở trên, đặc biệt Hoa kỳ,
ổn định xă hội được duy tŕ
rất bền vững. Hiến pháp, nền tảng
luật pháp, nền tảng đạo lư …
được duy tŕ cơ bản trong suốt
chiều dài lịch sử chế độ dân chủ
ở các nước này. Tuyên ngôn Độc lập 1789
của Hoa kỳ trường tồn và vẫn giữ
nguyên giá trị cho đến ngày nay. Nhiều thủ
tướng, nhiều tổng thống đă bị ám
sát, quốc hội, chính phủ có thể đột
nhiên bị giải tán, biểu t́nh, bạo động
có thể nổ ra thường xuyên … nhưng không có
tàn sát lớn, chế độ chính trị không bị
tiêu tan, nhà nước không sụp đổ.
Ổn định xă
hội trong các chế độ cộng sản
thực ra là ổn định giả tạo, ổn
đinh bức bối. Kiểu ổn định này
không những ḱm hăm phát triển xă hội mà không
ngừng tích luỹ những hiểm hoạ khôn
lường. Chính v́ thế các trạng thái ổn
định này không thể tồn tai lâu dài.
Xă hội cũng như tự
nhiên vậy. Sự vật phải luôn luôn
được tự do vận động, vận
động để chuyển hoá, để tiến
lên. Nồi nước nếu không muốn cam chịu
lạnh ngắt, phải được đun lên
để được nóng, được bốc
hơi, được thăng hoa. Vật chất
ở thể hơi là tự do hơn thể lỏng. Muốn
vậy nồi phải được mở ra
để sôi tự do. Trong trạng thái sôi tự do,
tất cả đều chuyển vần, đặc
biệt, phần trên mặt càng xáo động, bong bóng
liên tiếp được h́nh thành, liên tiếp bị
nổ vỡ. Nếu bít chặt không cho sôi, từ bên
ngoài thấy rất yên ắng, rất ổn
định, nhưng chẳng bao lâu, b́nh sẽ bị
phá tung. B́nh không c̣n, mà nước cũng không c̣n. ( Cách
mạng phải phá tung b́nh để nhân dân
vượt thoát thể lỏng lạnh lẽo
tiến lên thể khí tự do ). Xă hội cũng
phải tuân theo những quy luật như tự nhiên,
mặt nước càng xao động, bong bóng càng
vỡ nhiều, trạng thái sôi càng tốt,
nước càng dễ bốc hơi mà b́nh vẫn
được bảo toàn.
Các nguyên lư bảo toàn thể
hiện một mặt của mâu thuẫn biện
chứng – mâu thuẫn giữa bảo toàn và biến
đổi. Theo định luật này, năng
lượng không mất đi mà cũng không
được tạo ra khi nó chuyển từ dạng
này sang dạng khác. Nó là biểu hiện của ổn
định toàn cục, là sự xác nhận về tính
bất diệt của vận động.
Cho nên ổn
định bao giờ cũng phải là ổn
định động, bởi v́ ổn định
tĩnh là ổn định huỷ diệt, ổn
định chết. Hăy lấy trường hợp con
vụ ( cái cù ) để liên tưởng. Con vụ
phải xoay mới đứng được, xoay càng
mạnh, đứng càng vững. Không xoay, con vụ
sẽ đổ kềnh.
Dân chủ bảo đảm
nuôi dưỡng một xă hội công dân tích cực. Ở
đấy con người được tôn trọng
thực sự, làm chủ thực sự vận
mệnh của ḿnh và của xă hội. Ở
đấy mọi cá nhân, mọi tổ chức dân chúng
độc lập được tự do phát
biểu, tự do hoạt động, tự do sáng
tạo góp phần tích cực cho xă hội phát triển
năng động, lành mạnh, bền vững trong
thế ổn định động phù hợp
với quy luật của tự nhiên.
V – Các thời đại dân
chủ
Dân chủ không phải là
sản phẩm phát triển của chỉ một
hệ thống xă hội duy nhất nào, không phải là
độc quyền của chế độ nào. Các
nền dân chủ ( trừ dân chủ XHCN ) kế
thừa nhau phát triển ngày càng cao hơn về
chất lượng, ngày càng đông hơn về
chủ thể.. Chương trên đă chứng minh và
kết luận : dân chủ và phát triển vừa là
nhân vừa là quả của nhau, nương tựa vào
nhau, bồi bổ cho nhau đẩy lịch sử
tiến tới. Như vậy, dân chủ đă
xuất hiện từ bên trong lịch sủ và, như
một ḍng sông tư tưởng lớn chảy
suốt quá tŕnh tiến hoá nhân loại : thời cổ
đại với dân chủ ở Hy lạp, thời
trung đại với dân chủ quư tộc và dân
chủ nông dân, thời cận đại với dân
chủ tư bản và dân chủ XHCN.
1
– Dân chủ thời cổ đại -
Người ta thường cho dân chủ Athens là
những biểu hiện dân chủ đầu tiên
của nhân loại. Ba trăm năm trước công
nguyên, tại thành Athens đă có những sinh hoạt dân
chủ. Dân chúng tụ tập ở quảng
trường tranh luận với nhau về mọi
vấn đề, từ việc bầu các vị
thẩm phán, cho đến chính sách quốc gia…, và người
ta bỏ phiếu. Thực ra, trước đó, xă
hội nguyên thuỷ cũng đă là xă hội dân
chủ. Trong cuốn “ Nguồn gốc gia đ́nh, tư
hữu và nhà nước”, F. Engels đă nói đến
những cơ quan có gốc rễ trong nhân dân. Ông cho
rằng toàn bộ chế độ thị tộc là
một tổ chức của các bộ lạc nhằm
giải quyết tự do những công việc của
ḿnh và những cơ quan đó là công cụ có ư chí
của nhân dân. Đấy là biểu hiện của dân
chủ.
2
- Dân chủ trong xă
hội chiếm hữu nô lệ - gồm hai dạng tiêu
biểu :
- Dân chủ Athens. Tại
đây, ngoại trừ những kiều dân, phụ
nữ, nô lệ, tất cả các công dân, các chủ
hộ nam đều đựoc tham gia trực
tiếp vào chính trị.
- Dân chủ Rome – là dân chủ
của quư tộc. Quư tộc thời này không chỉ
gồm những người có của, có chức
sắc mà c̣n là cả những người giỏi
giang, được xem là tinh hoa trong xă hội. Trong khi
dân chủ Athens bị các nhà triết học cổ
đại phê phán là thiếu yếu tố điều
tiết, tức là pháp luật, th́ dân chủ quư tộc
Rome có chế độ chấp chính quan để ḱm
chế nhau. Như vậy trạng thái đối
trọng trên chính trường đă có từ thời
cổ đại chứ không đợi đến các
thời đại dân chủ sau này.
