|
|
DC&PT - Thời
Sự 2006
Viết Thay Lời Tựa Duy
Văn Sử Quan
NGUYỄN
NGỌC BÍCH
Paris. Quartier Latin. Một căn gác xép. Anh tôi, bây giờ
ở Úc và khi viết thường kư tên Nguyễn Nam
Phong, và tôi, lúc bấy giờ c̣n là một sinh viên cao
học, nhẩy mấy bực cầu thang lên gơ
cửa. Hai ông bà niềm nở ra đón chào. Nói các cháu
chào hai bác, làm tôi ngượng tái người. Hè 1962,
tôi chưa đầy 25 tuổi. "Xin anh cho các cháu
gọi bằng chú là được rồi." Nhất
định ông không chịu!
Ông vẫn thế, hơi cổ cổ, nhưng thân t́nh
biết mấy! Gốc kẻ sĩ, ông không bao giờ
rời bỏ được cái nét cương
trực ở nơi ông, một thứ khí phách làm cho
người khác nếu không mến được th́
cũng phải nể. Hai ông bà lúc bấy giờ
sống thật đạm bạc: Cả hai vợ
chồng với ba người con, một trai hai gái,
chỉ chung nhau có một căn pḥng nhỏ -- hai ông bà
nằm một giường c̣n ba cháu nhỏ chiếm
cứ một cái giường chồng lên nhau, cháu trai
nằm ở giường trên và hai cháu gái chia nhau
giường dưới. Tuy nhỏ, đạm
bạc, nhưng vẫn ngăn nắp. Lúc bấy
giờ, ông cũng mới rời ṭa Tổng Lănh Sự
của Việt Nam Cộng Ḥa ở Tân Đề Li
để sang Pháp viết cuốn sách "Từ
Thực Dân đến Cộng Sản," một trong
những cuốn sách đầu tiên viết về chính
sách cải cách ruộng đất của Bắc
Việt và những hậu quả thảm khốc
của nó. Cuốn sách, viết bằng tiếng Anh, cho
đến giờ này vẫn là một trong những
cuốn đứng đắn và đầy ắp
dữ kiện nhất viết về đề tài
đó, chỉ mấy năm sau đă được
dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả
những tiếng như Urdu, Y-Pha-Nho, Nhật-Bản,
và Ả-Rập.
Chính cái cặn kẽ đó đă là cái nét điển
h́nh của nhà biên khảo Hoàng Văn Chí, mà sau này chúng
ta mới được biết cũng là tác giả
của tuyển tập nổi tiếng Trăm Hoa
Đua Nở Trên Đất Bắc (ông cho xuất
bản tập này dưới bút hiệu Mạc
Định). Ông cũng c̣n là tác giả cuốn "The
New Class in North Vietnam" (Giai cấp Mới ở
Bắc Việt), tiền thân cuốn Trăm Hoa Đua
Nở nhưng có lẽ v́ viết cho người
ngoại quốc nên không đi sâu được vào
nhiều vấn đề như cuốn sau.
V́ biết tôi đang học về văn-học
Nhật-Bản nên ông hỏi tôi có biết tiếng
Cao-ly không. Tôi bảo: "Em đang học,
được độ hai năm." Ông bèn rút
từ trong hồ sơ của ông ra một lá thư
viết bằng tiếng Cao-ly và nhờ tôi đọc
hộ. V́ tiếng Cao-ly của tôi có lẽ cũng
chưa vững lắm, cộng thêm lá thư viết
tay nên hơi khó đọc (tôi toàn học tiếng
Cao-ly trong sách in nên rơ ràng lắm), tôi chỉ nắm
lờ mờ được đại ư của lá
thư. Ông bèn giảng: "Lúc bấy giờ là
khoảng năm 1942. Người Cao-Ly (mà bây giờ
thường gọi là Đại Hàn- NNB) cũng có
người đi tranh đấu nhằm mưu t́m
độc lập cho nước họ thoát khỏi
nanh vuốt của quân-phiệt Nhật. Có
người phải trốn sang tận Việt-nam, và
anh này -- chỉ tác giả bức thư -- đă
được gia đ́nh nhà tôi cho tá túc, để
trốn bọn Nhật, trong một thời gian."
Th́ ra, chủ-nghĩa quốc-tế không phải
đợi đến Cộng Sản sang nước
ta rồi dân ta mới biết thế nào là
"nghĩa vụ quốc tế." Có điều
chủ nghĩa quốc tế, ở trong trường
hợp của cha ông ta, xuất phát từ con tim -- khác
xa một trời một vực với chủ
nghĩa của Cộng Sản, lúc nào cũng nhồi
nhét, tống xuống họng xuống cổ
người ta.
