|
|
DC&PT - Thời
Sự 2006
TÀI
LIỆU TỪ TRONG NƯỚC
Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh
NGUYỄN
ĐỨC B̀NH
LTS: Bài dứơi
đây đă được đăng trên tờ Nhân
dân ngày 23.2.06. GS Nguyễn Đức B́nh, nguyên Ủy
viên Bộ chính trị hai khóa 7 và 8 (1991-2001). Trong
thời gian 10 năm này ông phụ trách Công tác tư
tưởng và khoa giáo, đồng thời c̣n là
Chủ tịch Hội đồng Lí luận Trung
ương và Giám đốc Học viện Chính
trị Quốc gia HCM. Như thế ông B́nh
được coi là lí thuyết gia của ĐCSVN.
Về lí do ǵ mà Nguyễn Đức
B́nh đă viết bài này, xin xem bài phân tích „Đại
hội 10 đi về đâu? Phe bảo thủ
độc tài theo đuổi ư đồ ǵ khi công
bố bài của Nguyễn Đức B́nh“ của TS Âu
Dương Thệ trong phần Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử.
Là một đảng viên, với ư
thức xây dựng Đảng, tôi xin có năm kiến
nghị kính gửi Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X.
Bên cạnh những thành tựu có ư
nghĩa lịch sử và ư nghĩa thời đại
mà nhân dân ta đă làm nên dưới sự lănh
đạo của Đảng, Đảng ta đang phải đối
mặt với hai vấn đề có ư nghĩa
sống c̣n:
Một là, phải làm sao Đảng
thật trong sạch.
Hai là, phải xây dựng Đảng
thật vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và lư luận.
Tôi xin nêu một số ư kiến liên quan
vấn đề thứ hai, có ư kiến chỉ
mới nêu để rộng đường suy nghĩ
và tiếp tục nghiên cứu.
I - Đă đến lúc tất cả
phải được đặt lên bàn nghị
sự
Ngay từ năm 1927 chuẩn bị thành
lập Đảng, trong cuốn Đường kách mệnh,
Bác Hồ đặt vấn đề cách mệnh
trước hết phải có cái ǵ? Người
chỉ rơ: "Trước hết phải có
đảng cách mệnh" và "Đảng có vững
cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy".
Thực tiễn cách mạng Việt Nam
75 năm qua chứng minh Đảng ta thực sự là
một Đảng mác-xít Lê-nin nít vững mạnh.
Trên chính trường Việt Nam,
Đảng ta có thế mạnh tuyệt đối từ
bề dày lịch sử và kinh nghiệm đấu
tranh cách mạng dẫn dắt dân tộc ta làm nên bao
chiến công kỳ tích đổi đời suốt
quá tŕnh hơn hai phần ba thế kỷ. Đảng ta
mạnh v́ đường lối độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xă
hội như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trước đây, hiện nay và cả trong
tương lai không ǵ thay thế được.
Bởi ở nước ta không có đất cho
một đường lối chính trị nào khác
tốt hơn khả dĩ được nhân dân
chấp nhận ngoài đường lối
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă
hội. Khách quan lịch sử mà nói, một
đường lối khác, chẳng hạn
đường lối xă hội dân chủ ai đó
đang mơ tưởng, dù có tô vẽ ngụy trang
thế nào đi nữa th́ rốt cuộc vẫn không
thể ǵ khác là một đường lối
đưa dân tộc ta đi con đường tư
bản hoang dă tồi tệ nhất, cuối cùng không
tránh khỏi trở lại số phận nô lệ hay
phụ thuộc vào các thế lực đế
quốc, phản động, thực dân mới
kiểu mới.
Trong khi khẳng định những
chỗ mạnh cơ bản của Đảng ta, chúng ta
vẫn không quên những mặt c̣n yếu trong đó có
mặt tiềm ẩn nguy cơ không thể xem
thường. Tôi cho rằng sự thiếu nhất trí
trong Đảng là một trong số mặt yếu đó.
T́nh trạng thiếu nhất trí từng
được nhiều văn kiện Đảng
trước đây nói đến và ngay trong các dự
thảo lần đầu báo cáo tổng kết lư
luận và thực tiễn 20 năm đổi mới
cũng như các Văn kiện khác chuẩn bị cho
Đại hội X cũng nêu lên hàng loạt những
vấn đề c̣n có quan điểm khác nhau. Tuy
vậy, thiếu nhất trí thực
chất là ở chỗ nào, quan điểm khác nhau ra
sao, căn nguyên của sự thiếu nhất trí
ở đâu, th́ chưa bao giờ được đặt
ra phân tích mổ xẻ đến nơi. Nay đề
nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung
ương và Đại hội X nh́n thẳng vào sự
thật này v́ đă đến lúc không thể nào tránh
né. Cần lưu ư những lời cảnh báo
hết sức sáng suốt của V.I.Lênin:
"Những mâu thuẫn nhỏ và những bất
đồng nhỏ thường gây ra những mâu thuẫn
và bất đồng lớn, khi mà người ta
cứ khư khư giữ cái sai lầm nhỏ và
cứ ra sức không chịu sửa chữa nó;
hoặc khi những người phạm sai lầm
lớn cứ chĩa mũi nhọn vào sai lầm
nhỏ của một người hoặc một
số người khác. Những sự bất
đồng và chia rẽ thường bao giờ
cũng phát triển như vậy" (Lênin, Toàn
tập, tập 42, tr.289). Lênin c̣n nói: "Không ai có
thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những
sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn
đề là ở chữ "nếu" này. Nếu
chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ th́ tất
cả sẽ sụp đổ" (tập 42, tr.311).
Cần thống
nhất khẳng định: Sự thiếu nhất
trí trong Đảng ta hiện nay chủ yếu là trên
mặt nhận thức. Là vấn đề nhận
thức, phải giải quyết bằng nhận
thức, bằng trao đổi, thảo luận, tranh
luận thẳng thắn trên tinh thần đồng
chí. Muốn vậy, phải đặt thẳng
những vấn đề có ư kiến khác nhau lên bàn,
trước hết là mấy vấn đề then
chốt sau đây:
- Sau thảm họa sụp đổ
ở Liên Xô, Đông Âu, chúng ta có nên tiếp tục con
đường xă hội chủ nghĩa nữa hay
không? Có thể có con đường nào khác phù hợp
hơn? Hoặc: hăy thôi nói chủ nghĩa xă hội,
thôi nói chủ nghĩa Mác - Lênin, mà cứ làm sao cho
"dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng,
dân chủ, văn minh" là được rồi?
- Bản chất Đảng có ǵ thay
đổi? Có nên giữ như lâu nay: "Đảng ta là
đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đại biểu trung thành cho lợi ích của giai
cấp công nhân, của nhân dân lao động, của
cả dân tộc" hay nên thay bằng công thức
mới: "Đảng ta là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động, của dân
tộc".
- Về đảng viên có nên cho phép
đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân,
cho phép kết nạp cả những nhà tư bản
tư nhân vào Đảng hay không?
Rất tiếc mấy tháng vừa
rồi tại Đại hội Đảng các cấp từ
cơ sở đến tỉnh, thành phố,
đến đại hội Đảng các cơ quan Trung
ương, các vấn đề rất ít
được đặt ra để thảo
luận, tranh luận. Tôi cho đó là một hạn chế
lớn không đáng có. Ngoài việc sau này vẫn
phải hướng dẫn thảo luận, tranh
luận trong các tổ chức Đảng để quán
triệt nghị quyết, tôi đề nghị Trung
ương cho ra một tờ nội san, lưu hành có
hạn chế trong Đảng, có thể đặt tên là
"Tranh luận" để đăng những bài
có quan điểm khác nhau mà không thể đăng công
khai. Để bảo đảm
chặt chẽ, có thể quy định trong tôn
chỉ mục đích nội san là tất cả bài
vở đều không được chống lại
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Cương lĩnh chính trị và đường
lối cơ bản của Đảng, mặc dù có
thể cho phép có những phê phán riêng rẽ về
những luận điểm cụ thể này hay khác,
chủ trương cụ thể này hay khác, không
phải là đường lối và nguyên lư cơ
bản. Việc ra nội san Tranh luận đă
đến lúc chín muồi v́ những quan điểm
khác nhau trong Đảng nay đă bộc lộ công khai hay
nửa công khai bằng phát ngôn và phát tán tài liệu
rất có hại v́ nó làm phân tâm, phân tán tư
tưởng nghiêm trọng trong Đảng và trong xă
hội.
II - Kiên định con đường
xă hội chủ nghĩa đă lựa chọn
Sau thảm họa sụp đổ
ở Liên Xô và Đông Âu, một số đồng chí
đâm hoang mang, dao động, nhiều đồng chí
suy giảm niềm tin lư tưởng, một số
quay ngoắt quan điểm, cá biệt có đồng
chí thậm chí tuyên bố "chia tay ư thức
hệ", sám hối, trở cờ. Phải thấy
suy giảm niềm tin XHCN là vấn đề lớn
nhất phải giải quyết trong đời
sống tư tưởng của Đảng hiện nay.
Một số cán bộ, thậm chí trung
cao cấp, xem ra có ǵ mặc cảm, ngượng ngùng
khi phải nói đến chủ nghĩa xă hội,
chủ nghĩa Mác - Lênin. H́nh như họ sợ mang
tiếng giáo điều, bảo thủ, không
đổi mới, có lẽ theo họ đổi
mới là phải từ bỏ CNXH, từ bỏ
chủ nghĩa Mác - Lê-nin! Khi không thể không nói
chủ nghĩa xă hội, chủ nghĩa Mác - Lênin, họ
nói, nhưng thực ra trong bụng không tin. Có
người, do tŕnh độ nhận thức hạn
chế đi đến cho rằng thôi khỏi nói
chủ nghĩa hay lư tưởng trừu tượng,
xa xôi, cứ dân giàu, nước mạnh, xă hội công
bằng, dân chủ, văn minh là được.
Cũng có người không phải do tŕnh độ
thấp, thật ra họ dùng lập luận đó
để lảng tránh vấn đề, để
ngụy biện... Dự thảo Báo cáo chính trị
tŕnh Đại hội X nhận định "Những
biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH
vẫn chưa được khắc phục". Nên
thêm "thậm chí c̣n có chiều hướng tăng
thêm".
Vậy là, phải đặt thẳng
vấn đề: Đảng ta, đất nước ta
có đi con đường xă hội chủ nghĩa
nữa hay không? Không ṿng vo, lấp lửng, tránh né, mà
phải trả lời dứt khoát, rơ ràng. Đừng
như ai đó trả lời theo kiểu "Có
nhưng là xă hội chủ nghĩa đổi
mới". Đổi mới, đương nhiên
rồi, nhưng không nên chơi tṛ ngụy biện,
đánh tráo khái niệm.
Tất nhiên, trả lời có hay không,
phải có lập luận rơ ràng và rốt cuộc
vấn đề không phải chỉ ở chỗ nói
mà làm, là hành động thực tế. Anh nói "định
hướng xă hội chủ nghĩa" nhưng trong
thực tế phủ nhận hoặc coi nhẹ vai tṛ
chủ đạo của kinh tế Nhà nước th́
lời nói của anh là giả dối, vô giá trị, là
nói một đằng làm một nẻo, không ít
người hay dùng thủ thuật này. Anh nói Nhà
nước chủ đạo chứ không phải kinh
tế Nhà nước chủ đạo. Nói thế
thật ra là nói để mà nói, bởi không có thực
lực kinh tế làm chỗ dựa th́ Nhà nước
lấy ǵ để chủ đạo theo định
hướng xă hội chủ nghĩa. Hay cứ buông
tất cả nền kinh tế cho "bàn tay vô
h́nh" của lực lượng thị
trường, th́ ta khác ǵ tư bản, khác ǵ chủ
nghĩa tự do mới? Cần nhắc lại
"Quan điểm chỉ đạo" trong
Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX tháng 9 năm
2001 và đề nghị nghiêm túc xem lại trên từng
điểm, từng điểm ta đă làm ǵ cho kinh
tế nhà nước? làm đến đâu? làm hết
mức chưa? kết quả ra sao? hay làm th́ ít mà chê
bai, phê phán th́ nhiều? hiện trạng kinh tế nhà
nước so với quan điểm chỉ
đạo của Nghị quyết Trung ương 3
như thế nào? kết luận rút ra: Nghị
quyết sai hay ta không thực hiện, hoặc thực
hiện nửa vời, thiếu tin tưởng,
thiếu quyết tâm? Thái độ đối với
nghị quyết Đảng phải minh bạch, có nguyên
tắc, không thể tùy tiện, tự do chủ
nghĩa.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX
viết:
"Kinh tế nhà nước có vai tṛ
quyết định trong việc giữ vững
định hướng xă hội chủ nghĩa,
ổn định và phát triển kinh tế, chính trị,
xă hội của đất nước. Doanh nghiệp
nhà nước... phải không ngừng đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ
vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà
nước định hướng và điều
tiết vĩ mô, làm lực lượng ṇng cốt, góp
phần chủ yếu để kinh tế nhà
nước thực hiện vai tṛ chủ đạo
trong nền kinh tế thị trường định
hướng xă hội chủ nghĩa, là chủ
lực trong hội nhập kinh tế quốc
tế". Tôi thấy giữa Nghị quyết
rất đúng, rất hay như vậy với
việc làm của chúng ta, với cả suy nghĩ
của một số đồng chí xem ra xa nhau quá
chừng, thậm chí dường như nói để
mà nói hoặc tệ hơn: Nghị quyết một
đằng làm một nẻo, ngược hẳn,
đến mức có đồng chí nói kinh tế tư
nhân là động lực, là nền tảng của
nền kinh tế, của hội nhập thế
giới.