3
- Dân chủ trong xă
hội trung cổ - gồm 3 dạng
:
- Dạng thứ nhất là
Vetche gồm các cuộc họp của các hội
đồng quư tộc, các hội nghị nhân dân
thời cổ và trung đại Nga từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIV nhằm giải
quyết những vấn đề hoà b́nh và chiến
tranh, nhằm tạo điều kiện cho xă hội
tỏ rơ thái độ với các vương công thông
qua các luật lệ, các quyết định và các
cuộc thương thuyết với các địa
phương. Vetche có khi là diễn đàn bảo vệ
quyền lợi của nhân dân, có khi được vua
chúa phong kiến dùng để hạn chế quyền
của các vương công.
- Dạng thứ hai là dân
chủ nghị trường sơ khai ở Tây Âu,
cụ thể là ở Đức. Theo Migrazian, kiểu
nghị trường sơ khai đă có đủ ba
tính chất của dân chủ tư sản tiến
bộ sau này : quyền lực công khai, dân chủ
đại diện, cơ chế kiềm chế,
đối trọng.
- Dạng thứ ba là dân
chủ thị thành, xuất hiện sau cùng trong ḷng xă
hôi trung cổ, gồm các bourg, các tổ chức
phường hội của thợ thủ công và dân
buôn để chống lại thuế má và sự áp
chế của vua chúa.
4
- Dân chủ tư
sản - nẩy
nở từ chủ nghĩa nhân văn thời
Phục hưng và phát triển thành chủ nghĩa duy
lư, dẫn tới cách mạng tư sản. Trước
thời phục hưng, châu Âu ch́m đắm trong
chế độ phong kiến. Tư tưởng
thống trị là tư tưởng phong kiến
với thần học chuyên quyền. Kitô giáo
điều khiển đời sống tinh thần
lẫn cuộc sống trần tục, không có
đời sống tự do cá nhân. Chủ nghĩa nhân
văn tḥi Phục hưng ra đời đă nêu lên
vấn đề con người, đề cao cá nhân,
đặt đúng vị trí con người trong
thế giới vĩ mô, đề cao tư hữu …
Thay cho Kito giáo đề cao
đức Chúa Trời, chủ nghĩa nhân văn
đặt con người vào vị trí ưu tiên. Nhà
nhân văn học Ư J. P. Mirandole nói “ Tôi đọc trong
sách Ảrập rằng người ta không thấy
trên đời này cái ǵ đáng ca ngợi hơn là con
người ”. Dựa vào
các thành tựư khoa học kiệt xuất của
hàng loạt bộ óc vĩ đại như Leonardo da
Vinci, Giorđano Bruno … các nhà tư tưởng Phục
hưng cho rằng : sự sáng tạo của con
người có thể cao hơn tạo hoá.
Chủ nghĩa nhân văn
Phục hưng sớm thấy động lực
của sự tiến bộ xă hội không phải là
thần học, là các tín điều mà là những
lợi ích vật chất. Machiavelli (1469 – 1527 ) tuyên
bố : sự tranh thủ và bảo vệ quyền
tư hữu là động lực mạnh mẽ
nhất của con người. Quyền tư hữu
là một bước nhẩy vọt vĩ đại
cuả con người trên con đường tự
khẳng định và tự giải phóng, là cơ
sở sống c̣n của mỗi con người.
Chủ nghĩa duy lư là xu
hướng triết học lấy lư trí là cơ
sở cho nhận thức và ứng xử của con
người. Theo chủ nghĩa duy lư, lư trí chứ
không phải thực tiễn và kinh nghiệm, không
phải thần thánh, là nguồn gốc của tri
thức và tiêu chuẩn chân lư của nó. Blaise Pascal
định nghĩa: “ Người là cây sậy
biết tư duy ”. Rene Descartes nói : “ Cogito, ergo sum ” ( Tôi
tư duy, tức tôi tồn tại ).
Chủ nghĩa duy lư là một
trong những nguồn gốc triết học của
hệ tư tưởng khai trí với những ư
niệm về tự do, dân chủ, giải phóng con người.
Voltaire cho tự do và tất
yếu không đối lập nhau, độc lập
nhau mà tính tất yếu phổ biến là tiền
đề cho tự do của con người, con
người được tự do khi
được làm cái ḿnh mong muốn. Theo Voltaire,
tự do trong xă hội là hoạt động theo quy
luật, theo pháp luật. Ông chống chế độ
nông nô, đấu tranh cho sự b́nh đẳng của
công dân trước pháp luật
Denis Diderot lên án những hủ
bại của chế độ Nga hoàng, chủ
trương chế độ cộng hoà, kêu gọi
những kẻ nô lệ hăy khởi nghĩa để
tự giải phóng khỏi ách thống trị
cường quyền. Ông chủ trương kết
hợp thật hợp lư “ lợi ích cá nhân con
người với lợi ích xă hội ”.
Tư tưởng vĩ
đại của Montesquieu chứa đựng trong
bộ sách đồ sộ 31 cuốn : “ Tinh thần
pháp luật ” được tái bản 20 lần khi ông
c̣n sống. Montesquieu trở thành kẻ thù nguy hiểm
nhất của chế độ chuyên chế là do ông
rất thực tế với lư luận phân biệt ba
quyền : quyền lực hạn chế quyền
lực do trật tự các sự vật, đó là
phương châm cơ bản của bộ “ Tinh
thần pháp luật”. Ảnh hưởng của
bộ sách rất lớn. Từ tư tưởng quân
chủ tự do đă xuất hiện nền quân
chủ hạn chế rồi đến quân chủ
theo nghi viện. Lối phân loại của Montesquieu c̣n
dẫn đến chế độ cộng hoà có
tổng thống sau này ở Hoa kỳ. Ngày nay tư
tưởng phân lập quyền lực của
Montesquieu vẫn là ngọn đuốc sáng cho các
chế độ chính trị tiên tiến ngăn
ngừa độc quyền độc đoán.
J. J. Rousseau cho rằng
để kẻ mạnh không thể cưỡng
bức người yếu phục tùng cần làm sao
cho đồng thời chẳng ai phải phục tùng
chủ và cũng chẳng ai có quyền bắt kẻ
khác phải phục tùng ḿnh cần chuyển giao
quyền lực. Chuyển quyền lực của quân
vương, của một người cho tất
cả, cho nhân dân. Ông viết trong “ Khế ước
xă hội ” : “ Mỗi
người chúng ta đặt chung cá nhân ḿnh và toàn
bộ sức mạnh của ḿnh dưới sự
chỉ đạo tối cao của ư chí chung ”. Với
lư luận về khế ước, tư tưởng
của Rousseau xem trọng cả về b́nh đẳng
và tự do nên được các lănh tụ cách mạng
1789 hưởng ứng nhiệt liệt, nhất là
đối với các đoạn như: “ Tư tưởng về
những đại biểu là hiện đại; nó
chẳng đến với ta từ chính quyền phong
kiến, từ chính quyền bất công và vô lư, trong đó,
loài người bị giáng cấp và ở đó tên con
người bị làm nhục. Trong các nước
cộng hoà cổ và ngay cả trong nền quân chủ,
chưa bao giờ nhân dân có đại biểu. Người
ta chưa hề biết từ ngữ ấy ”.