Cũng nhân đó, tôi học được một nét
quư ở nơi ông. Đó là tính ân cần mà bao giờ
ông cũng dành cho thành phần tuổi trẻ, những
thành phần cách mạng, những thành phần mà ông cho
là nắm vận mệnh tương lai của
đất nước. Hai mươi lăm năm sau,
khi đến nhà ông ở Bowie, Maryland, trông thấy
chung quanh ông quây quần những anh chị em trẻ,
đến để học hỏi nơi ông, tôi
thấy cái ngọn lửa cách mạng trong con
người ông - ở tuổi 70 hơn - vẫn c̣n
bừng bừng cháy!
Ông có tham vọng làm cách mạng. Cả cuộc
đời ông là một cuộc đời cách
mạng. Cách mạng chính trị, đối với
thế hệ của ông, là mưu t́m sự độc
lập cho tổ quốc thân yêu. Chính niềm khát khao
này đă kích thích, thúc đẩy ông, vào năm 1945,
đi xe đạp từ Thanh-hóa, nơi sinh quán
của ông, ra đến tận Hà-nội để
đi t́m những lực lượng cách mạng
Việt Nam. Trên đường đi, ông đă
phải đi qua bao nhiêu chặng cửa ải rất
gian nguy v́ lúc bấy giờ, quân đội và hiến
binh Nhật c̣n trấn giữ nhiều trục giao
thông ở trong nước.
Gặp được Hồ Chí Minh, ông đă đi
theo "Cụ" để một ḷng với
kháng-chiến sau khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ
vào tháng 12-1946. Ông trở về Thanh Hóa rồi lập
ra nhà máy thủy điện, rồi lại
được giao phó việc in tiền và đúc
tiền Cụ Hồ. Ở Thanh Hóa lúc bấy giờ
có tướng Nguyễn Sơn, một sĩ quan đă
sống nhiều năm và chiến đấu bên
cạnh Hồng quân Tàu, đi theo cả cuộc trường
chinh của Mao Trạch Đông về đến Diên An
- một vị tướng có hào khí cách mạng lăng
mạn và rất văn nghệ nên cũng đă thu hút
được một số khá đông đảo
văn nghệ sĩ về ở chung quanh ḿnh. Nhưng
khi nghe thấy Cộng sản Việt Nam sửa
soạn học đ̣i "cải-cách ruộng
đất" kiểu Trung cộng là lập tức
tướng Nguyễn Sơn cho những người
thân cận của ông, trong đó có ông bà Hoàng Văn Chí,
hiểu rằng cuộc cách mạng Việt Nam đang
bị dẫn dắt vào một con đường
đầy sắt máu. V́ bất đồng ư kiến
với Đảng Lao Động nên Nguyễn Sơn
đă trở về Trung quốc để rồi sau
này cũng bỏ xương ở đó.
Riêng ông Hoàng Văn Chí khi kháng chiến thành công, ông
liền bỏ đi Nam. Không phải ông tin là ở
miền Nam đă có minh chủ nhưng v́ cuộc
cải cách ruộng đất đă làm cho ông thấy
chân tướng của Cộng sản VN, và ông không c̣n
thể sống được với lũ
người man rợ như vậy. Cho nên ra đi th́
có, c̣n đến với ai th́ chưa rơ ràng.
Nhưng không v́ thế mà ông không tích cực. Chỉ
riêng những tác phẩm của ông đủ cho ta
thấy ông biết rơ cái chế độ đó
đến mực nào. Có lẽ không ai ngoài ông mà có
thể làm chủ biên được tập
"Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc"
ở mức gần như lư tưởng. Ông quen, ông
là bạn của rất nhiều người trong
số 34 tác-giả của vụ Nhân Văn Giai
Phẩm. Do đó nên những dữ kiện đầu
tập có thể xem là một bài phân tích mẫu mực
về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, và cho đến
nay, vẫn chưa có ai làm hơn được.
Nhưng con người cách mạng ở ông không
ngừng ở đó. Sau khi làm cách mạng chính trị
và kỹ thuật (ở trong kháng chiến là làm
thủy điện, làm nhà máy giấy in tiền, v.v...;
sang đến Mỹ sau này th́ là nghiên cứu và lấy
môn bài về làm tương Cự Đà cũng như
đi ngay vào thực tế, tức lập
xưởng sản xuất tương bán cho khắp
thế giới), ông lại c̣n nuôi mộng làm cách
mạng dân trí, làm cách mạng tư tưởng
để thức tỉnh cả nhân loại.