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước cũng đang lắm vấn đề mà
nguyên nhân làm chậm có thể có nhiều, phải
chăng chỉ do mấy tay giám đốc ngoan cố
sợ mất ghế và mất đặc quyền
đặc lợi? Điều đáng ngại nhất là
nếu ta chịu sức ép ngày càng tăng phải
tư nhân hóa của IMF, WB và các nhà tài trợ quốc tế
họp hằng năm, thậm chí hằng tháng,
chịu sức ép phải làm nhanh để vào WTO,
rồi cổ phần hóa thiếu tính toán kỹ,
như thế chẳng bao lâu nữa tư nhân hóa
hết, vậy là không làm đúng Nghị quyết Trung
ương 3 khóa IX: "Cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước không được biến
thành tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước".
Vấn đề kinh tế thị
trường định hướng XHCN vẫn là
đại vấn đề, cực kỳ hóc búa, c̣n
phải tiếp tục nghiên cứu, thảo luận
làm rơ, đừng tưởng mấy cuộc hội
thảo trước đây thế là xong. Tôi nghĩ
rằng khái niệm "kinh tế thị
trường định hướng XHCN" là
một bước tiến của Đảng ta trong
quá tŕnh t́m ṭi, đổi mới lư luận, nhưng
chưa nên vội coi đây là "mô h́nh kinh tế
tổng quát", khi nó đang là một phác thảo,
một thử nghiệm, chưa được
định h́nh trong cuộc sống thực tế và
có sự vận động một cách tất nhiên,
tự nhiên. Nền kinh tế thị trường
nước ta đang rất sơ khai, c̣n ngổn
ngang, bề bộn, đầy những rủi ro,
bất trắc.
Thật ra, "Kinh tế thị
trường định hướng xă hội chủ
nghĩa" là công thức rút gọn từ công
thức đầy đủ được ghi trong
Cương lĩnh 1991 như sau: "Phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lư
của nhà nước". Phải chăng công
thức rút gọn không muốn dùng khái niệm
"nhiều thành phần" và muốn tránh cách diễn
đạt "vận hành theo cơ chế thị
trường", v́ cho rằng thị trường
định hướng xă hội chủ nghĩa
đă là thuộc tính vốn có trong tự thân kinh
tế, c̣n gọi là "cơ chế thị
trường" th́ dường như nó là nhân tố
chủ quan từ nhà nước đưa vào, muốn
vận dụng hay không vận dụng cũng
được. Tôi cho rằng công thức cũ tuy dài
một chút nhưng chặt chẽ hơn, đầy
đủ ư nghĩa hơn; công thức mới dùng
cũng được, nhưng phải hiểu
đúng và cần thấy nó c̣n ẩn chứa những
điều chưa rơ. Đúng là có vấn đề
ở chỗ khái niệm "kinh tế thị
trường định hướng XHCN" phải
chăng tự thân nó đă hàm nghĩa sự thống
nhất hữu cơ, bên trong giữa định
hướng XHCN với kinh tế thị trường,
sự thống nhất tự nhiên giữa tính chất
XHCN và thuộc tính thị trường, chứ không
phải như hai mảnh ghép vào nhau? Đó là then
chốt, cốt lơi của vấn đề, tranh
luận đă nhiều nhưng xem ra, trong sâu xa, vẫn
chưa thật nhất trí, đề nghị nghiên
cứu tiếp để vấn đề
được triệt để sáng tỏ. Vấn
đề càng trở nên phức tạp khi gần
đây với khái niệm "xă hội hóa",
xuất hiện khuynh hướng tư nhân hóa tràn lan,
thương mại hóa, thị trường hóa
nhiều sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y
tế, truyền thông, v.v... Nên chú ư rằng ngay một
số đảng xă hội dân chủ cũng chỉ
nói: kinh tế thị trường - đồng ư!
Nhưng xă hội thị trường - không!
Là kinh tế thị trường
định hướng XHCN, nhưng không nhất
thiết bao giờ và trong văn cảnh nào cũng
phải nói định hướng XHCN; có điều
rất nhiều người, chẳng hiểu dụng
ư hay vô t́nh, đă cắt béng cái cụm từ bổ
ngữ "định hướng XHCN", mà luôn
luôn, ngay cả những khi không thể thiếu nó,
chỉ cứ "kinh tế thị trường",
"kinh tế thị trường". Điều
này phải chăng khách quan nói lên rằng kinh tế
thị trường tự nó không cần bổ
ngữ hay tính từ và đối với một
số người th́ thực sự họ chẳng
cần định hướng xă hội chủ
nghĩa. Vậy, đây vẫn là một trong những
vấn đề lư luận mấu chốt và hóc búa
nhất, chưa được làm sáng tỏ
đầy đủ và triệt để, rất
cần được tiếp tục nghiên cứu sâu
sắc, đến nơi.
Tính phức tạp của vấn
đề càng tăng thêm khi đặt nền kinh
tế thị trường trong bối cảnh hội
nhập toàn cầu mà có đồng chí h́nh dung sai
rằng sẽ tiến đến một thị
trường thế giới thống nhất, nhất
thể hóa, cả trong các thể chế, cả trong
tổ chức vận hành, trong đó những nền
kinh tế thị trường hiện đại và
hiện đại nhất ở những nước
phát triển cao giữ vai tṛ là kiểu mẫu, là
động lực, là đầu tàu. Hội nhập
như thế thực ra là ḥa tan, c̣n đâu nền kinh
tế độc lập tự chủ, nói ǵ
đến kinh tế thị trường định
hướng XHCN, c̣n đâu chủ quyền quốc gia
dân tộc, nói ǵ đến con đường XHCN đă
lựa chọn. Đó là hệ quả lôgic của
một quan điểm lư luận đơn giản,
trừu tượng, không thấy tính hai mặt
vừa tích cực vừa tiêu cực của toàn
cầu hóa; không thấy toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế thế giới là những quá tŕnh
đầy mâu thuẫn phức tạp, ngày càng phức
tạp và không chỉ trên mặt kinh tế.
Đảng ta,
đất nước ta c̣n tiếp tục con
đường XHCN nữa hay không trước hết
phải giải quyết sự chưa nhất trí
ở những vấn đề nêu trên. Kết
thúc phần này chỉ xin nói thêm về định
nghĩa tính chất thời đại. Có đồng
chí cho rằng định nghĩa "thời
đại chúng ta là thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm
vi thế giới bắt đầu từ Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917", đă lỗi
thời, không đúng nữa, không dùng được
nữa. Tôi cho rằng quan điểm như thế là
một bước lùi về lập trường
cơ bản, xuất phát. Bởi nếu như
vậy th́ sự nghiệp cách mạng, con
đường XHCN mà Bác Hồ và Đảng ta đă
lựa chọn không c̣n cơ sở quy luật lịch
sử nữa, vậy ta đi con đường nào
đây? Đương nhiên, nếu chỉ khẳng
định con đường dài thời đại
th́ chưa đủ, c̣n phải tính đến
những đặc điểm cụ thể của
thế giới trong từng giai đoạn để
có những bước đi thực tế.
III - Giữ vững bản chất
giai cấp công nhân của Đảng
Vấn đề đặt ra là có nên
giữ như Điều lệ hiện hành quy
định: "Đảng ta là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân
lao động, của dân tộc", hay nên sửa
đổi lại như Dự thảo Điều
lệ mới: "Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam;
đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân
tộc".
Tôi cho rằng công thức sửa
đổi ấy có ba nhược điểm:
Một là, hiểu khái niệm
"đội tiên phong" chung chung, chưa trúng vào
điểm cốt lơi.
Hai là, do đó khiến bản
chất (tính chất) giai cấp của Đảng
bị nhạt nḥa, bị loăng đi, dễ khiến
người ta hiểu ra rằng Đảng ta là Đảng
của nhiều giai cấp. Đảng toàn dân,
điều mà xưa nay chưa bao giờ và chưa
ở đâu có Đảng chính trị như vậy.
Ba là, sẽ gặp lúng túng khi
giải thích thế nào là "đội tiên phong
của nhân dân lao động và của dân tộc".
Mấu chốt vấn đề, theo
tôi, là ở chỗ phải hiểu đúng khái niệm
"đội tiên phong". "Đội
tiên phong" là xét về lư luận, đường
lối chính trị, hệ tư tưởng. Theo
Lê-nin: "Chỉ đảng nào có lư luận tiền
phong mới làm tṛn vai tṛ chiến sĩ tiền
phong". Nói Đảng ta là đội tiên phong
của giai cấp công nhân là căn cứ trên các tiêu chí
đó. Đảng ta sở dĩ được nhân
dân lao động và cả dân tộc nhận là
Đảng của chính ḿnh và một ḷng theo
Đảng v́ Đảng Cộng sản Việt Nam là
đội tiên phong về lư luận, đường
lối chính trị, hệ tư tưởng của
giai cấp công nhân - một giai cấp cách mạng
nhất, lợi ích của giai cấp này phù hợp hoàn
toàn với lợi ích của nhân dân lao động và
lợi ích cả dân tộc; nó là giai cấp không
thể giải phóng ḿnh nếu không đồng
thời giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao
động, giải phóng toàn xă hội. Tính triệt
để cách mạng ấy có được là do
điều kiện tồn tại và vị trí khách quan
của giai cấp công nhân trong phương thức
sản xuất xă hội quy định. Thử
hỏi ở nước ta có giai cấp nào khác có
được tính cách mạng triệt để
như vậy để đóng vai tṛ tiền phong, có
lư luận cách mạng tiền phong, chính trị
tiền phong, hệ tư tưởng tiền phong? Thử hỏi ngoài giai cấp công nhân,
c̣n có giai cấp nào khác trong nhân dân lao động, trong
dân tộc có đội tiên phong cách mạng của
ḿnh? Chẳng lẽ có hai "đội tiên
phong"? Hoặc chẳng lẽ Đảng ta có hai
bản chất, hay hai tầng bản chất, một
của giai cấp công nhân, một của nhân dân lao
động và cả dân tộc. Nhưng nếu vấn
đề lại chỉ là và chính là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, như vậy th́ hà
tất phải thêm vế "đồng
thời...", cái vế này chỉ làm rối thêm
nhận thức, làm nhạt đi bản chất giai
cấp công nhân của Đảng, dễ dẫn
đến cách hiểu sai lầm Đảng ta là
Đảng của nhiều giai cấp, Đảng
toàn dân!
Có lập luận cho rằng đặc
điểm cách mạng nước ta là Đảng ta
ra đời từ phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, sự nghiệp giải phóng giai cấp
công nhân gắn liền với sự nghiệp giải
phóng dân tộc, Đảng ta đă là người lănh
đạo của giai cấp công nhân và của cả
dân tộc, v́ vậy, phải bổ sung điều
khoản trong Điều lệ về tính chất
Đảng sao cho vừa có tính giai cấp vừa có
tính dân tộc để phản ánh đầy
đủ "bản chất vốn có của
Đảng từ ngày thành lập đến nay"
(trang 4-5 Báo cáo dự thảo Điều lệ
Đảng). Vậy hăy đặt lại vấn
đề: Thử hỏi suốt 75 năm qua
định nghĩa về tính chất Đảng trong
Điều lệ hiện hành có ǵ gây hại mà nay
phải sửa đổi?
Nhân bàn về bản chất giai cấp
của Đảng, xin được nói rộng ra
một chút về vấn đề lập
trường, quan điểm giai cấp nói chung. Trong
những biểu hiện suy thoái về tư
tưởng chính trị hiện nay ở một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,
có hiện tượng thiếu vững vàng về
lập trường, quan điểm giai cấp.