Lư luận về khế
ước ngày nay vẫn c̣n được nhắc
đến khi bàn về dân chủ ; tư tưởng tự
do của Rousseau vẫn nguyên vẹn v́ theo ông, tuân theo
mọi người là chẳng tuân theo ai cả khi
mỗi người là bộ phận của toàn
thể.
Tư tưởng của các
nhà dân chủ Khai trí thấm sâu vào giới trí thức
rồi lan toả ra quần chúng qua các pḥng trà, tiệm
cà phê và các câu lạc bộ dẫn đến cao trào
cách mạng 1789 – 1794 mở đầu bằng hai
sự kiện nổi bật : việc phá ngục
Bastilles ( 14-7-1789 ) giành lấy tự do, và đêm
4-8-1789, đốt sạch các văn tự, bắt
đầu xoá bỏ đặc quyền đặc
lợi phong kiến, giành lấy b́nh đẳng.. Hai
mươi hai ngày sau, Quốc hội lập hiến
Pháp trịnh trọng công bố Tuyên ngôn nhân quyền và
quyền công dân.
Tinh thần dân chủ tư
sản loang rộng nhanh chóng trên bản đồ
thế giới thúc đẩy nhịp độ phát
triển quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Vào
năm 1980 trên thế giới c̣n có 56% nhân loại
sống trong cảnh nghèo ở mức dưới 2USD
( 30 ngàn đồng VN ) /ngày, đến năm 2000 tư
số đó chỉ c̣n 22%.. Bởi v́, năm 1980, theo
báo cáo của Ủy hội Nhân quyền Liên Hiệp
quốc có 81 quốc gia đă tiến bước trên
đường dân chủ hoá đáng kể, trong đó
có 31 nước đổi từ chế độ
quân phiệt sang chế độ dân chủ. Có 140
quốc gia trong số khoảng 200 nước trong
thế giới hiện đă có bầu cử
tương đối tự do, và 81 quốc gia trong
số đó thực sự có tự do.
6
- Dân chủ xă hội
chủ nghĩa –
Lên án dân chủ tư sản là
dân chủ h́nh thức, các lư thuyết gia Marxist cho
rằng dân chủ XHCN thực chất hơn, ưu
việt hơn v́ cơ sở kinh tế của nó là
sở hữu xă hội về tư liệu sản
xuất. Người ta hùng hồn tuyên bố rằng
: Dân chủ XHCN là nền dân chủ cao nhất trong
lịch sử loài người; dân chủ XHCN là
triệu lần hơn dân chủ tư sản.
Lịch sử đă
chứng minh, thực tế không phải vậy.
Nói dân chủ XHCN là nền dân
chủ cao nhất v́ nó dựa trên sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất cho nên có
thể h́nh thành “ư chí chung và duy nhất ”. Điều
này là không tưởng v́ như đă thấy tại
các nước XHCN, cho dù giai cấp không c̣n nữa th́
vẫn c̣n quyền lợi của các dân tộc,
sắc tộc, giai tầng, tôn giáo, tín ngưỡng…
khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau gay gắt. Dân
chủ XHCN cũng không hề là của số đông
trong xă hội. Dân chủ XHCN trước hết là
của giai cấp công nhân, nhưng giai cấp công nhân
ở các nước XHCN, nhất là ở Việt Nam,
chỉ là một số ít trong dân số. Cơ sở
vật chất -kỹ thuật vào tay giai cấp công
nhân là một trong những điều kiện thực
thi dân chủ của công nhân nhưng không nên quên
rằng có hai loại quyền dân chủ. Có loại
quyền dân chủ phải dựa trên cơ sở
vật chất kỹ thuật để thực thi,
nhưng có loại quyền dân chủ không, hoặc ít
liên quan đến cơ sở vật chất- kỹ
thuật ( nhưng nhiều khi thiêng liêng hơn ) như
: tự do tư tưởng, tự do ngôn luận,
tự do tín ngưỡng, tự do đi lại …. Tự
do cũng có hai loại : tự do để ( liberté pour
) như quyền tự do mưu cầu hạnh phúc và
quyền tự do chống ( liberté contre ), chống
lại sự xúc phạm vô cớ của xă hội và
của nhà nước vào cá nhân. Thiếu quyền
tự do này th́ tuy roi vọt không quật vào lưng con
người, nhưng nỗi đau ṿ xé tận tâm can
họ, đặc biệt là với trí thức. Trong
cuốn các tự do công cộng, J. Rivero giải thích
nguyên nhân chính của của hiện tượng ly khai
và trốn chạy khỏi các nước XHCN là do “ Sự thiếu quyền
tự do lựa chọn cũng đủ để
làm cho cuộc sống trở thành không thể chịu
đựng nổi đối với những ai
đ̣i hỏi được sống và suy nghĩ
độc lập ”.
Dân chủ XHCN
được xem là đồng nhất với chuyên
chính vô sản. Hăy nghe Engels nói trong cuốn “ Những nguyên lư
của chủ nghĩa cộng sản ” : “Đối với giai
cấp vô sản, chế độ dân chủ sẽ
trở nên hoàn toàn vô ích nếu nó không được
dùng ngay lập tức làm phương tiện
để thi hành những biện pháp rộng răi
trực tiếp đánh vào chế độ tư
hữu và bảo đảm sự sinh sống của giai
cấp vô sản ”. C̣n Lenin th́ khẳng định :
“ Chuyên chính là một chính
quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và
không bị một luật pháp nào hạn chế
cả. Chuyên chính cách mạng của giai cáp vô sản là
một chính quyền do giai cấp vô sản giành
được và duy tŕ bằng bạo lực
đối với giai cấp tư sản, chính
quyền không bị một luật pháp nào hạn
chế cả ”. Lenin đă viết như vậy và
đă trực tiếp ra lệnh : “ Lợi dụng nạn đói Nga để
lột trần các giáo sỹ Nga và làm cho họ sợ
đến 50 năm nữa ”.
Nói dân chủ XHCN triệu
lần hơn dân chủ tư bản v́ nó tạo
điều kiện cho sự “ nở hoa ” của con
người nhưng thực tế con người
mất quyền tự do ngôn luận, mất quyền
tự do tư tưởng mà chỉ được
nhất nhất phục tùng hệ tư tưởng
cùng với Đảng. Đă có một thời nhà
văn không viết theo hiện thực XHCN th́ bị
đào thải, bị đầy đoạ ( Lenin
đă từng mắng nhà văn thiên tài Nga V.G. Korolenko “
Không phải là trí tuệ mà là cục phân của dân
tộc ” ), nông học phải theo Mítsurin- Lưsenko, bác
sỹ chỉ được chữa bệnh tâm
thần theo phương pháp Paplov …
VI – Dân chủ cho Việt Nam
1 -
Việt Nam vốn là một nước có truyền
thống dân chủ.