Người xưa đă nói, lập ngôn (tức là nói
một câu để đời) cũng đă khó,
lập chí lại c̣n khó hơn (v́ đ̣i hỏi
nhiều kỷ luật), lập thuyết là khó
nhất. Nhưng không v́ thế mà ông nản ḷng. Có
lẽ ông cũng cho rằng đả phá thôi không
đủ, mà phải đưa được ra cái ǵ
hay hơn, sáng giá hơn, khoa học hơn, nhân bản
hơn! Có lẽ v́ thế mà mười năm cuối
đời, ông bỏ ra nhiều thời giờ
để làm công việc này.
Ông đă ngồi nghiên cứu lại hết cả,
cổ kim, Đông Tây, đủ hết! Ông đặc
biệt lại đem được cái hiểu
biết thu thập được từ Ấn
Độ, đem đúc kết hết cả lại
với những cái hiểu biết của ông về
khoa-học để thành một học thuyết
mới, một tổng đề mà ông mong là sẽ
hướng dẫn được chúng ta tới
một tương lai sáng lạng.
Triết thuyết Duy Văn Sử Quan chính là những
suy tư nghiền ngẫm của một bộ óc
suốt đời tận tụy với quê
hương, dân tộc, và văn hóa Việt Nam. Cái nh́n
của ông không phải là một cái nh́n thuần túy
văn-hóa, nó c̣n có tham vọng làm một tổng
hợp, khoa học và con người trên một
căn-bản mà ông gọi là "duy văn sử
quan".
Chúng ta có thể đồng ư, chúng ta có thể không
đồng ư, nhưng có một điều chắc
chắn là ở tác giả Hoàng Văn Chí không có vấn
đề "tận tín thư," không có vấn
đề "giáo điều."
"Tin hoàn toàn vào sách vở th́ thà không có sách c̣n
hơn," Mạnh tử ngày xưa đă chẳng
dạy rồi sao? V́ không "tận tín thư" nên
ông Hoàng Văn Chí đ̣i xét lại tất cả, không
chỉ một ḿnh chủ thuyết Cộng sản, mà
c̣n cả những sự thật mà nhiều
người trong chúng ta đă coi là hiển nhiên và không
c̣n thắc mắc nữa. Ông làm thế không phải
để khuyến khích một tinh thần hoài nghi
tất cả mà là để xây dựng trong ta một
niềm tin có cơ sở hơn khi đă luận ra
mọi nhẽ. Vậy đồng ư hay không với
những điều ông tŕnh bầy có lẽ c̣n không
quan trọng bằng sự thảo luận với ông
ở một tŕnh độ khá sâu sắc.
*
Anh,
Mới ngày nào đây anh c̣n ngồi đó, nh́n ra
cảnh vườn mà anh chị đă dày công xây
đắp, vun trồng. Có những mùa hoa nở
rộ, cánh trắng, cánh hồng xen lẫn vào màu xanh
của lá với mây trắng lăng đăng ở xa xa,
chắc hẳn nhiều bạn bè của anh chị
cũng đă thoáng có ư tưởng là ta đă lạc
vào tiên cảnh. Vào nhà trong, một ấm trà nóng, một
đĩa rau muống luộc, một chén tương,
một bát cà trắng tươi và ḍn tan, một
đĩa bê thui (rắc thính cũng của
xưởng anh chị làm ra), là những kỷ
niệm êm đềm và khó quên của cả một
nhóm bạn "vong niên" mà có lẽ anh chị đă
coi như là một phần của gia đ́nh.
Mới đó, mới đó, chị c̣n cười
tươi và kể xấu anh chuyện ǵ - nhưng
trong đó ẩn chứa biết bao âu yếm.
Mới đó, mới đó, mà giờ đây cả anh,
rồi đến chị, đă thành người thiên
cổ. Vợ chồng cháu Dũng, cháu bé ngày nào mà anh
chị c̣n bắt gọi em bằng bác, lại nhà
để yêu cầu em có vài hàng giới thiệu tác
phẩm "tử hậu” của anh, để
đánh dấu ngày giỗ của anh. Em làm sao từ
chối được, nhưng ngôn bất tận ư,
chỉ mong sao ở Suối Vàng mấy lời mộc
mạc trên đây làm cho anh chị cảm thấy
ấm ḷng đôi chút.
Nguyễn Ngọc Bích
Springfield, Virginia
Ngày 10-9-1990
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|