Trước đây có lúc chúng ta phạm sai lầm
"tả" khuynh, quá nhấn về giai cấp,
về đấu tranh giai cấp và đă phải
trả giá đắt. Ngày nay, không ít đồng chí
lại phạm sai lầm chuyển từ cực
nọ sang cực kia, đến chỗ xem nhẹ
vấn đề giai cấp, đi đến phủ
nhận ngay cả sự tồn tại của các giai
cấp, của đấu tranh giai cấp. Có lập
luận rằng xă hội ta hiện nay không c̣n giai
cấp, chỉ c̣n các tầng lớp và nhóm xă hội;
rằng không c̣n cơ sở để phân chia các thành
phần kinh tế bởi tất cả đều
đă hỗn hợp, đan xen, do đó cơ sở
kinh tế để phân định giai cấp cũng
không c̣n.
Xét về nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến sụp đổ chế độ
XHCN ở Liên Xô, tôi cho rằng đó là sự xa
rời, từ bỏ lập trường quan
điểm mác-xít về giai cấp trong
đường lối cải tổ, là sự thay
thế vào đó bằng cái gọi là "tư duy chính
trị mới", thực chất là hệ tư
tưởng tư sản, là đường lối thỏa
hiệp, đầu hàng chủ nghĩa đế
quốc, giúp chúng không đánh mà thắng. Đảng ta
không thể không đặc biệt chú ư suy ngẫm
từ bài học chết người đó.
Đảng ta đă và đang cố gắng giải
quyết tốt mối quan hệ giữa giai cấp
và dân tộc. Yếu tố dân tộc là một sức
mạnh kỳ diệu trong truyền thống lịch
sử và trong cách mạng nước ta, nếu coi
nhẹ sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng.
Nhưng có quan điểm cho rằng ở ta giữa
giai cấp và dân tộc th́ phải coi trọng lập
trường dân tộc hơn; quan điểm đó ít
nhất là phiến diện. Chỉ trên lập trường
giai cấp công nhân, quan điểm và phương pháp
phân tích giai cấp thật sự mác-xít Lê-nin nít chứ
không giản đơn, thô thiển, cảm tính mới
có thể nhận thức và giải quyết đúng
đắn vấn đề dân tộc, mới
hiểu đầy đủ lợi ích dân tộc,
sức mạnh dân tộc, mới phát huy
được tối đa và đúng hướng
sức mạnh dân tộc.
Có ư kiến cho rằng chủ nghĩa
Mác - Lê-nin chú trọng giai cấp, tư tưởng
Hồ Chí Minh chú trọng dân tộc. Ư kiến này
cũng không đúng. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đâu
chỉ biết có giai cấp mà nó là học thuyết
cách mạng giải phóng toàn thể những
người lao động, giải phóng cả dân
tộc, cả xă hội, cả loài người. Và nếu không có chủ nghĩa Mác -
Lê-nin th́ đă không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư
tưởng của Hồ Chí Minh sở dĩ trở
thành tư tưởng Hồ Chí Minh là nhờ chủ
nghĩa yêu nước cao độ ở Hồ Chí
Minh bắt gặp học thuyết cách mạng và khoa
học nhất của thời đại là chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đă nâng
chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh lên
một tầm cao mới về chất. Nhờ đó
Hồ Chí Minh vượt qua được những
hạn chế ở các chí sĩ yêu nước
đương thời như các cụ Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, mở ra con đường mới và
giành thắng lợi cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc. Cho
nên, nếu đề cao tư tưởng Hồ Chí
Minh bằng cách tách rời, hạ thấp, thậm chí
đối lập lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin là -
về khách quan - hạ thấp chính Hồ Chí Minh và
tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải thấy
đầy đủ Hồ Chí Minh vừa là nhà mác-xít
Lê-nin nít vĩ đại, người cộng sản
vĩ đại, vừa là nhà yêu nước vĩ
đại, không những tuyệt đối trung thành
với lư tưởng yêu nước và cách mạng mà
c̣n rất sáng tạo, đặc biệt trong việc
giải quyết một vấn đề lư luận và
chính trị hết sức cơ bản và phức
tạp của cách mạng là mối quan hệ giữa
giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế,
Người đă góp phần to lớn phát triển
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đặc biệt về lư
luận cách mạng thuộc địa.
IV - Vấn đề tiêu chuẩn
đảng viên
Để mở đường
đưa tư bản tư nhân vào Đảng, hay
để cho phép đảng viên làm kinh tế tư
bản tư nhân, một con đường ngoắt
ngoéo đă đi qua. Bắt đầu là "xóa",
không c̣n nói đến thành phần kinh tế tư
bản tư nhân (Nghị quyết Trung ương 5
khóa IX) đưa nó ḥa tan chung với kinh tế cá
thể, kinh tế tiểu chủ trong cùng khái niệm
"kinh tế tư nhân". Có điều, chỉ
"xóa" được nó trên văn bản chứ
làm sao xóa được thành phần kinh tế tư
bản tư nhân trong hiện thực thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xă hội?
Nay Văn kiện Dự thảo mới
lại trở về với nhiều thành phần kinh
tế nhưng cách tŕnh bày c̣n rất dè dặt và về
thực chất vẫn chưa thoát hẳn sự
đánh đồng, trái với nguyên tắc giai
cấp, kinh tế tư bản tư nhân với
tiểu chủ và với kinh tế cá thể trong khái
niệm "kinh tế tư nhân". Liên quan vấn đề đảng viên
làm kinh tế tư bản tư nhân, dự thảo
mới vẫn tránh nói kinh tế tư bản tư
nhân mà đưa lẫn vào trong một biến báo
mới: "Đảng viên làm kinh tế tư nhân
không giới hạn về quy mô". Điều
đó có nghĩa là ǵ? Có nghĩa là có thể làm giàu
hết cỡ, làm tư bản tư nhân hết
cỡ, có thể bóc lột hết cỡ mà (với
những điều kiện nhất định?) có
thể được làm đảng viên, như
vậy có trái sờ sờ với "lẽ tự
nhiên" như Bác Hồ nói không? Nhưng tại sao
một chính sách mới của Đảng quan trọng
như thế mà lại không nói thẳng thắn,
đàng hoàng, minh bạch, thậm chí không gọi sự
vật đúng tên của nó? Chỉ riêng điều
đó đă là một điểm yếu căn bản
của "quan điểm mới". Cần
nhận thức rằng: Những điều khoản
ghi trong Điều lệ Đảng - giống như
các điều luật - phải rất rơ ràng, chặt
chẽ, xác định, chứ không thể nói một
cách mơ hồ, chung chung. Đề nghị ban
soạn thảo văn kiện xem kỹ lại cả
mục 2 và mục 3 trong Dự thảo Điều
lệ Đảng tŕnh bày tính chất Đảng và
vấn đề đảng viên làm kinh tế tư
bản tư nhân có nhiều lư lẽ chưa rơ, cả
trên quan điểm lư luận.
Có người nói: "Không thể v́ lư
luận chưa rơ mà cản trở thực
tiễn". Đặt vấn đề như
vậy sẽ dẫn đến quyết định
phiêu lưu. Đảng ta, một Đảng cách
mạng tự giác không thể ra quyết sách theo
kiểu đó.
Trước sau tôi vẫn không
đồng ư quan điểm trong Đảng có thể
có tư bản tư nhân, với những lư lẽ
như sau:
Nói về tiêu chuẩn đảng viên,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
"Đảng phải thật trong sạch, mạnh
mẽ. V́ vậy đảng viên cũng phải
thật trong sạch, mạnh mẽ tức là phải
đúng những tiêu chuẩn sau đây:
- Không bóc lột người.
Đảng chống chế độ
"người bóc lột người". Lẽ
tự nhiên, ai bóc lột người th́ không thể làm
đảng viên". (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập
7, tr.237).
Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh,
cũng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và như thế là
rơ. Đảng Cộng sản mà lại cho phép
đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân,
kết nạp vào hàng ngũ của ḿnh cả chủ
tư bản th́ thật trái với "lẽ tự
nhiên". Đă là "lẽ tự nhiên" nên đáng
ra không phải bàn luận, tranh luận nhiều. V́
vậy, tôi đề nghị trong Điều lệ
mới, bỏ mấy chữ "có lao động,
không bóc lột" trong điểm 1 điều 1
chương Đảng viên. C̣n điểm 2
điều 2 viết như sau: "2- Công dân Việt
Nam là người lao động (trí óc và chân tay) từ
18 tuổi trở lên... đều có thể
được xét để kết nạp vào Đảng".
Đảng là tổ chức chính
trị. Đảng viên là chiến sĩ chính trị,
chiến sĩ cách mạng. Vấn đề
đảng viên là vấn đề chính trị,
vấn đề giai cấp chứ không phải
vấn đề kinh tế, vấn đề lực
lượng sản xuất. Để huy động
mọi tiềm năng phát triển sản xuất và
lực lượng sản xuất, điều
cốt yếu là Đảng và Nhà nước phải
có chính sách cơ chế thông thoáng, thích hợp; không
phải cứ kết nạp một số nhà tư
bản vào Đảng là giải quyết
được vấn đề. Không thể từ
thuyết duy lực lượng sản xuất
để giải quyết vấn đề kết
nạp đảng viên. Không nên giáo điều sao chép
bên ngoài. Vấn đề đảng viên chính là
vấn đề Đảng; phải xuất phát
từ Đảng chứ không phải từ lực lượng
sản xuất để nói về đảng viên; nói
về đảng viên tức nói về Đảng.
Không thể lược quy Đảng về lực
lượng sản xuất, bởi từ lực
lượng sản xuất, đến quan hệ
sản xuất, từ quan hệ sản xuất
đến giai cấp, từ giai cấp rồi mới
đến đảng. Đảng là chính đảng,
là đội tiên phong chính trị của giai cấp. Một người đảng viên,
nhất là trong cách mạng XHCN, v́ vậy, không thể
vừa là chiến sĩ cộng sản lấy
việc xóa bỏ chế độ bóc lột làm lư tưởng
đời ḿnh, lại vừa làm ông chủ tư
bản lấy bóc lột lợi nhuận làm lẽ
sống. Người đảng viên cũng là
công dân nhưng không phải mọi điều công dân
được làm th́ đảng viên cũng
được làm bởi đối với
đảng viên, ngoài pháp luật c̣n phải tuân theo
Điều lệ Đảng; nếu anh cho như
vậy là đảng viên không bằng công dân, là mất
quyền tự do công dân, th́ nào có ai bắt buộc anh
vào Đảng!
Ngay điều này cũng cần
nhận rơ: đảng viên phải là người lao
động nhưng không phải bất kỳ
người công nhân, lao động nào cũng có
thể là đảng viên! Chưa nói cá nhân từng
người công nhân, đến cả bản thân phong
trào công nhân nếu tự phát th́ nhiều lắm
cũng chỉ vươn tới chủ nghĩa công
đoàn mà chủ nghĩa công đoàn, theo Lê-nin, vẫn
chưa ra khỏi khuôn khổ hệ tư tưởng
tư sản.
Với người lao động, không
bóc lột đă như vậy, th́ đối với
ông chủ tư bản làm sao có thể dễ dàng
trở thành người cộng sản? Thật không
có ǵ sai bằng lập luận thế này: Ta đang
ở thời kỳ quá độ, vậy trong thành
phần xă hội của đảng viên cũng có
sự quá độ. Nói thế khác ǵ quan điểm
cho rằng kinh tế nhiều thành phần th́ chính
trị tất yếu phải đa đảng và
tư tưởng trong Đảng tất yếu
cũng phải đa nguyên. Cũng không đúng ư
kiến cho rằng thời kỳ cách mạng dân
tộc dân chủ Đảng đă từng kết
nạp cả một số địa chủ, tư
sản th́ tại sao bây giờ lại không thể
kết nạp một số tư bản tư nhân,
rằng cách mạng có giai đoạn, nguyên tắc
cũng thay đổi theo giai đoạn! Ở đây
cần lưu ư một thực tế quan trọng: ranh
giới giác ngộ thời cách mạng dân tộc dân
chủ, thời kháng chiến rất rạch ṛi và
rất dễ rạch ṛi: một đại
điền chủ, một nhà tư sản có thể
từ bỏ giai cấp ḿnh, vứt bỏ một cách
dứt khoát, nhẹ nhàng và c̣n đầy tự hào
nữa, cả cơ ngơi tài sản, điền
sản của ḿnh để đi theo kháng chiến,
rồi được cách mạng giáo dục và rèn
luyện trong quá tŕnh đấu tranh gian khổ,
khốc liệt, dần trở thành chiến sĩ
cộng sản. C̣n trong cách mạng XHCN ngày nay th́ sao?