Triệu Đà chiếm
được nước Âu Lạc của Thục An
Dương Vương, sát nhập vào với hai
tỉnh Quảng Đông , Quảng Tây lập ra
nước Nam Việt và đem Khổng giáo vào
Việt Nam.
Theo Khổng tử, dân chỉ
là một tập hợp đa số vô danh, hầu
như không bao giờ được tính đến
với tư cách là cá nhân cụ thể. Khổng
tử dạy thiên hạ rằng : chủ của
thế giới là trời, chủ của xă hội là
thiên tử “ đại thiên hành hóa, thế thiên hành
đạo ”. Dưới thiên tử là chư hầu
rồi đến sĩ đại phu; cuối cùng
mới là dân. Trong xă hội chỉ có những thần
dân là tôi tớ của vua quan.
May sao, thế kỷ XI –XVII, bên
cạnh Nho giáo, và đặc biệt là khi Nho giáo thoái
trào th́ hai giáo lư khác : đạo Phật và đạo
Lăo tồn tại gần như đồng đẳng,
thậm chí triều Lư c̣n xem Phật giáo là quốc
đạo.
Phật giáo ngoài tính nhân bản
c̣n chứa đựng những tiền đề lư
thuyết và trong hoạt động thực tiễn có
nhiều biểu hiện nguyên tắc công bằng, b́nh
đẳng - một trong những cốt lơi của dân
chủ. Một tâp đoàn sống theo lối dân chủ
cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại
chính là tăng đoàn sống vào thời Phật Thích
Ca vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Thế
kỷ thứ 3 trước công nguyên, vua Asoca đă
triệu tập những cuộc họp thảo
luận về giáo lư với các “quy tắc nghị
hội ” đă được ấn định giúp
cuộc thảo luận tiến hành dân chủ và
trật tự. Về sức cảm hoá hoà đồng
của đạo Phật, ở Việt Nam, văn bia
chùa Chiêu Phúc –Hà Bắc c̣n ghi: “ Nhà Phật lấy họa phúc để cảm
động ḷng người, sao mà được ḷng
người tin đến thế.. Trên từ
Vương công, dưới đến dân
thường, hễ bố trí đến việc nhà
Phật dù hết tiền vẫn không sẻn tiếc”.
Đạo Lăo thường
được dùng để thu hút nông dân tham gia vào các
cuộc bạo động chống lại
cường hào ác bá địa phương và quan
lại trung ương. Thời Lư Nhân Tông có Lư Giác
cầm đầu cuộc bạo động ở
Diễn Châu, đời Trần Phế Đế có
Nguyễn Bố, đời Hồ có Trần
Đức Huy …Thế vậy đó, nhưng cái tư
tưởng xuất thế và vô vi của Lăo tử
lại lưu truyền trong huyền thọai
Đức Thánh Gióng về một vị anh hùng nông dân
dẹp xong giặc Ân, không màng quyền thế, phóng
ngựa bay lên trời.
Ngoài những pho tiếu lâm,
những nhân vật hề, tinh thần nhân bản, ư
thức chống đối cường quyền
đây đó được thể hiện khá
nhiều trong dân ca và ca dao Việt Nam : “ Người ta
là hoa đất”, “ Thương người như
thể thương thân ”, “ Lệnh ông không bằng
cồng bà …”, “Nhất sỹ nh́ nông, hết gạo
chạy rông, nhất nông nh́ sỹ ”, “ Bầu ơi
thương lấy bí cùng ”… Những mầm tư
tưởng nhân văn ấy c̣n lấp lánh cả trong
Bần nữ thán, Cung óan ngâm khúc, Truyền kỳ
mạn lục, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều …
Sau đêm trường Bắc
thuộc 1000 năm, ở Việt Nam đă xuất
hiện một thể chế dân chủ sơ
đẳng trong các cộng đồng làng xă . Mỗi
làng là một “ vương quốc ” nhỏ khép kín
với luật pháp riêng mà các làng gọi là hương
ước và các “ tiểu triều đ́nh ” riêng, trong
đó hội đồng kỳ mục là cơ quan
lập pháp, lư dịch là cơ quan hành pháp. Sự
biệt lập đó tạo nên truyền thống “ Phép vua thua lệ làng ”,
thể hiện quan hệ dân chủ đặc
biệt giữa nhà nước phong kiến với làng
xă ở Việt Nam. Truyền thống dân chủ này làm
cho, khác với phương Tây và Trung Hoa, nhà
nước phong kiến Việt Nam giống với
làng xă. Ở đây, nước như là sự mở
rộng của làng. Làng ứng xử với nhau theo
t́nh cảm tạo nên truyền thống dân chủ;
nước tuy có tổ chức chặt chẽ hơn
nhưng trên đại thể vẫn duy tŕ truyền
thống dân chủ ấy.
Tính cộng đồng làng xă
là cơ sở tạo nên hàng loạt lĩnh vực
cộng đồng khác: đồng tộc,
đồng niên, đồng nghiệp, đồng
hương …và, trong lĩnh vực quốc gia là
đồng bào. Như vậy, tính cộng đồng
làng xă coi mọi người trong thôn xóm đều là
anh em đă được mở rộng thành ư
thức cộng đồng quốc gia.
Truyền thống dân chủ
giữa lănh đạo với dân chúng Việt Nam duy tŕ
gần như suốt lịch sử. Sử sách Trung
Hoa c̣n ghi những nhận xét về mối quan hệ
vua quan với dân chúng ở Việt Nam là: không phân
biệt rạch ṛi ngôi thứ, các quan lại
địa phương có thể gọi các con hát vào
cùng nắm tay nhảy múa hát ḥ. Một sứ thần
Trung Hoa đến Việt Nam năm 990 đă ghi chép
như sau: “ Lê Hoàn đi chân đất xuống
nước và câu cá bằng một cần câu tre dài. Mỗi
lần nhà vua câu được một con cá th́
quần thần nhẩy lên reo mừng ”. Vua Việt Nam
không quá chuyên chế độc đoán như
phương Tây và tạo cho ḿnh một thế uy nghiêm
của thiên tử như ở Trung Hoa.
Truyền thống dân chủ
cũng được thể hiện trong cả
bộ máy lănh đạo quốc gia. Theo giáo
sư-viện sỹ Trần Ngọc Thêm trong cuốn “
Cơ sở văn hoá Việt Nam ” th́, khởi
nguồn từ tổ chức làng xă với những
h́nh thức Hội đồng Già làng, Hội
đồng Kỳ mục, truyền thống lănh
đạo tập thể ở cấp quốc gia
đă đi từ quan hệ huyết thống như
vua chị-vua em ( Trưng Trắc, Trưng Nhị ), vua
anh-vua em ( Ngô Xương Văn-Ngô Xương Ngập;
ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn
Lữ ); vua cha -vua con với h́nh thức Thái
thượng hoàng ( thời Trần, thời Hồ và
thời Mạc ), đến quan hệ xă hội mang
tính pháp lư vua chúa ( vua Lê-chúa Trịnh ) theo nguyên
tắc “ Hoàng gia giữ
uy phúc, vương phủ giữ quyền bính ” ( vua có
địa vị cao sang nhưng quyền lực
nhỏ, c̣n chúa địa vị thấp hơn
nhưng quyền lực lớn ).
Truyền thống dân chủ
nước ta c̣n được thể hiện trong
việc tuyển chọn người vào bộ máy quan
lại. Với các tước vị công, hầu, bá,
tử, nam, bộ máy quan lại phong kiến
phương Tây thường được bổ
nhiệm theo cha truyền con nối. Ở Việt Nam,
việc bổ nhiệm được tiến hành qua
thi cử. Con nhà nghèo nếu thông minh, thi cử
đỗ đạt đều được bổ
nhiệm làm quan, từ hào lư trong thôn làng đến các
chức quan rất to trong triều đ́nh.
Ở Việt Nam, nhà
nước xuất hiện khá sớm. Vào khoảng
thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên, xă
hội Việt cổ đă có những biến
chuyển nhất định. Trên cơ sở sức
sản xuất phát triển, những yếu tố
mới xuất hiện làm nẩy sinh chế
độ tư hữu không thể hiện
dưới h́nh thức tư hữu về ruộng
đất mà dưới h́nh thức sở hữu nhà
nước. Nhà nước đầu tiên là nhà
nước Văn Lang của các vua Hùng ra đời
vào khoảng thế kỷ thứ VII, thứ VI
trước công nguyên.
Luật pháp Việt Nam cũng
đă h́nh thành từ rất sớm. Trong lời tâu của Mă
Viện gửi vua Hán Quang Vũ sau khi đàn áp cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có đoạn : “
Luật của dân Việt khác luật của người
Hán đến hơn 10 điều ”. Sau khi dẹp yên loạn 12
sứ quân, để củng cố chính quyền, năm
968 Đinh Tiên Hoàng đă ban bố một đạo
luật với những h́nh phạt rất hà khắc.
Ngay giữa sân triều đặt vạc dầu sôi và
chuồng hổ báo. Tội đồ bị ném vào
vạc dầu sôi hoặc thả vào chuồng cho thú
dữ xé xác để uy hiếp người chứng
kiến. Thời Lư có bộ luật H́nh thư gồm
ba quyển do Lư Thần Tông ban hành năm 1042. Thời
Trần có bộ Quốc triều h́nh luật gồm
một quyển ban hành năm 1244. Bộ Quốc
triều h́nh luật đời Lê được
gọi là Luật Hồng Đức do Lê Thánh Tông ban
hành năm 1489 gồm sáu quyển với 722
điều. Bộ Luật Gia Long đời Nguyễn
ban hành năm 1815 và trở thành Hoàng triều luật
lệ.
Luật Hồng Đức
thể hiện tinh thần dân chủ tốt hơn
luật Trung Hoa. Trong khi luật Trung Hoa chú trọng
nhiều đến tôn ti, đẳng cấp ( cha con,
vua tôi …) th́ Luật Hồng Đức giành phần
đáng kể bảo vệ quyền phụ nữ. Luật
Hồng Đức quy định con gái
được hưởng quyền thừa kế tài
sản b́nh đẳng ngang con trai. Con gái, cháu gái
cũng được đảm nhiệm việc
hương khói khi nhà không có con trai, cháu trai. Nếu con
trai trưởng c̣n nhỏ th́ trách nhiệm tế
tự tổ tiên thuộc về bà quả phụ. Phụ
nữ có quyền từ hôn nếu thấy vị hôn
phu bị ác tật, bị phá sản hay là một
tội phạm. Phụ nữ có quyền li dị
nếu trong năm tháng người chồng bỏ
rơi vợ, không đi lại.
Luật Gia Long sao phỏng
luật Trung Hoa nhiều hơn luật Hồng
Đức, tuy nhiên vai tṛ người phụ nữ
vẫn được xem trọng hơn ở Trung
Hoa. Theo luật Trung Hoa đàn ông có được
bẩy cớ (
thất xuất ) để bỏ vợ. Luật
Hồng Đức có sao chép “ thất xuất ”
nhưng bổ sung “ tam bất khả xuất ” ( ba
trường hợp không được ly dị
vợ : đă để tang cha mẹ chồng, đă
làm cho nhà chồng trở nên giầu có, ngoài nhà
chồng ra, không c̣n nơi nương tựa )
để bảo vệ quyền lợi phụ
nữ. Luật Gia Long cũng cấm chồng không
dược bán vợ, không được bắt
vợ làm thuê, không được hạ vợ ḿnh
xuống làm nàng hầu.
Cuối thế kỷ XIX -
đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng
của tư tưởng cách mạng dân chủ Pháp
1789. của cách mạng Trung Hoa 1911 và của Phong trào
Duy Tân Nhật Bản do Minh Trị thiên hoàng chủ
xướng, tư tưởng lập hiến lần
đầu đă xuất hiện trong trí thức
Việt Nam. Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu kiến
nghị ban bố một bản hiến pháp sao cho
vừa bảo đảm được quyền
điều hành đất nước của Hoàng
đế, quyền bảo hộ của chính phủ
Pháp, đồng thời quyền dân chủ cho nhân dân.
Vào năm 1902, tiếp thu tư
tưởng dân chủ tư sản phương Tây và
tư tưởng cải cách đất nước
của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ
Bạch, Phan Chu Trinh đề xướng chủ
trương “ Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh
”, đồng thời đề cao tư tưởng
dân chủ và lập hiến. Ông đ̣i phế bỏ
chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng
chế độ dân chủ.. Ông nói: So sánh hai cái
chế độ quân trj và dân trị ta thấy chủ
nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị
nhiều lắm. Lấy theo ư riêng của một
người hay của triều đ́nh mà trị
một nước th́ cái nước ấy không khác nào
một đàn dê được no ấm vui vẻ hay
đói khát khổ sở tuỳ theo ḷng người
chăn. C̣n theo chủ nghĩa dân trị th́ quốc dân
lập ra hiến pháp, luật , đặt ra các cơ
quan để lo việc chung của cả
nước, ḷng quốc dân thế nào th́ làm thế
ấy, dù không có người tài giỏi th́ cũng không
đến nỗi phải để dân khốn
khổ làm tôi mọi một nhà, một họ nào ”. Ông
phân tỏ : “ Trong
nước có hiến pháp, ai cũng phải tôn
trọng hiến pháp, cái quyền của chính phủ
cũng bởi hiến pháp quy định cho …. Khi có
điều ǵ vi phạm đến pháp luật th́
người nào cũng như người nào, từ
ông tổng thống cho đến một người
nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau ”.