Một là, những điều kiện khốc
liệt như thế để tôi luyện con
người đă không c̣n. Hai là, trong điều
kiện ḥa b́nh xây dựng thông qua kinh tế thị
trường, khó mà h́nh dung được một nhà
tư sản đang đường đường
là một ông chủ lấy lợi nhuận (và lợi
nhuận tối đa!) làm mục tiêu, ngày đêm
phải vắt óc suy nghĩ và xoay xở đủ cách
(chính đáng và không chính đáng, hợp pháp và phi pháp)
để đạt kỳ được mục tiêu
đó (nếu không th́ ông ta không là nhà tư bản), làm
sao một người như thế đồng
thời đêm ngày lo nghĩ được sự nghiệp
XHCN của Đảng, làm tṛn nhiệm vụ một
đảng viên, toàn tâm toàn ư phục vụ nhân dân?
Động cơ vào Đảng của họ làm sao có
thể trong sáng được, làm sao họ có thể
tự nguyện rời bỏ giai cấp ḿnh
để hy sinh tất cả cho lư tưởng
cộng sản, một chế độ không có người
bóc lột người. Trái lại, họ vào
Đảng cốt t́m kiếm chỗ dựa quyền
lực để dễ bề làm ăn, kinh doanh. Ta biết rằng thời nay quyền
lực và tiền bạc, tiền bạc và quyền
lực thường dễ móc nối với nhau ranh ma
quỷ quái thế nào. Và thật vô cùng nghịch
lư khi nghĩ rằng kết nạp cả tư
sản để mở rộng cơ sở xă
hội, cơ sở quần chúng cho cách mạng XHCN!
Quần chúng công nông, các lực lượng vũ trang
con em công nông sẽ hỏi chúng ta ngay: vậy các anh là
Đảng của ai?
Đặt vấn
đề có tính nguyên tắc: "Những
người cộng sản khác những người
vô sản khác ở chỗ nào?", C.Mác và
Ph.Ắng-ghen trả lời: "Trong các giai
đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh
giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn
đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong
trào" (Mác và Ắng-ghen, Toàn tập, tập 4, tr.614).
So với người vô sản, người công nhân
b́nh thường, tố chất người cộng
sản đă phải cao hơn hẳn như vậy
bởi đây là tố chất người công nhân giác
ngộ về sứ mệnh lịch sử của toàn
bộ giai cấp, về lợi ích của toàn bộ
phong trào, họ là chiến sĩ chính trị, chiến
sĩ cách mạng. Nếu không
nhận thức đến nơi như vậy,
nếu hạ tiêu chuẩn đ̣i hỏi ở
người cộng sản xuống đến
mức người lao động tốt b́nh
thường đă không đúng th́ càng không thể
chấp nhận sự hạ thấp tiêu chuẩn
người đảng viên cộng sản xuống
đến mức người tư sản chỉ có
tốt b́nh thường. Người tư
sản tốt, chấp hành đầy đủ và
nghiêm chỉnh đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật nhà nước, ra sức làm
giàu một cách chân chính cho ḿnh và cho đất
nước là rất quư đối với đất
nước và xă hội ta hiện nay. Đảng và nhà
nước có chính sách khuyến khích điều đó.
Xă hội tôn vinh những người đó. Nhưng
chỉ như vậy đâu phải người đó
đă đạt tiêu chuẩn đảng viên cộng
sản.
Tóm lại, bảo đảm đúng tiêu
chuẩn đảng viên theo "lẽ tự nhiên"
đơn giản và chí lư như Bác Hồ chỉ ra là
một trong những điều kiện cơ bản
và tiên quyết để giữ vững bản
chất giai cấp công nhân của Đảng.
V - Về độc lập tự
chủ và sáng tạo trong lư luận
Đảng ta vốn có truyền
thống độc lập tự chủ và sáng tạo
trong đường lối - độc lập tự
chủ và sáng tạo trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhờ đó mới có thắng lợi của Cách
mạng Tháng Tám, thắng lợi của các cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc, mới đứng vững
trước những sóng gió quốc tế, mới có
những thành quả đổi mới 20 năm nay...
Trong lịch sử, Đảng ta cũng có thời
kỳ thiếu độc lập tự chủ,
thiếu sáng tạo, sa vào chủ nghĩa giáo
điều, rập khuôn, gây tổn thất lớn.
Những khuyết điểm đó đă
được Đảng ta tự phê b́nh nghiêm
khắc và đă rút ra những bài học thấm thía,
nhất là ở Đại hội VI.
Giai đoạn hiện nay, t́nh h́nh càng
đ̣i hỏi Đảng ta nâng cao hơn nữa tính
độc lập tự chủ và sáng tạo trong lư
luận và đường lối tiến lên chủ
nghĩa xă hội. Đó là v́: một là, thế
giới diễn biến ngày càng muôn vẻ, phức
tạp, khôn lường; hai là, sự nghiệp
đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu,
nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều
mâu thuẫn mới xuất hiện. Ba là, phong trào
cộng sản quốc tế hiện nay không có h́nh
thức tổ chức, phối hợp đấu tranh
chung; tuy vẫn coi trọng học tập kinh
nghiệm của nhau, nhưng mỗi Đảng hoàn
toàn độc lập tự chủ trong quyết
định đường lối cách mạng mỗi
nước. Những t́nh h́nh đó đặt ra yêu
cầu ngày càng cao về năng lực tự chủ,
sáng tạo trong xây dựng và phát triển
đường lối trên cơ sở một hệ
thống quan điểm có căn cứ khoa học
vững chắc và phù hợp t́nh h́nh đặc
điểm mỗi nước.
Vậy, để đẩy tới
tư duy lư luận, làm sáng tỏ hơn nữa lư
luận về chủ nghĩa xă hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xă hội
ở nước ta th́ phải làm ǵ và làm thế nào
đây? Tôi nghĩ phải tổng kết thực
tiễn một cách thật sâu sắc, quy mô, cơ
bản và có hệ thống con đường
đất nước đă đi từ sau 1975
(chứ không chỉ 20 năm đổi mới),
thậm chí chừng nào đó có thể phải ngoái
lại 20 năm (1955 - 1975) xây dựng chủ nghĩa
xă hội trên miền Bắc. Phải nghiên cứu
kỹ những bài học 75 năm xây dựng chủ
nghĩa xă hội ở Liên Xô và những bài học
của sự "sụp đổ". Phải nghiên
cứu kỹ những kinh nghiệm cải cách mở
cửa của Trung Quốc, những kinh nghiệm
của Cu-ba và các nước khác. Phải nghiên cứu
rất kỹ các quá tŕnh, xu thế lớn và triển
vọng phát triển thế giới ngày nay. Cần
nhận thức lại thật sâu sắc, chính xác trong
tinh thần gắn chặt với thực tiễn -
lịch sử, những giá trị kinh điển Mác -
Lê-nin, đồng thời cần tổng kết có phê
phán quá tŕnh lịch sử nhận thức trước
đây về những di sản đó. Vậy là đ̣i
hỏi bao công tŕnh và nỗ lực trí tuệ lớn,
vô cùng phức tạp, công phu. Trên cơ sở những
thành quả tổng kết đó, vạch ra những
đặc điểm và điều kiện
nước ta quá độ lên chủ nghĩa xă
hội; những quy luật hay tính quy luật trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă
hội ở nước ta; những phương
hướng cơ bản trên con đường
tiến lên; những thuận lợi và khó khăn,
thời cơ và thách thức, v.v...
Ở đây, tôi muốn nêu ra một
băn khoăn, trăn trở mà tôi hằng ấp
ủ lâu nay, xin mạnh dạn nói ra để mọi
người cho ư kiến và cùng nhau trao đổi, cùng
nhau suy nghĩ.
Điều tôi băn
khoăn, trăn trở ở chỗ: tư duy lư
luận của chúng ta về chủ nghĩa xă hội
lâu nay đă thật sự độc lập tự
chủ hay chưa? đă thật sự sáng tạo trên
mảnh đất Việt Nam hay chưa? Trung Quốc
nói "chủ nghĩa xă hội mang đặc sắc
Trung Quốc". Vậy Việt Nam đă thật
sự có một lư luận và đường lối
của ḿnh tiến lên CNXH trong thời kỳ quá
độ hay chưa?
Trước hết trong lĩnh vực
tư duy kinh tế, phải chăng về cơ
bản và đại thể chúng ta vẫn suy nghĩ
trong cái khung lư luận của Đảng bạn. Không
chỉ trong lĩnh vực kinh tế, cả
đến không ít khái niệm chính trị và về
Đảng nữa, chẳng hạn vấn đề
Đảng của ai, ai là đảng viên, rơ ràng
cũng có t́nh h́nh đó. Đành rằng, Đảng
bạn rất giàu kinh nghiệm (thành công, không thành công,
chưa thành công) chúng ta có thể và cần chăm chú
tham khảo, học hỏi, nhưng cũng phải
thấy mỗi nước có "đặc
sắc" riêng.
Đương nhiên, vấn đề
không phải ở sự trùng hợp h́nh thức trên
các khái niệm sự trùng hợp ấy tự nó không
có lỗi. Vấn đề là ở thực chất,
nội dung của các khái niệm có phù hợp hay không,
phù hợp đến mức nào với khoa học,
với t́nh h́nh hoàn cảnh, vị trí và điều
kiện thực tế mỗi nước. Đó là
chưa nói đường lối Đảng ta
lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam, c̣n
Đảng bạn nói có chỗ giống, có chỗ khác
ta.
Cho nên, thật sự tôi có những
băn khoăn, trăn trở về cái khung các khái
niệm lư luận, cho đến nay tư duy chúng ta
về đại thể vẫn vận động
trong đó, đă thể hiện được rơ hay
chưa tính độc lập tự chủ và sáng
tạo? Thêm nữa, cần chỉ ra rằng bên
cạnh đó - và ở mức độ không kém
nặng nề - lại c̣n khuynh hướng giáo
điều theo phương Tây. Từ hai khuynh
hướng đó gộp lại cho thấy ǵ?
Phải chăng trong khi chủ nghĩa giáo điều
cũ thời Xô-viết chưa thanh toán hết, th́
chủ nghĩa giáo điều mới đang nổi
lên có thể trở thành nguy cơ chính nếu chúng ta
không tự vượt được chính ḿnh.
Điều nguy hiểm ở chỗ chúng ta chưa
nhận thức ra cái nguy cơ chệch hướng
đó, một sự chệch hướng căn
bản về phương pháp lư luận, hậu
quả lớn có thể chưa thấy ngay nhưng
với thời gian (chắc không lâu như thời giáo
điều cũ) thực tiễn sẽ cho thấy
rơ.
Vậy th́ có thể đề xuất
điều ǵ mới để thoát khỏi tư duy
sao chép, rập khuôn? Tôi nghĩ Đảng ta,
trước hết là giới lư luận nên đặc
biệt quan tâm vấn đề này. Mô h́nh tổng quát
về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở
Việt Nam nói chung, căn bản đă được
vạch ra ở Cương lĩnh của Đảng
năm 1991. Riêng về mô h́nh tổng quát nền kinh
tế nước ta trong giai đoạn hiện nay
của thời kỳ quá độ xây dựng chủ
nghĩa xă hội, xin thử nêu một phương án
như sau để chúng ta cùng suy nghĩ, trao
đổi, thảo luận:
"Đó là nền kinh tế nhiều
thành phần trong đó kinh tế nhà nước là
chủ đạo, một nền kinh tế thị
trường có kế hoạch, có sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước
dưới nhiều h́nh thức thích hợp,
đồng thời thông qua chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, ra sức tranh
thủ những thành quả của cách mạng khoa
học, công nghệ hiện đại và kinh tế tri
thức, nhằm đẩy nhanh quá tŕnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xă
hội, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân".
Mô h́nh được phác họa như
trên c̣n thô sơ, nhưng điều chủ yếu tôi
muốn nêu ra ở đây là thử t́m xem những
yếu tố ǵ có thể là cần thiết và tất
yếu phải được tính đến khi xác
định mô h́nh kinh tế tổng quát thay cho "mô
h́nh tổng quát" nói quá gọn hiện nay
("nền kinh tế thị trường
định hướng xă hội chủ
nghĩa"), v́ quá gọn nên có thể ẩn chứa
những nhược điểm nhất định.