Những khuyến nghị
mạnh mẽ này chưa kịp hiện thực hoá th́
cách mạng Tháng Tám đă nổ ra.
2
- Đẩy mạnh công
cuộc dân chủ hoá đất nước
Các h́nh thái dân chủ, các sinh
hoạt dân chủ đă xuất hiện trong lịch
sử nước ta c̣n sớm hơn cả ở
rất nhiều nước phương Tây. Tư
tưởng dân chủ, tinh thần thượng tôn
pháp luật đă nẩy nở khá sớm và phát
triển ngày một cao từ cổ đại, qua
thời Bắc thuộc đến thời Pháp
thuộc. Tiếc rằng, tất cả đă
chựng lại sau Cách mạng Tháng Tám và ngày càng suy
thoái trong chế độ Cộng hoà Xă hội Chủ
nghiă Việt Nam.
Từ chỗ quyền sở
hữu cá nhân được tôn trọng, đến
bị tước đoạt. Từ chỗ buôn bán,
làm ăn được tự do, đến ngăn
sông, cấm chợ. Từ chỗ báo chí tư nhân
cũng được phát hành, đến cấm
tiệt. Từ chỗ đ́nh, chùa, đền,
miếu, nhà thờ … được xây dựng
khắp làng bản, thôn trang, thị thành, đến
chỗ đây đó bị triệt phá tan hoang. Văn
học hiện thực phê phán đang nở rộ hàng
loạt tác phẩm nổi tiếng của Vũ
Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan … bị bóp chết. Các tổ chức xă hội
tự do : Hội hướng đạo, Hội ái
hữu …. bị giải tán …
Luật pháp không những không
tiếp tục được hoàn thiện mà bị
phế bỏ ! Trường đại học
Luật đă được thành lập hồi Pháp
thuộc bị đóng cửa. Nhiều luật gia
giỏi bị đối xử tồi tệ.
Trong khi ngay từ thượng
cổ La mă Cicero đă viết : “ Chúng ta đều là nô lệ của luật
pháp, v́ thế chúng ta được tự do ” và
chính Karl Marx cũng thừa nhận “ Bộ luật là
kinh thánh tự do của nhân dân ” th́ chủ tịch
Hồ Chí Minh dưới bút danh CB trong loạt bài lên án
“ Mỹ quốc là nước xấu ”, tố cáo
Mỹ không có dân chủ v́ ban hành quá nhiều
đạo luật. Chính từ đấy, ở
Việt Nam đă h́nh thành một quan niệm phổ
biến rất kỳ lạ : không luật pháp, không
kỷ cương, là dân chủ. Cho nên, thấy
người đi nghênh ngang giữa đường,
bất chấp luật lệ giao thông người ta
bảo dân ḿnh được tự do quá trớn. Phóng
uế bừa băi nơi công cộng cũng là
được tự do quá trớn. Trong hội
nghị, không tôn trọng quyền điều khiển
của chủ tọa, cứ hăng lên là ầm ào
như chợ vỡ, người ta bảo dân ḿnh
được dân chủ quá trớn. Học tṛ
bất chấp nội quy học đường, con
cái nói năng trống không với ông bà, cha mẹ,
cũng bảo là dân ḿnh được dân chủ quá
trớn … Cứ như là ân huệ của Đảng,
của cách mạng ban cho bị lạm dụng.
Điều 1 - Hiến pháp 1946
có ghi : “ Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân
dân Việt Nam, không phân biệt ṇi giồng, gái trai,
giầu nghèo, tôn giáo ”, và điều 10 tuyên bố : “ Công dân Việt Nam có
quyền tự do ngôn luận, tự do xuất
bản, tự do tổ chức và hội họp,
tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi
lại trong nước và ra nước ngoài ”. Nhưng
hiến pháp cứ bị sửa đổi theo
hướng mỗi lần càng thiết chặt các
quyền tự do và, nền dân chủ Việt Nam
từ đấy cứ thế xuống cấp
dần. Cho đến khi Lê Duẩn tuyên bố : “ Nhà nước CHXHCN
Việt Nam là nhà nước chuyên chính vô sản” ( Điều 2 – Hiến pháp
1980 ) th́ nền dân chủ cộng ḥa vốn rất èo
uột cũng bị khai tử nốt. Thủ
tướng Phạm văn Đồng đă phải
thú nhận với một nhà cách mạng lăo thành Pháp : “
Độc lập đă giành được, thống
nhất đă thành công, nhưng vấn đề dân
chủ vẫn nguyên vẹn, chưa được
giải quyết ”.
Không có dân chủ nên mặc dù “
độc lập đă giành được, thống
nhất đă thành công ”, mặc dù đă
được yên hàn kiến thíết trong ḥa b́nh
nhưng đất nước cứ thế ngày càng
lụn bại. May sao, nhờ hệ thống xă hội
chủ nghĩa sụp đổ, sau Đại hội
VI, Việt Nam từ bỏ nền kinh tế kế
hoạch tập trung, băi bỏ ngăn sông cấm
chợ, ngả theo kinh tế thị trường.
Mặc dù tổng bí thư
Nguyễn văn Linh đă hô hào cởi trói cho văn
nghệ, mặc dù đường đă rộng
gấp mấy lần tám thước, mặc dù đă
lác đác những ngôi nhà cao hơn chục tầng …
nhưng dân chủ cho nhân dân th́ vẫn chỉ nhỏ
giọt rất dè xẻn. Mấy năm gần đây
người ta mới như nhứ ban bố chủ
trương “ dân chủ ở cơ sở ”.
Tại sao lại chỉ
được dân chủ ở cơ sở ? Tại
sao lại chỉ cần dân chủ ở cơ sở
? Đây là một đường lối, một
biện pháp khoa học hay chỉ là một thủ
đoạn lừa mỵ ? Phải chăng
người ta muốn các thần dân cứ tha hồ
đấu đá, căi cọ, phê phán nhau ở phía
dưới. Chỉ có địa phương sai,
chỉ có địa phương làm bậy, trung
ương bao giờ cũng đúng, cũng anh minh,
Đảng bao giờ cũng sáng suốt. Cho nên cán
bộ địa phương mới chỉ vơ bèo
gạt tép được ít đ̣ng đong cân cấn
th́ bị bà con xô vào móc họng ra mà quên những con mèo
núc ních trên kia đang tha lôi hàng thúng cá bự. Mấy
vị quan chức Thái B́nh bớt xén từ
đường, trường, trạm ra xây
được mấy cái nhà mái bằng, mua
được vài chiếc xe máy th́ ăn nhằm ǵ so
với những biệt thự được “ phân
phối ” bán đi kiếm hàng chục ngh́n cây vàng,
những chiếc xe hơi biếu tặng trị giá
hàng tỷ đồng. Chữ cơ sở ở
đây mới thật mơ hồ làm sao. Chẳng
nhẽ phải chỉ đạo dân chủ hóa xong
ở xóm rồi mới lên thôn, rồi mới lên xă,
rồi mới lên huyện, rồi mới lên tỉnh
…Thế th́ bao nhiêu thế hệ nữa cho xong. Mà dù có
dân chủ hóa xong ở tất cả các cơ sở
th́ nước ta vẫn là một nước không dân
chủ. Trong khi, nếu có dân chủ
ở trung ương, ở cấp quốc gia th́
lập tức có dân chủ ở tất cả các
cơ sở.
Đấu tranh thiết
lập lại truyền thống dân chủ và
đẩy mạnh công cuộc dân chủ hóa
đất nước là yêu cầu hết sức
bức thiết, là nghĩa vụ thiêng liêng và cao
cả của mọi người dân Việt Nam ngày
nay. Sự nghiệp này có thể được
tiến hành bằng những phương thức
đa dạng dựa trên hai kịch bản :
- Một là : Đảng
Cộng sản Việt Nam qua đấu tranh nội
bộ, bộ phận cấp tiến thắng thế
hợp cùng sức ép của các lực lượng dân
chủ trong, ngoài nước và nước ngoài
nhận thức được xu thế tất
yếu, từ bỏ bớt những đặc
quyền đặc lợi, tự cải hóa
đặng ḥa nhập được vào trào lưu
chung tạo nên ḍng thác cách mạng, bằng
phương thức ḥa b́nh đẩy sự nghiệp
dân chủ hóa đất nước tiến tới .
- Hai là : do ngoan cố bám
giữ những lợi quyền bất chính, phải
tận dụng mọi thủ đoạn tàn bạo
nhằm duy tŕ chế độ độc tài,
chống lại xu thế dân chủ hóa, đảng
CSVN ngày càng đối lập và thù địch với
nhân dân làm dấy lên làn sóng cách mạng bạo lực
lật đổ chính quyền, Đảng không
chỉ mất quyền lănh đạo mà sẽ sụp
đổ. Một chính quyền mới được
thiết lập, xây dựng chế độ dân
chủ không có đảng CSVN.
Kịch bản thứ hai
nếu diễn ra sẽ hết sức đau ḷng. Đảng
CSVN sụp đổ sẽ tạo ra khoảng
trống quyền lực nguy hiểm, cơn chấn
động chính trị từ đây sẽ kéo dài không
biết đến bao giờ. Khác với Liên xô và
Đông Âu, ở Việt Nam, do những lỗi lầm
hết sức tai hại qua các vụ Nhân văn –Giai
phẩm, qua Cải cách ruộng đất, qua cuộc
chiến Nam Bắc tương tàn với hàng vạn
hồn oan Mậu Thân, hàng triệu vong linh tức
tưởi dưới ḷng biển trên
đường vượt biên và trong các trại
cải tạo … đă gây nên ngàn, triệu nỗi
hờn óan. Những oán hờn này là thực tế và
chính đáng. Tuy nhiên, mọi óan hờn ấy cần
nên được tiêu tan bằng ḥa giải, bằng
cảm thông, bằng đền bồi ở mức có
thể nhất đặng ḥa hợp v́ lợi ích chung
và v́ tương lai dân tộc. E rằng, hiện
vẫn lấp ló đâu đó hàng loạt thế
lực cơ hội ở trong và ngoài nước, khi
có điều kiện sẽ bừng bừng trỗi
dậy, khó bề kiểm soát, v́ thù hận, v́ hám
quyền lực và danh vọng bất chính …Cơn
chấn động chính trị dù được may
mắn kết thúc nhanh chóng do bỗng nhiên xuất
hiện một hiền tài thực sự, một anh
hùng kiệt xuất th́ đất nước chắc
là vẫn khó tránh khỏi tan hoang với đầm
đ́a máu và nước mắt, mà, nhân dân ḿnh th́ đă
vừa phải nếm trải không biết bao nhiêu gian
nan, tang tóc suốt bao năm trường rồi
Hăy đồng ḷng hiệp
sức, bằng sự suy xét minh mẫn, bằng tài
thao lược, ư chí ngoan cường và ḷng bao dung nhân
ái tạo t́nh thế thuận lợi cho kịch
bản thứ nhất. Kịch bản thứ nhất
sẽ được diễn tiến ḥa b́nh với
những chủ trương và hành động như
sau :
1
- Ra sức đưa
Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới để xây dựng nền kinh tế
thị trường hoàn chỉnh. Ủng hộ
chủ trương giành quy chế Tối huệ
quốc vĩnh viến của Hoa kỳ và gia nhập
WTO trước tháng 10 năm 2006. Trên tinh thần
độc lập tự chủ và giữ ǵn bản
sắc dân tộc, chủ động hội nhập
có chọn lọc nền văn hóa, khoa học, giáo
dục, chính trị của các nước tiên tiến.
Cải tổ tư tưởng chính trị, chủ
động kết giao để nhanh chóng xây dựng
được t́nh hữu nghi Việt Nam-Hoa kỳ
thắm thiết hơn t́nh hữu nghị Việt Nam
– Trung quốc.
2
- Đấu tranh mạnh
mẽ và sắc bén trên lĩnh vưc tư
tưởng – chính trị, loại bỏ tư
tưởng Mác –Lênin và chủ nghĩa xă hội. Thay
thế chủ trương xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xă
hội chủ nghĩa bằng nền kinh tế
thị trường tự do có sự quản lư
của nhà nước. Hủy bỏ chủ
trương kinh tế quốc doanh làm chủ
đạo, giải tư tất cả những doanh
nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ.
3
- Xây dựng chế
độ pháp trị thực thụ, bảo
đảm mọi công dân đều có quyền làm những
ǵ luật pháp không cấm trong khi quan chức, viên
chức nhà nước chỉ được làm
những ǵ luật pháp cho phép. Lên án mạnh mẽ, kêu
gọi quốc tế trừng phạt tất cả
những hành động vi hiến , vi pháp của
Đảng, Nhà nước, Chính phủ, từ
việc bắt bớ, giam cầm không xét xử
hoặc xét xử không công khai đến việc khám
xét, cắt điện thoại, thu giữ bưu
phẩm không tuyên bố lư do xác đáng. Thả hết
tù nhân lương tâm.
4
- Chấp nhận cho
tư nhân được ra báo, được mở
nhà xuất bản, tối thiểu, trước mắt
một tờ báo và một nhà xuất bản tư
nhân. Trong trường hợp chưa được ra
báo tư nhân, các tổ chức và cá nhân trong, ngoài
nước cùng góp sức xúc tiến mạnh mẽ
việc tán phát các tài liệu phục vụ đấu
tranh dân chủ hóa qua chuyền tay, qua bưu
điện, qua intơnet và qua hộp thư
điện tử. Trong khi người trong
nước bị khống chế nghiêm ngặt, các
tổ chức và cá nhân ở ngoài nước nên xem
trọng việc tổ chức gửi tài liệu vào
các hộp thư điện tử cho các ủy viên
Trung ương Đảng, các cơ quan Đảng,
Nhà nước, Chính phủ, các cán bộ giảng
dạy và học sinh, sinh viên. Làm tốt việc này
sẽ có tác dụng tích cực hơn cả một
tờ báo.