Tháng 1-2006
Trích: Nhân dân, 23.2.06
TÀI
LIỆU TỪ TRONG NƯỚC
Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh
NGUYỄN
ĐỨC B̀NH
LTS: Bài dứơi
đây đă được đăng trên tờ Nhân
dân ngày 23.2.06. Nguyễn
Đức B́nh, nguyên Ủy viên Bộ chính trị hai
khóa 7 và 8 (1991-2001). Trong thời gian 10 năm này ông
phụ trách Công tác tư tưởng và khoa giáo,
đồng thời c̣n là Chủ tịch Hội
đồng Lí luận Trung ương và Giám đốc
Học viện Chính trị Quốc gia HCM. Như
thế ông B́nh được coi là lí thuyết gia
của ĐCSVN.
Về lí do ǵ mà Nguyễn Đức
B́nh đă viết bài này, xin xem bài phân tích „Đại
hội 10 đi về đâu? Phe bảo thủ
độc tài theo đuổi ư đồ ǵ khi công
bố bài của Nguyễn Đức B́nh“ của TS Âu
Dương Thệ trong phần Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử.
Là một đảng viên, với ư
thức xây dựng Đảng, tôi xin có năm kiến
nghị kính gửi Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X.
Bên cạnh những thành tựu có ư
nghĩa lịch sử và ư nghĩa thời đại
mà nhân dân ta đă làm nên dưới sự lănh
đạo của Đảng, Đảng ta đang phải đối
mặt với hai vấn đề có ư nghĩa
sống c̣n:
Một là, phải làm sao Đảng
thật trong sạch.
Hai là, phải xây dựng Đảng
thật vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và lư luận.
Tôi xin nêu một số ư kiến liên quan
vấn đề thứ hai, có ư kiến chỉ
mới nêu để rộng đường suy nghĩ
và tiếp tục nghiên cứu.
I - Đă đến lúc tất cả
phải được đặt lên bàn nghị
sự
Ngay từ năm 1927 chuẩn bị thành
lập Đảng, trong cuốn Đường kách mệnh,
Bác Hồ đặt vấn đề cách mệnh
trước hết phải có cái ǵ? Người
chỉ rơ: "Trước hết phải có
đảng cách mệnh" và "Đảng có vững
cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy".
Thực tiễn cách mạng Việt Nam
75 năm qua chứng minh Đảng ta thực sự là
một Đảng mác-xít Lê-nin nít vững mạnh.
Trên chính trường Việt Nam,
Đảng ta có thế mạnh tuyệt đối từ
bề dày lịch sử và kinh nghiệm đấu
tranh cách mạng dẫn dắt dân tộc ta làm nên bao
chiến công kỳ tích đổi đời suốt
quá tŕnh hơn hai phần ba thế kỷ. Đảng ta
mạnh v́ đường lối độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xă
hội như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trước đây, hiện nay và cả trong
tương lai không ǵ thay thế được.
Bởi ở nước ta không có đất cho
một đường lối chính trị nào khác
tốt hơn khả dĩ được nhân dân
chấp nhận ngoài đường lối
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă
hội. Khách quan lịch sử mà nói, một
đường lối khác, chẳng hạn
đường lối xă hội dân chủ ai đó
đang mơ tưởng, dù có tô vẽ ngụy trang
thế nào đi nữa th́ rốt cuộc vẫn không
thể ǵ khác là một đường lối
đưa dân tộc ta đi con đường tư
bản hoang dă tồi tệ nhất, cuối cùng không
tránh khỏi trở lại số phận nô lệ hay
phụ thuộc vào các thế lực đế
quốc, phản động, thực dân mới
kiểu mới.
Trong khi khẳng định những
chỗ mạnh cơ bản của Đảng ta, chúng ta
vẫn không quên những mặt c̣n yếu trong đó có
mặt tiềm ẩn nguy cơ không thể xem
thường. Tôi cho rằng sự thiếu nhất trí
trong Đảng là một trong số mặt yếu đó.
T́nh trạng thiếu nhất trí từng
được nhiều văn kiện Đảng
trước đây nói đến và ngay trong các dự
thảo lần đầu báo cáo tổng kết lư
luận và thực tiễn 20 năm đổi mới
cũng như các Văn kiện khác chuẩn bị cho
Đại hội X cũng nêu lên hàng loạt những
vấn đề c̣n có quan điểm khác nhau. Tuy
vậy, thiếu nhất trí thực
chất là ở chỗ nào, quan điểm khác nhau ra
sao, căn nguyên của sự thiếu nhất trí
ở đâu, th́ chưa bao giờ được đặt
ra phân tích mổ xẻ đến nơi. Nay đề
nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung
ương và Đại hội X nh́n thẳng vào sự
thật này v́ đă đến lúc không thể nào tránh
né. Cần lưu ư những lời cảnh báo
hết sức sáng suốt của V.I.Lênin:
"Những mâu thuẫn nhỏ và những bất
đồng nhỏ thường gây ra những mâu thuẫn
và bất đồng lớn, khi mà người ta
cứ khư khư giữ cái sai lầm nhỏ và
cứ ra sức không chịu sửa chữa nó;
hoặc khi những người phạm sai lầm
lớn cứ chĩa mũi nhọn vào sai lầm
nhỏ của một người hoặc một
số người khác. Những sự bất
đồng và chia rẽ thường bao giờ
cũng phát triển như vậy" (Lênin, Toàn
tập, tập 42, tr.289). Lênin c̣n nói: "Không ai có
thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những
sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn
đề là ở chữ "nếu" này. Nếu
chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ th́ tất
cả sẽ sụp đổ" (tập 42, tr.311).
Cần thống
nhất khẳng định: Sự thiếu nhất
trí trong Đảng ta hiện nay chủ yếu là trên
mặt nhận thức. Là vấn đề nhận
thức, phải giải quyết bằng nhận
thức, bằng trao đổi, thảo luận, tranh
luận thẳng thắn trên tinh thần đồng
chí. Muốn vậy, phải đặt thẳng
những vấn đề có ư kiến khác nhau lên bàn,
trước hết là mấy vấn đề then
chốt sau đây:
- Sau thảm họa sụp đổ
ở Liên Xô, Đông Âu, chúng ta có nên tiếp tục con
đường xă hội chủ nghĩa nữa hay
không? Có thể có con đường nào khác phù hợp
hơn? Hoặc: hăy thôi nói chủ nghĩa xă hội,
thôi nói chủ nghĩa Mác - Lênin, mà cứ làm sao cho
"dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng,
dân chủ, văn minh" là được rồi?
- Bản chất Đảng có ǵ thay
đổi? Có nên giữ như lâu nay: "Đảng ta là
đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đại biểu trung thành cho lợi ích của giai
cấp công nhân, của nhân dân lao động, của
cả dân tộc" hay nên thay bằng công thức
mới: "Đảng ta là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động, của dân
tộc".
- Về đảng viên có nên cho phép
đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân,
cho phép kết nạp cả những nhà tư bản
tư nhân vào Đảng hay không?
Rất tiếc mấy tháng vừa
rồi tại Đại hội Đảng các cấp từ
cơ sở đến tỉnh, thành phố,
đến đại hội Đảng các cơ quan Trung
ương, các vấn đề rất ít
được đặt ra để thảo
luận, tranh luận. Tôi cho đó là một hạn chế
lớn không đáng có. Ngoài việc sau này vẫn
phải hướng dẫn thảo luận, tranh
luận trong các tổ chức Đảng để quán
triệt nghị quyết, tôi đề nghị Trung
ương cho ra một tờ nội san, lưu hành có
hạn chế trong Đảng, có thể đặt tên là
"Tranh luận" để đăng những bài
có quan điểm khác nhau mà không thể đăng công
khai. Để bảo đảm
chặt chẽ, có thể quy định trong tôn
chỉ mục đích nội san là tất cả bài
vở đều không được chống lại
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Cương lĩnh chính trị và đường
lối cơ bản của Đảng, mặc dù có
thể cho phép có những phê phán riêng rẽ về
những luận điểm cụ thể này hay khác,
chủ trương cụ thể này hay khác, không
phải là đường lối và nguyên lư cơ
bản. Việc ra nội san Tranh luận đă
đến lúc chín muồi v́ những quan điểm
khác nhau trong Đảng nay đă bộc lộ công khai hay
nửa công khai bằng phát ngôn và phát tán tài liệu
rất có hại v́ nó làm phân tâm, phân tán tư
tưởng nghiêm trọng trong Đảng và trong xă
hội.
II - Kiên định con đường
xă hội chủ nghĩa đă lựa chọn
Sau thảm họa sụp đổ
ở Liên Xô và Đông Âu, một số đồng chí
đâm hoang mang, dao động, nhiều đồng chí
suy giảm niềm tin lư tưởng, một số
quay ngoắt quan điểm, cá biệt có đồng
chí thậm chí tuyên bố "chia tay ư thức
hệ", sám hối, trở cờ. Phải thấy
suy giảm niềm tin XHCN là vấn đề lớn
nhất phải giải quyết trong đời
sống tư tưởng của Đảng hiện nay.
Một số cán bộ, thậm chí trung
cao cấp, xem ra có ǵ mặc cảm, ngượng ngùng
khi phải nói đến chủ nghĩa xă hội,
chủ nghĩa Mác - Lênin. H́nh như họ sợ mang
tiếng giáo điều, bảo thủ, không
đổi mới, có lẽ theo họ đổi
mới là phải từ bỏ CNXH, từ bỏ
chủ nghĩa Mác - Lê-nin! Khi không thể không nói
chủ nghĩa xă hội, chủ nghĩa Mác - Lênin, họ
nói, nhưng thực ra trong bụng không tin. Có
người, do tŕnh độ nhận thức hạn
chế đi đến cho rằng thôi khỏi nói
chủ nghĩa hay lư tưởng trừu tượng,
xa xôi, cứ dân giàu, nước mạnh, xă hội công
bằng, dân chủ, văn minh là được.
Cũng có người không phải do tŕnh độ
thấp, thật ra họ dùng lập luận đó
để lảng tránh vấn đề, để
ngụy biện... Dự thảo Báo cáo chính trị
tŕnh Đại hội X nhận định "Những
biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH
vẫn chưa được khắc phục". Nên
thêm "thậm chí c̣n có chiều hướng tăng
thêm".
Vậy là, phải đặt thẳng
vấn đề: Đảng ta, đất nước ta
có đi con đường xă hội chủ nghĩa
nữa hay không? Không ṿng vo, lấp lửng, tránh né, mà
phải trả lời dứt khoát, rơ ràng. Đừng
như ai đó trả lời theo kiểu "Có
nhưng là xă hội chủ nghĩa đổi
mới". Đổi mới, đương nhiên
rồi, nhưng không nên chơi tṛ ngụy biện,
đánh tráo khái niệm.
Tất nhiên, trả lời có hay không,
phải có lập luận rơ ràng và rốt cuộc
vấn đề không phải chỉ ở chỗ nói
mà làm, là hành động thực tế. Anh nói "định
hướng xă hội chủ nghĩa" nhưng trong
thực tế phủ nhận hoặc coi nhẹ vai tṛ
chủ đạo của kinh tế Nhà nước th́
lời nói của anh là giả dối, vô giá trị, là
nói một đằng làm một nẻo, không ít
người hay dùng thủ thuật này. Anh nói Nhà
nước chủ đạo chứ không phải kinh
tế Nhà nước chủ đạo. Nói thế
thật ra là nói để mà nói, bởi không có thực
lực kinh tế làm chỗ dựa th́ Nhà nước
lấy ǵ để chủ đạo theo định
hướng xă hội chủ nghĩa. Hay cứ buông
tất cả nền kinh tế cho "bàn tay vô
h́nh" của lực lượng thị
trường, th́ ta khác ǵ tư bản, khác ǵ chủ
nghĩa tự do mới? Cần nhắc lại
"Quan điểm chỉ đạo" trong
Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX tháng 9 năm
2001 và đề nghị nghiêm túc xem lại trên từng
điểm, từng điểm ta đă làm ǵ cho kinh
tế nhà nước? làm đến đâu? làm hết
mức chưa? kết quả ra sao? hay làm th́ ít mà chê
bai, phê phán th́ nhiều? hiện trạng kinh tế nhà
nước so với quan điểm chỉ
đạo của Nghị quyết Trung ương 3
như thế nào? kết luận rút ra: Nghị
quyết sai hay ta không thực hiện, hoặc thực
hiện nửa vời, thiếu tin tưởng,
thiếu quyết tâm? Thái độ đối với
nghị quyết Đảng phải minh bạch, có nguyên
tắc, không thể tùy tiện, tự do chủ
nghĩa.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX
viết:
"Kinh tế nhà nước có vai tṛ
quyết định trong việc giữ vững
định hướng xă hội chủ nghĩa,
ổn định và phát triển kinh tế, chính trị,
xă hội của đất nước. Doanh nghiệp
nhà nước... phải không ngừng đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ
vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà
nước định hướng và điều
tiết vĩ mô, làm lực lượng ṇng cốt, góp
phần chủ yếu để kinh tế nhà
nước thực hiện vai tṛ chủ đạo
trong nền kinh tế thị trường định
hướng xă hội chủ nghĩa, là chủ
lực trong hội nhập kinh tế quốc
tế". Tôi thấy giữa Nghị quyết
rất đúng, rất hay như vậy với
việc làm của chúng ta, với cả suy nghĩ
của một số đồng chí xem ra xa nhau quá
chừng, thậm chí dường như nói để
mà nói hoặc tệ hơn: Nghị quyết một
đằng làm một nẻo, ngược hẳn,
đến mức có đồng chí nói kinh tế tư
nhân là động lực, là nền tảng của
nền kinh tế, của hội nhập thế
giới.