5
- Chấp nhận chế
độ đa nguyên, đa đảng. Trước
mắt đ̣i tái lập đảng Dân chủ và
đảng Xă hội ( Việc lập đảng
mới vô cùng khó khăn, nếu không được
phép, chính quyền sẽ dễ dàng đàn áp. Vả
chăng, với một đảng lạ, không chỉ
ít người dám theo mà cũng ít người muốn
theo. Chỉ tái lập các đảng đă
được chính Bác Hồ thừa nhận th́ chính
quyền sẽ rất chùn tay đàn áp mà lại sẽ
có đông người gia nhập, kể cả
đảng viên CSVN ). Không nên để quá nhiều đảng
xuất hiện mà chỉ khoảng bốn đảng
là lực lượng tiên phong của bốn giới :
sĩ, nông, công, thương. Tờ báo dưới h́nh
thức tán phát kể trên cần làm cho Đảng
hiểu rơ đa đảng chính là con đường
sống của đảng CSVN. Nhờ đa
đảng mới có cạnh tranh và có tiết chế
giám sát giúp đảng CSVN ḱm chế sa sút đang ở
mức thảm hại như hiện nay. Có cạnh
tranh mới giúp Đảng phấn đấu
vươn lên để may ra duy tŕ một trong
những vị thế lănh đạo cao đối
với đất nước. Độc quyền,
độc đóan, đảng phiệt đang hủy
hoại Đảng ngày một ghê gớm đến
mức nguy cơ tiêu vong đă nhỡn tiền.
6
- Giải thóat các tổ
chức chính trị-xă hội như công đoàn,
phụ nữ, thanh niên, hội nông dân, hội cựu
chiến binh … khỏi
sự khống chế của Đảng. Mở
rộng quyền cho các cá nhân được tự do
hội họp tự do tổ chức và thành lập
các tổ chức dưới nhiều dạng khác nhau
trong hệ thống tổ chức phi chính phủ. Các
tổ chức này gồm hai nhóm : nhóm hoạt
động v́ lợi ích chung hay vận động
hậu trường có chức năng tư vấn,
khuyến cáo nhà nước về các vấn đề
thuộc đường lối, chủ trương,
chính sách; nhóm hoạt động v́ các lợi ích tư
nhân như các hiệp hội kinh doanh, các tổ
chức nghề nghiệp hay liên đoàn lao
động.
7
- Tổ chức bầu
cử năm 2007 theo các phương thức tự do
thực sự. Xóa bỏ chế độ đảng
cử dân bầu. Mỗi đơn vị bầu
cử được bầu một số đại
biểu ứng với tỷ lệ dân số. Đảng
không đề cử ứng cử viên bằng cách áp
đặt cho các địa phưong một cách h́nh
thức và phi lư. Tất cả những người
được đề cử hay ứng cử
ở các địa phương đều phải có
chương tŕnh tranh cử. Người ra ứng
cử phải thu thập được một
số chữ kư nhất định trong phạm vi toàn
quốc hoặc phải được 2/3 số
người ủng hộ tại một hội
nghị tổ chức trong khu vực ḿnh làm việc
hoặc sinh sống. Tất cả các người
được đề cử hoặc ứng cử
đều được tự giới thiệu ḿnh
trên tất cả các phương tiện thông tin. Ban
tổ chức bầu cử phải chuẩn bị
một tổ chức độc lập giám sát.
8
– Băi bỏ chế độ tổng bí thư của
một đảng cao hơn người lănh
đạo nhà nước và chính phủ. Để
tránh biến tướng do mới thoát thai từ
chế độ độc tài, không tổ chức
phổ thông đầu phiếu trực tiếp
bầu ra một tổng thống. Ở chế
độ tổng thống, quyền lực
được giao quá nhiều cho một người,
tổng thống nhiều khi có thể ngang nhiên bất
chấp cả quốc hội. Nên xây dựng chế
độ đại nghị để người
dân có quyền lựa chọn và bầu trực
tiếp các dân biểu. Trong chế độ
đại nghị thủ tướng phải là
người thực sự tài đức v́ chịu
sự giám sát chặt chẽ của quốc hội, có
thể bị quốc hội băi nhiệm bất
cứ lúc nào. Song, ngay cả khi thủ tướng
bị thay đổi cũng sẽ không gây khủng
hoảng lớn như đối với trường
hợp tổng thống.
9
- Bộ máy nhà nước
phải được tổ chức theo cơ
chế tam quyền phân lập cho các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Nước nên được
tổ chức dưới h́nh thức liên bang theo
chế độ tản quyền với khoảng 12
vùng ( tạm căn cứ vào cách chia ra 9 quân khu và 3 khu
tự tri trước đây ). Mỗi vùng có một
nghị viện, một chính quyền dân cử và
một guồng máy hành chánh riêng. Mỗi vùng không có quân
đội riêng mà chỉ có cảnh sát riêng nhưng
số cảnh sát riêng của vùng không vượt quá
số cảnh sát trung ương có mặt trong vùng. Luật
pháp trong vùng không được mâu thuẫn với
luật pháp trung ương. Các vùng không có tiền
tệ riêng, không có đại diện ngoậi giao và
không được quyền kư hiệp ước
với nước ngoài.
Trên đây không phải là
một lộ tŕnh mà chỉ là phác thảo chủ
trương hành động. Không có các bước
tuần tự tách biệt mà là một liên hoàn
được vạch ra theo thứ tự ưu tiên
nhằm dắt dẫn công cuộc dân chủ hóa
Việt Nam được đẩy mạnh một
cách ḥa b́nh và hữu hiệu.
*
Dân chủ là dân mạnh,
nước giầu, là tự do, b́nh đẳng, công
bằng, là xă hội văn minh. Đấu tranh v́
sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc dân
chủ hóa đất nước tất gian khó,
thậm chí phải hy sinh nhưng đấy là nghĩa
vụ không thể thoái thác đối với tổ
quốc, với nhân dân. Chúng ta đă từng xả thân
v́ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuộc
cách mạng dân chủ này c̣n thiêng liêng, cao cả
hơn. Nụ cười rạng rỡ của tổ
quốc Việt Nam dưới ánh ngời dân chủ
sẽ là vinh quang, là phần thưởng vô giá cho
tất cả những ai đang vững bước
tiến lên trong ngọn trào dân chủ.
Hà
Nội, xuân Bính Tuất
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 –
Tập thể Địa Vật lư Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại : 5 534370
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|