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước cũng đang lắm vấn đề mà
nguyên nhân làm chậm có thể có nhiều, phải
chăng chỉ do mấy tay giám đốc ngoan cố
sợ mất ghế và mất đặc quyền
đặc lợi? Điều đáng ngại nhất là
nếu ta chịu sức ép ngày càng tăng phải
tư nhân hóa của IMF, WB và các nhà tài trợ quốc tế
họp hằng năm, thậm chí hằng tháng,
chịu sức ép phải làm nhanh để vào WTO,
rồi cổ phần hóa thiếu tính toán kỹ,
như thế chẳng bao lâu nữa tư nhân hóa
hết, vậy là không làm đúng Nghị quyết Trung
ương 3 khóa IX: "Cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước không được biến
thành tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước".
Vấn đề kinh tế thị
trường định hướng XHCN vẫn là
đại vấn đề, cực kỳ hóc búa, c̣n
phải tiếp tục nghiên cứu, thảo luận
làm rơ, đừng tưởng mấy cuộc hội
thảo trước đây thế là xong. Tôi nghĩ
rằng khái niệm "kinh tế thị
trường định hướng XHCN" là
một bước tiến của Đảng ta trong
quá tŕnh t́m ṭi, đổi mới lư luận, nhưng
chưa nên vội coi đây là "mô h́nh kinh tế
tổng quát", khi nó đang là một phác thảo,
một thử nghiệm, chưa được
định h́nh trong cuộc sống thực tế và
có sự vận động một cách tất nhiên,
tự nhiên. Nền kinh tế thị trường
nước ta đang rất sơ khai, c̣n ngổn
ngang, bề bộn, đầy những rủi ro,
bất trắc.
Thật ra, "Kinh tế thị
trường định hướng xă hội chủ
nghĩa" là công thức rút gọn từ công
thức đầy đủ được ghi trong
Cương lĩnh 1991 như sau: "Phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lư
của nhà nước". Phải chăng công
thức rút gọn không muốn dùng khái niệm
"nhiều thành phần" và muốn tránh cách diễn
đạt "vận hành theo cơ chế thị
trường", v́ cho rằng thị trường
định hướng xă hội chủ nghĩa
đă là thuộc tính vốn có trong tự thân kinh
tế, c̣n gọi là "cơ chế thị
trường" th́ dường như nó là nhân tố
chủ quan từ nhà nước đưa vào, muốn
vận dụng hay không vận dụng cũng
được. Tôi cho rằng công thức cũ tuy dài
một chút nhưng chặt chẽ hơn, đầy
đủ ư nghĩa hơn; công thức mới dùng
cũng được, nhưng phải hiểu
đúng và cần thấy nó c̣n ẩn chứa những
điều chưa rơ. Đúng là có vấn đề
ở chỗ khái niệm "kinh tế thị
trường định hướng XHCN" phải
chăng tự thân nó đă hàm nghĩa sự thống
nhất hữu cơ, bên trong giữa định
hướng XHCN với kinh tế thị trường,
sự thống nhất tự nhiên giữa tính chất
XHCN và thuộc tính thị trường, chứ không
phải như hai mảnh ghép vào nhau? Đó là then
chốt, cốt lơi của vấn đề, tranh
luận đă nhiều nhưng xem ra, trong sâu xa, vẫn
chưa thật nhất trí, đề nghị nghiên
cứu tiếp để vấn đề
được triệt để sáng tỏ. Vấn
đề càng trở nên phức tạp khi gần
đây với khái niệm "xă hội hóa",
xuất hiện khuynh hướng tư nhân hóa tràn lan,
thương mại hóa, thị trường hóa
nhiều sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y
tế, truyền thông, v.v... Nên chú ư rằng ngay một
số đảng xă hội dân chủ cũng chỉ
nói: kinh tế thị trường - đồng ư!
Nhưng xă hội thị trường - không!
Là kinh tế thị trường
định hướng XHCN, nhưng không nhất
thiết bao giờ và trong văn cảnh nào cũng
phải nói định hướng XHCN; có điều
rất nhiều người, chẳng hiểu dụng
ư hay vô t́nh, đă cắt béng cái cụm từ bổ
ngữ "định hướng XHCN", mà luôn
luôn, ngay cả những khi không thể thiếu nó,
chỉ cứ "kinh tế thị trường",
"kinh tế thị trường". Điều
này phải chăng khách quan nói lên rằng kinh tế
thị trường tự nó không cần bổ
ngữ hay tính từ và đối với một
số người th́ thực sự họ chẳng
cần định hướng xă hội chủ
nghĩa. Vậy, đây vẫn là một trong những
vấn đề lư luận mấu chốt và hóc búa
nhất, chưa được làm sáng tỏ
đầy đủ và triệt để, rất
cần được tiếp tục nghiên cứu sâu
sắc, đến nơi.
Tính phức tạp của vấn
đề càng tăng thêm khi đặt nền kinh
tế thị trường trong bối cảnh hội
nhập toàn cầu mà có đồng chí h́nh dung sai
rằng sẽ tiến đến một thị
trường thế giới thống nhất, nhất
thể hóa, cả trong các thể chế, cả trong
tổ chức vận hành, trong đó những nền
kinh tế thị trường hiện đại và
hiện đại nhất ở những nước
phát triển cao giữ vai tṛ là kiểu mẫu, là
động lực, là đầu tàu. Hội nhập
như thế thực ra là ḥa tan, c̣n đâu nền kinh
tế độc lập tự chủ, nói ǵ
đến kinh tế thị trường định
hướng XHCN, c̣n đâu chủ quyền quốc gia
dân tộc, nói ǵ đến con đường XHCN đă
lựa chọn. Đó là hệ quả lôgic của
một quan điểm lư luận đơn giản,
trừu tượng, không thấy tính hai mặt
vừa tích cực vừa tiêu cực của toàn
cầu hóa; không thấy toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế thế giới là những quá tŕnh
đầy mâu thuẫn phức tạp, ngày càng phức
tạp và không chỉ trên mặt kinh tế.
Đảng ta,
đất nước ta c̣n tiếp tục con
đường XHCN nữa hay không trước hết
phải giải quyết sự chưa nhất trí
ở những vấn đề nêu trên. Kết
thúc phần này chỉ xin nói thêm về định
nghĩa tính chất thời đại. Có đồng
chí cho rằng định nghĩa "thời
đại chúng ta là thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm
vi thế giới bắt đầu từ Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917", đă lỗi
thời, không đúng nữa, không dùng được
nữa. Tôi cho rằng quan điểm như thế là
một bước lùi về lập trường
cơ bản, xuất phát. Bởi nếu như
vậy th́ sự nghiệp cách mạng, con
đường XHCN mà Bác Hồ và Đảng ta đă
lựa chọn không c̣n cơ sở quy luật lịch
sử nữa, vậy ta đi con đường nào
đây? Đương nhiên, nếu chỉ khẳng
định con đường dài thời đại
th́ chưa đủ, c̣n phải tính đến
những đặc điểm cụ thể của
thế giới trong từng giai đoạn để
có những bước đi thực tế.
III - Giữ vững bản chất
giai cấp công nhân của Đảng
Vấn đề đặt ra là có nên
giữ như Điều lệ hiện hành quy
định: "Đảng ta là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân
lao động, của dân tộc", hay nên sửa
đổi lại như Dự thảo Điều
lệ mới: "Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam;
đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân
tộc".
Tôi cho rằng công thức sửa
đổi ấy có ba nhược điểm:
Một là, hiểu khái niệm
"đội tiên phong" chung chung, chưa trúng vào
điểm cốt lơi.
Hai là, do đó khiến bản
chất (tính chất) giai cấp của Đảng
bị nhạt nḥa, bị loăng đi, dễ khiến
người ta hiểu ra rằng Đảng ta là Đảng
của nhiều giai cấp. Đảng toàn dân,
điều mà xưa nay chưa bao giờ và chưa
ở đâu có Đảng chính trị như vậy.
Ba là, sẽ gặp lúng túng khi
giải thích thế nào là "đội tiên phong
của nhân dân lao động và của dân tộc".
Mấu chốt vấn đề, theo
tôi, là ở chỗ phải hiểu đúng khái niệm
"đội tiên phong". "Đội
tiên phong" là xét về lư luận, đường
lối chính trị, hệ tư tưởng. Theo
Lê-nin: "Chỉ đảng nào có lư luận tiền
phong mới làm tṛn vai tṛ chiến sĩ tiền
phong". Nói Đảng ta là đội tiên phong
của giai cấp công nhân là căn cứ trên các tiêu chí
đó. Đảng ta sở dĩ được nhân
dân lao động và cả dân tộc nhận là
Đảng của chính ḿnh và một ḷng theo
Đảng v́ Đảng Cộng sản Việt Nam là
đội tiên phong về lư luận, đường
lối chính trị, hệ tư tưởng của
giai cấp công nhân - một giai cấp cách mạng
nhất, lợi ích của giai cấp này phù hợp hoàn
toàn với lợi ích của nhân dân lao động và
lợi ích cả dân tộc; nó là giai cấp không
thể giải phóng ḿnh nếu không đồng
thời giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao
động, giải phóng toàn xă hội. Tính triệt
để cách mạng ấy có được là do
điều kiện tồn tại và vị trí khách quan
của giai cấp công nhân trong phương thức
sản xuất xă hội quy định. Thử
hỏi ở nước ta có giai cấp nào khác có
được tính cách mạng triệt để
như vậy để đóng vai tṛ tiền phong, có
lư luận cách mạng tiền phong, chính trị
tiền phong, hệ tư tưởng tiền phong? Thử hỏi ngoài giai cấp công nhân,
c̣n có giai cấp nào khác trong nhân dân lao động, trong
dân tộc có đội tiên phong cách mạng của
ḿnh? Chẳng lẽ có hai "đội tiên
phong"? Hoặc chẳng lẽ Đảng ta có hai
bản chất, hay hai tầng bản chất, một
của giai cấp công nhân, một của nhân dân lao
động và cả dân tộc. Nhưng nếu vấn
đề lại chỉ là và chính là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, như vậy th́ hà
tất phải thêm vế "đồng
thời...", cái vế này chỉ làm rối thêm
nhận thức, làm nhạt đi bản chất giai
cấp công nhân của Đảng, dễ dẫn
đến cách hiểu sai lầm Đảng ta là
Đảng của nhiều giai cấp, Đảng
toàn dân!
Có lập luận cho rằng đặc
điểm cách mạng nước ta là Đảng ta
ra đời từ phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, sự nghiệp giải phóng giai cấp
công nhân gắn liền với sự nghiệp giải
phóng dân tộc, Đảng ta đă là người lănh
đạo của giai cấp công nhân và của cả
dân tộc, v́ vậy, phải bổ sung điều
khoản trong Điều lệ về tính chất
Đảng sao cho vừa có tính giai cấp vừa có
tính dân tộc để phản ánh đầy
đủ "bản chất vốn có của
Đảng từ ngày thành lập đến nay"
(trang 4-5 Báo cáo dự thảo Điều lệ
Đảng). Vậy hăy đặt lại vấn
đề: Thử hỏi suốt 75 năm qua
định nghĩa về tính chất Đảng trong
Điều lệ hiện hành có ǵ gây hại mà nay
phải sửa đổi?
Nhân bàn về bản chất giai cấp
của Đảng, xin được nói rộng ra
một chút về vấn đề lập
trường, quan điểm giai cấp nói chung. Trong
những biểu hiện suy thoái về tư
tưởng chính trị hiện nay ở một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,
có hiện tượng thiếu vững vàng về
lập trường, quan điểm giai cấp.
Trước đây có lúc chúng ta phạm sai lầm
"tả" khuynh, quá nhấn về giai cấp,
về đấu tranh giai cấp và đă phải
trả giá đắt. Ngày nay, không ít đồng chí
lại phạm sai lầm chuyển từ cực
nọ sang cực kia, đến chỗ xem nhẹ
vấn đề giai cấp, đi đến phủ
nhận ngay cả sự tồn tại của các giai
cấp, của đấu tranh giai cấp. Có lập
luận rằng xă hội ta hiện nay không c̣n giai
cấp, chỉ c̣n các tầng lớp và nhóm xă hội;
rằng không c̣n cơ sở để phân chia các thành
phần kinh tế bởi tất cả đều
đă hỗn hợp, đan xen, do đó cơ sở
kinh tế để phân định giai cấp cũng
không c̣n.
Xét về nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến sụp đổ chế độ
XHCN ở Liên Xô, tôi cho rằng đó là sự xa
rời, từ bỏ lập trường quan
điểm mác-xít về giai cấp trong
đường lối cải tổ, là sự thay
thế vào đó bằng cái gọi là "tư duy chính
trị mới", thực chất là hệ tư
tưởng tư sản, là đường lối thỏa
hiệp, đầu hàng chủ nghĩa đế
quốc, giúp chúng không đánh mà thắng. Đảng ta
không thể không đặc biệt chú ư suy ngẫm
từ bài học chết người đó.
Đảng ta đă và đang cố gắng giải
quyết tốt mối quan hệ giữa giai cấp
và dân tộc. Yếu tố dân tộc là một sức
mạnh kỳ diệu trong truyền thống lịch
sử và trong cách mạng nước ta, nếu coi
nhẹ sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng.
Nhưng có quan điểm cho rằng ở ta giữa
giai cấp và dân tộc th́ phải coi trọng lập
trường dân tộc hơn; quan điểm đó ít
nhất là phiến diện. Chỉ trên lập trường
giai cấp công nhân, quan điểm và phương pháp
phân tích giai cấp thật sự mác-xít Lê-nin nít chứ
không giản đơn, thô thiển, cảm tính mới
có thể nhận thức và giải quyết đúng
đắn vấn đề dân tộc, mới
hiểu đầy đủ lợi ích dân tộc,
sức mạnh dân tộc, mới phát huy
được tối đa và đúng hướng
sức mạnh dân tộc.
Có ư kiến cho rằng chủ nghĩa
Mác - Lê-nin chú trọng giai cấp, tư tưởng
Hồ Chí Minh chú trọng dân tộc. Ư kiến này
cũng không đúng. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đâu
chỉ biết có giai cấp mà nó là học thuyết
cách mạng giải phóng toàn thể những
người lao động, giải phóng cả dân
tộc, cả xă hội, cả loài người. Và nếu không có chủ nghĩa Mác -
Lê-nin th́ đă không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư
tưởng của Hồ Chí Minh sở dĩ trở
thành tư tưởng Hồ Chí Minh là nhờ chủ
nghĩa yêu nước cao độ ở Hồ Chí
Minh bắt gặp học thuyết cách mạng và khoa
học nhất của thời đại là chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đă nâng
chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh lên
một tầm cao mới về chất. Nhờ đó
Hồ Chí Minh vượt qua được những
hạn chế ở các chí sĩ yêu nước
đương thời như các cụ Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, mở ra con đường mới và
giành thắng lợi cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc. Cho
nên, nếu đề cao tư tưởng Hồ Chí
Minh bằng cách tách rời, hạ thấp, thậm chí
đối lập lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin là -
về khách quan - hạ thấp chính Hồ Chí Minh và
tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải thấy
đầy đủ Hồ Chí Minh vừa là nhà mác-xít
Lê-nin nít vĩ đại, người cộng sản
vĩ đại, vừa là nhà yêu nước vĩ
đại, không những tuyệt đối trung thành
với lư tưởng yêu nước và cách mạng mà
c̣n rất sáng tạo, đặc biệt trong việc
giải quyết một vấn đề lư luận và
chính trị hết sức cơ bản và phức
tạp của cách mạng là mối quan hệ giữa
giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế,
Người đă góp phần to lớn phát triển
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đặc biệt về lư
luận cách mạng thuộc địa.
IV - Vấn đề tiêu chuẩn
đảng viên
Để mở đường
đưa tư bản tư nhân vào Đảng, hay
để cho phép đảng viên làm kinh tế tư
bản tư nhân, một con đường ngoắt
ngoéo đă đi qua. Bắt đầu là "xóa",
không c̣n nói đến thành phần kinh tế tư
bản tư nhân (Nghị quyết Trung ương 5
khóa IX) đưa nó ḥa tan chung với kinh tế cá
thể, kinh tế tiểu chủ trong cùng khái niệm
"kinh tế tư nhân". Có điều, chỉ
"xóa" được nó trên văn bản chứ
làm sao xóa được thành phần kinh tế tư
bản tư nhân trong hiện thực thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xă hội?
Nay Văn kiện Dự thảo mới
lại trở về với nhiều thành phần kinh
tế nhưng cách tŕnh bày c̣n rất dè dặt và về
thực chất vẫn chưa thoát hẳn sự
đánh đồng, trái với nguyên tắc giai
cấp, kinh tế tư bản tư nhân với
tiểu chủ và với kinh tế cá thể trong khái
niệm "kinh tế tư nhân". Liên quan vấn đề đảng viên
làm kinh tế tư bản tư nhân, dự thảo
mới vẫn tránh nói kinh tế tư bản tư
nhân mà đưa lẫn vào trong một biến báo
mới: "Đảng viên làm kinh tế tư nhân
không giới hạn về quy mô". Điều
đó có nghĩa là ǵ? Có nghĩa là có thể làm giàu
hết cỡ, làm tư bản tư nhân hết
cỡ, có thể bóc lột hết cỡ mà (với
những điều kiện nhất định?) có
thể được làm đảng viên, như
vậy có trái sờ sờ với "lẽ tự
nhiên" như Bác Hồ nói không? Nhưng tại sao
một chính sách mới của Đảng quan trọng
như thế mà lại không nói thẳng thắn,
đàng hoàng, minh bạch, thậm chí không gọi sự
vật đúng tên của nó? Chỉ riêng điều
đó đă là một điểm yếu căn bản
của "quan điểm mới". Cần
nhận thức rằng: Những điều khoản
ghi trong Điều lệ Đảng - giống như
các điều luật - phải rất rơ ràng, chặt
chẽ, xác định, chứ không thể nói một
cách mơ hồ, chung chung. Đề nghị ban
soạn thảo văn kiện xem kỹ lại cả
mục 2 và mục 3 trong Dự thảo Điều
lệ Đảng tŕnh bày tính chất Đảng và
vấn đề đảng viên làm kinh tế tư
bản tư nhân có nhiều lư lẽ chưa rơ, cả
trên quan điểm lư luận.
Có người nói: "Không thể v́ lư
luận chưa rơ mà cản trở thực
tiễn". Đặt vấn đề như
vậy sẽ dẫn đến quyết định
phiêu lưu. Đảng ta, một Đảng cách
mạng tự giác không thể ra quyết sách theo
kiểu đó.
Trước sau tôi vẫn không
đồng ư quan điểm trong Đảng có thể
có tư bản tư nhân, với những lư lẽ
như sau:
Nói về tiêu chuẩn đảng viên,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
"Đảng phải thật trong sạch, mạnh
mẽ. V́ vậy đảng viên cũng phải
thật trong sạch, mạnh mẽ tức là phải
đúng những tiêu chuẩn sau đây:
- Không bóc lột người.
Đảng chống chế độ
"người bóc lột người". Lẽ
tự nhiên, ai bóc lột người th́ không thể làm
đảng viên". (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập
7, tr.237).
Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh,
cũng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và như thế là
rơ. Đảng Cộng sản mà lại cho phép
đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân,
kết nạp vào hàng ngũ của ḿnh cả chủ
tư bản th́ thật trái với "lẽ tự
nhiên". Đă là "lẽ tự nhiên" nên đáng
ra không phải bàn luận, tranh luận nhiều. V́
vậy, tôi đề nghị trong Điều lệ
mới, bỏ mấy chữ "có lao động,
không bóc lột" trong điểm 1 điều 1
chương Đảng viên. C̣n điểm 2
điều 2 viết như sau: "2- Công dân Việt
Nam là người lao động (trí óc và chân tay) từ
18 tuổi trở lên... đều có thể
được xét để kết nạp vào Đảng".
Đảng là tổ chức chính
trị. Đảng viên là chiến sĩ chính trị,
chiến sĩ cách mạng. Vấn đề
đảng viên là vấn đề chính trị,
vấn đề giai cấp chứ không phải
vấn đề kinh tế, vấn đề lực
lượng sản xuất. Để huy động
mọi tiềm năng phát triển sản xuất và
lực lượng sản xuất, điều
cốt yếu là Đảng và Nhà nước phải
có chính sách cơ chế thông thoáng, thích hợp; không
phải cứ kết nạp một số nhà tư
bản vào Đảng là giải quyết
được vấn đề. Không thể từ
thuyết duy lực lượng sản xuất
để giải quyết vấn đề kết
nạp đảng viên. Không nên giáo điều sao chép
bên ngoài. Vấn đề đảng viên chính là
vấn đề Đảng; phải xuất phát
từ Đảng chứ không phải từ lực lượng
sản xuất để nói về đảng viên; nói
về đảng viên tức nói về Đảng.
Không thể lược quy Đảng về lực
lượng sản xuất, bởi từ lực
lượng sản xuất, đến quan hệ
sản xuất, từ quan hệ sản xuất
đến giai cấp, từ giai cấp rồi mới
đến đảng. Đảng là chính đảng,
là đội tiên phong chính trị của giai cấp. Một người đảng viên,
nhất là trong cách mạng XHCN, v́ vậy, không thể
vừa là chiến sĩ cộng sản lấy
việc xóa bỏ chế độ bóc lột làm lư tưởng
đời ḿnh, lại vừa làm ông chủ tư
bản lấy bóc lột lợi nhuận làm lẽ
sống. Người đảng viên cũng là
công dân nhưng không phải mọi điều công dân
được làm th́ đảng viên cũng
được làm bởi đối với
đảng viên, ngoài pháp luật c̣n phải tuân theo
Điều lệ Đảng; nếu anh cho như
vậy là đảng viên không bằng công dân, là mất
quyền tự do công dân, th́ nào có ai bắt buộc anh
vào Đảng!
Ngay điều này cũng cần
nhận rơ: đảng viên phải là người lao
động nhưng không phải bất kỳ
người công nhân, lao động nào cũng có
thể là đảng viên! Chưa nói cá nhân từng
người công nhân, đến cả bản thân phong
trào công nhân nếu tự phát th́ nhiều lắm
cũng chỉ vươn tới chủ nghĩa công
đoàn mà chủ nghĩa công đoàn, theo Lê-nin, vẫn
chưa ra khỏi khuôn khổ hệ tư tưởng
tư sản.
Với người lao động, không
bóc lột đă như vậy, th́ đối với
ông chủ tư bản làm sao có thể dễ dàng
trở thành người cộng sản? Thật không
có ǵ sai bằng lập luận thế này: Ta đang
ở thời kỳ quá độ, vậy trong thành
phần xă hội của đảng viên cũng có
sự quá độ. Nói thế khác ǵ quan điểm
cho rằng kinh tế nhiều thành phần th́ chính
trị tất yếu phải đa đảng và
tư tưởng trong Đảng tất yếu
cũng phải đa nguyên. Cũng không đúng ư
kiến cho rằng thời kỳ cách mạng dân
tộc dân chủ Đảng đă từng kết
nạp cả một số địa chủ, tư
sản th́ tại sao bây giờ lại không thể
kết nạp một số tư bản tư nhân,
rằng cách mạng có giai đoạn, nguyên tắc
cũng thay đổi theo giai đoạn! Ở đây
cần lưu ư một thực tế quan trọng: ranh
giới giác ngộ thời cách mạng dân tộc dân
chủ, thời kháng chiến rất rạch ṛi và
rất dễ rạch ṛi: một đại
điền chủ, một nhà tư sản có thể
từ bỏ giai cấp ḿnh, vứt bỏ một cách
dứt khoát, nhẹ nhàng và c̣n đầy tự hào
nữa, cả cơ ngơi tài sản, điền
sản của ḿnh để đi theo kháng chiến,
rồi được cách mạng giáo dục và rèn
luyện trong quá tŕnh đấu tranh gian khổ,
khốc liệt, dần trở thành chiến sĩ
cộng sản. C̣n trong cách mạng XHCN ngày nay th́ sao?
Một là, những điều kiện khốc
liệt như thế để tôi luyện con
người đă không c̣n. Hai là, trong điều
kiện ḥa b́nh xây dựng thông qua kinh tế thị
trường, khó mà h́nh dung được một nhà
tư sản đang đường đường
là một ông chủ lấy lợi nhuận (và lợi
nhuận tối đa!) làm mục tiêu, ngày đêm
phải vắt óc suy nghĩ và xoay xở đủ cách
(chính đáng và không chính đáng, hợp pháp và phi pháp)
để đạt kỳ được mục tiêu
đó (nếu không th́ ông ta không là nhà tư bản), làm
sao một người như thế đồng
thời đêm ngày lo nghĩ được sự nghiệp
XHCN của Đảng, làm tṛn nhiệm vụ một
đảng viên, toàn tâm toàn ư phục vụ nhân dân?
Động cơ vào Đảng của họ làm sao có
thể trong sáng được, làm sao họ có thể
tự nguyện rời bỏ giai cấp ḿnh
để hy sinh tất cả cho lư tưởng
cộng sản, một chế độ không có người
bóc lột người. Trái lại, họ vào
Đảng cốt t́m kiếm chỗ dựa quyền
lực để dễ bề làm ăn, kinh doanh. Ta biết rằng thời nay quyền
lực và tiền bạc, tiền bạc và quyền
lực thường dễ móc nối với nhau ranh ma
quỷ quái thế nào. Và thật vô cùng nghịch
lư khi nghĩ rằng kết nạp cả tư
sản để mở rộng cơ sở xă
hội, cơ sở quần chúng cho cách mạng XHCN!
Quần chúng công nông, các lực lượng vũ trang
con em công nông sẽ hỏi chúng ta ngay: vậy các anh là
Đảng của ai?
Đặt vấn
đề có tính nguyên tắc: "Những
người cộng sản khác những người
vô sản khác ở chỗ nào?", C.Mác và
Ph.Ắng-ghen trả lời: "Trong các giai
đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh
giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn
đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong
trào" (Mác và Ắng-ghen, Toàn tập, tập 4, tr.614).
So với người vô sản, người công nhân
b́nh thường, tố chất người cộng
sản đă phải cao hơn hẳn như vậy
bởi đây là tố chất người công nhân giác
ngộ về sứ mệnh lịch sử của toàn
bộ giai cấp, về lợi ích của toàn bộ
phong trào, họ là chiến sĩ chính trị, chiến
sĩ cách mạng. Nếu không
nhận thức đến nơi như vậy,
nếu hạ tiêu chuẩn đ̣i hỏi ở
người cộng sản xuống đến
mức người lao động tốt b́nh
thường đă không đúng th́ càng không thể
chấp nhận sự hạ thấp tiêu chuẩn
người đảng viên cộng sản xuống
đến mức người tư sản chỉ có
tốt b́nh thường. Người tư
sản tốt, chấp hành đầy đủ và
nghiêm chỉnh đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật nhà nước, ra sức làm
giàu một cách chân chính cho ḿnh và cho đất
nước là rất quư đối với đất
nước và xă hội ta hiện nay. Đảng và nhà
nước có chính sách khuyến khích điều đó.
Xă hội tôn vinh những người đó. Nhưng
chỉ như vậy đâu phải người đó
đă đạt tiêu chuẩn đảng viên cộng
sản.
Tóm lại, bảo đảm đúng tiêu
chuẩn đảng viên theo "lẽ tự nhiên"
đơn giản và chí lư như Bác Hồ chỉ ra là
một trong những điều kiện cơ bản
và tiên quyết để giữ vững bản
chất giai cấp công nhân của Đảng.
V - Về độc lập tự
chủ và sáng tạo trong lư luận
Đảng ta vốn có truyền
thống độc lập tự chủ và sáng tạo
trong đường lối - độc lập tự
chủ và sáng tạo trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhờ đó mới có thắng lợi của Cách
mạng Tháng Tám, thắng lợi của các cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc, mới đứng vững
trước những sóng gió quốc tế, mới có
những thành quả đổi mới 20 năm nay...
Trong lịch sử, Đảng ta cũng có thời
kỳ thiếu độc lập tự chủ,
thiếu sáng tạo, sa vào chủ nghĩa giáo
điều, rập khuôn, gây tổn thất lớn.
Những khuyết điểm đó đă
được Đảng ta tự phê b́nh nghiêm
khắc và đă rút ra những bài học thấm thía,
nhất là ở Đại hội VI.
Giai đoạn hiện nay, t́nh h́nh càng
đ̣i hỏi Đảng ta nâng cao hơn nữa tính
độc lập tự chủ và sáng tạo trong lư
luận và đường lối tiến lên chủ
nghĩa xă hội. Đó là v́: một là, thế
giới diễn biến ngày càng muôn vẻ, phức
tạp, khôn lường; hai là, sự nghiệp
đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu,
nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều
mâu thuẫn mới xuất hiện. Ba là, phong trào
cộng sản quốc tế hiện nay không có h́nh
thức tổ chức, phối hợp đấu tranh
chung; tuy vẫn coi trọng học tập kinh
nghiệm của nhau, nhưng mỗi Đảng hoàn
toàn độc lập tự chủ trong quyết
định đường lối cách mạng mỗi
nước. Những t́nh h́nh đó đặt ra yêu
cầu ngày càng cao về năng lực tự chủ,
sáng tạo trong xây dựng và phát triển
đường lối trên cơ sở một hệ
thống quan điểm có căn cứ khoa học
vững chắc và phù hợp t́nh h́nh đặc
điểm mỗi nước.
Vậy, để đẩy tới
tư duy lư luận, làm sáng tỏ hơn nữa lư
luận về chủ nghĩa xă hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xă hội
ở nước ta th́ phải làm ǵ và làm thế nào
đây? Tôi nghĩ phải tổng kết thực
tiễn một cách thật sâu sắc, quy mô, cơ
bản và có hệ thống con đường
đất nước đă đi từ sau 1975
(chứ không chỉ 20 năm đổi mới),
thậm chí chừng nào đó có thể phải ngoái
lại 20 năm (1955 - 1975) xây dựng chủ nghĩa
xă hội trên miền Bắc. Phải nghiên cứu
kỹ những bài học 75 năm xây dựng chủ
nghĩa xă hội ở Liên Xô và những bài học
của sự "sụp đổ". Phải nghiên
cứu kỹ những kinh nghiệm cải cách mở
cửa của Trung Quốc, những kinh nghiệm
của Cu-ba và các nước khác. Phải nghiên cứu
rất kỹ các quá tŕnh, xu thế lớn và triển
vọng phát triển thế giới ngày nay. Cần
nhận thức lại thật sâu sắc, chính xác trong
tinh thần gắn chặt với thực tiễn -
lịch sử, những giá trị kinh điển Mác -
Lê-nin, đồng thời cần tổng kết có phê
phán quá tŕnh lịch sử nhận thức trước
đây về những di sản đó. Vậy là đ̣i
hỏi bao công tŕnh và nỗ lực trí tuệ lớn,
vô cùng phức tạp, công phu. Trên cơ sở những
thành quả tổng kết đó, vạch ra những
đặc điểm và điều kiện
nước ta quá độ lên chủ nghĩa xă
hội; những quy luật hay tính quy luật trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă
hội ở nước ta; những phương
hướng cơ bản trên con đường
tiến lên; những thuận lợi và khó khăn,
thời cơ và thách thức, v.v...
Ở đây, tôi muốn nêu ra một
băn khoăn, trăn trở mà tôi hằng ấp
ủ lâu nay, xin mạnh dạn nói ra để mọi
người cho ư kiến và cùng nhau trao đổi, cùng
nhau suy nghĩ.
Điều tôi băn
khoăn, trăn trở ở chỗ: tư duy lư
luận của chúng ta về chủ nghĩa xă hội
lâu nay đă thật sự độc lập tự
chủ hay chưa? đă thật sự sáng tạo trên
mảnh đất Việt Nam hay chưa? Trung Quốc
nói "chủ nghĩa xă hội mang đặc sắc
Trung Quốc". Vậy Việt Nam đă thật
sự có một lư luận và đường lối
của ḿnh tiến lên CNXH trong thời kỳ quá
độ hay chưa?
Trước hết trong lĩnh vực
tư duy kinh tế, phải chăng về cơ
bản và đại thể chúng ta vẫn suy nghĩ
trong cái khung lư luận của Đảng bạn. Không
chỉ trong lĩnh vực kinh tế, cả
đến không ít khái niệm chính trị và về
Đảng nữa, chẳng hạn vấn đề
Đảng của ai, ai là đảng viên, rơ ràng
cũng có t́nh h́nh đó. Đành rằng, Đảng
bạn rất giàu kinh nghiệm (thành công, không thành công,
chưa thành công) chúng ta có thể và cần chăm chú
tham khảo, học hỏi, nhưng cũng phải
thấy mỗi nước có "đặc
sắc" riêng.
Đương nhiên, vấn đề
không phải ở sự trùng hợp h́nh thức trên
các khái niệm sự trùng hợp ấy tự nó không
có lỗi. Vấn đề là ở thực chất,
nội dung của các khái niệm có phù hợp hay không,
phù hợp đến mức nào với khoa học,
với t́nh h́nh hoàn cảnh, vị trí và điều
kiện thực tế mỗi nước. Đó là
chưa nói đường lối Đảng ta
lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam, c̣n
Đảng bạn nói có chỗ giống, có chỗ khác
ta.
Cho nên, thật sự tôi có những
băn khoăn, trăn trở về cái khung các khái
niệm lư luận, cho đến nay tư duy chúng ta
về đại thể vẫn vận động
trong đó, đă thể hiện được rơ hay
chưa tính độc lập tự chủ và sáng
tạo? Thêm nữa, cần chỉ ra rằng bên
cạnh đó - và ở mức độ không kém
nặng nề - lại c̣n khuynh hướng giáo
điều theo phương Tây. Từ hai khuynh
hướng đó gộp lại cho thấy ǵ?
Phải chăng trong khi chủ nghĩa giáo điều
cũ thời Xô-viết chưa thanh toán hết, th́
chủ nghĩa giáo điều mới đang nổi
lên có thể trở thành nguy cơ chính nếu chúng ta
không tự vượt được chính ḿnh.
Điều nguy hiểm ở chỗ chúng ta chưa
nhận thức ra cái nguy cơ chệch hướng
đó, một sự chệch hướng căn
bản về phương pháp lư luận, hậu
quả lớn có thể chưa thấy ngay nhưng
với thời gian (chắc không lâu như thời giáo
điều cũ) thực tiễn sẽ cho thấy
rơ.
Vậy th́ có thể đề xuất
điều ǵ mới để thoát khỏi tư duy
sao chép, rập khuôn? Tôi nghĩ Đảng ta,
trước hết là giới lư luận nên đặc
biệt quan tâm vấn đề này. Mô h́nh tổng quát
về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở
Việt Nam nói chung, căn bản đă được
vạch ra ở Cương lĩnh của Đảng
năm 1991. Riêng về mô h́nh tổng quát nền kinh
tế nước ta trong giai đoạn hiện nay
của thời kỳ quá độ xây dựng chủ
nghĩa xă hội, xin thử nêu một phương án
như sau để chúng ta cùng suy nghĩ, trao
đổi, thảo luận:
"Đó là nền kinh tế nhiều
thành phần trong đó kinh tế nhà nước là
chủ đạo, một nền kinh tế thị
trường có kế hoạch, có sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước
dưới nhiều h́nh thức thích hợp,
đồng thời thông qua chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, ra sức tranh
thủ những thành quả của cách mạng khoa
học, công nghệ hiện đại và kinh tế tri
thức, nhằm đẩy nhanh quá tŕnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xă
hội, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân".
Mô h́nh được phác họa như
trên c̣n thô sơ, nhưng điều chủ yếu tôi
muốn nêu ra ở đây là thử t́m xem những
yếu tố ǵ có thể là cần thiết và tất
yếu phải được tính đến khi xác
định mô h́nh kinh tế tổng quát thay cho "mô
h́nh tổng quát" nói quá gọn hiện nay
("nền kinh tế thị trường
định hướng xă hội chủ
nghĩa"), v́ quá gọn nên có thể ẩn chứa
những nhược điểm nhất định.
Tháng 1-2006
Trích: Nhân dân, 23.2.06
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ
& Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|