DC&PT - Thời Sự 2006

 

VIỆT NAM - 60 NĂM XÂY DỰNG và HỦY DIỆT

NGUYỄN ĐẠI VIỆT

 

Cách đây 31 năm, thế giới đă ngoảnh mặt đứng nh́n miền Nam Việt Nam bị bao vây, thản nhiên nh́n họ đơn độc chống trả lại sự tấn công toàn lực của hệ thống Cộng sản quốc tế. Sự thiếu thốn đạn dược của quân đội VNCH, sự chênh lệch về hoả lực của hai bên trong mấy năm sau cùng, khiến tiền đồn chống Cộng của khối tự do ở Đông Nam Á bị thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đồng minh của miền Nam lặng lẽ di tản trong tiếng reo mừng chiến thắng của người bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Trong tiếng reo ấy, người ta cũng nghe những tiếng súng lục ngắn gọn, những tiếng nổ răi rác của lựu đạn, âm thanh của kinh ngạc và uất hận, thể hiện tinh thần tự do và trách nhiệm cao độ nhất của người lính VNCH, đồng thời những tiếng súng và tiếng lựu đạn ấy cũng báo hiệu sự kết thúc của nền tự do dân chủ ở phía nam con sông Bến Hải. Cũng từ ngày Sài G̣n bị đổi tên, người dân miền Nam phải ngày đêm đi xây dựng CNXH để bắt kịp miền Bắc, vốn đă bắt đầu từ những năm 1945.

Quá tŕnh xây dựng CNXH trong 60 năm của hai miền Nam Bắc đă tàn phá phần lớn tiềm lực và tiềm năng quốc gia. Tinh thần dân tộc được bồi đắp trong suốt mấy ngàn năm bị huỷ diệt và thay bằng tinh thần XHCN. Nền văn hoá lâu đời cũng bị phế bỏ và thay bằng nền văn hoá Cộng sản quốc tế. Đối với các thế hệ XHCN, lịch sử Việt Nam dường như chỉ mới bắt đầu cách đây 6 thập niên.

Sự huỷ diệt tinh thần dân tộc là điều căn bản để xây dựng chủ nghĩa Cộng sản. Nghĩa là phải xoá bỏ những ǵ đang hiện hữu, những ǵ dính líu đến quá khứ, kể cả tư duy của con người, kể cả lịch sử ngàn năm của một quốc gia, kể cả phong tục tập quán và nền văn hoá lâu đời của dân tộc ấy. Xoá bỏ có nghĩa là huỷ diệt hoặc tàn sát. Cộng sản Khmer Đỏ chọn phương pháp tàn sát tập thể để xoá bỏ. Những cánh đồng tràn ngập xác người, nơi hàng vạn người Khmer bi tàn sát, được chọn làm nơi đặt nền tảng cho chủ nghĩa Cộng sản ở Kampuchia. Tuy không sử dụng phương thức tàn sát tập thể như Khmer Đỏ, người Cộng sản Việt Nam đă chọn những phương pháp không kém dă man và tàn bạo khác, những phương pháp thiếu tính nhân bản để huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia này.

Chủ trương huỷ diệt tinh thần dân tộc Việt Nam qua quá tŕnh xây dựng CNXH được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất được thực hiện ở miền Bắc từ 1945 đến năm 1975. Giai đoạn thứ hai được tiến hành ở miền Nam từ 1975 đến 1985. Quá tŕnh xây dựng xă hội chủ nghĩa trong hai thời kỳ này, không những đă tiêu diệt nền văn hoá và tinh thần dân tộc lâu đời, mà c̣n đào tạo hai thế hệ XHCN. Thế hệ thứ nhất gồm những người cuồng tín và giáo điều, chịu ảnh hưởng nặng nề tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm và tinh thần phi nhân bản. Thế hệ này hiện đang lănh đạo đảng CSVN, điều khiển guồng máy quốc gia và chi phối mọi hoạt động trong xă hội. Trong khi đó, nhờ sự xụp đổ của Cộng sản quốc tế và chính sách đổi mới, nên thế hệ thứ hai, may mắn hơn, không bị ảnh hưởng nghiêm trọng giống như thế hệ đầu tiên. Dẫu vậy, trong 20 năm qua, từ năm 1986 đến năm 2005, xă hội Việt Nam bị biến dạng một cách đáng ngại so với thời kỳ bao cấp, bị xô đẩy đi sâu vào sự băng hoại và hỗn loạn. Trong đó, sức mạnh vật chất đang khống chế con người và giá trị đạo đức của xă hội này.

Người Cộng sản bắt đầu công tŕnh huỷ diệt tinh thần dân tộc qua cuộc cải cách điền địa, đi đôi với phong trào đấu tố được phát động trên toàn miền Bắc từ năm 1949. Người dân của mọi thành phần, từ nông dân đến địa chủ, từ công nhân đến trí thức, từ nghèo đến giầu, từ già đến trẻ, bất kể nam nữ, tất cả đă phải chịu đựng biết bao thống khổ, dày ṿ v́ phong trào đấu tố. Người dân miền Bắc phải chịu tủi nhục, cắn răng, ngậm miệng, khi buộc phải vất bỏ tính người và khoác lên ḿnh một sự tàn ác, một tinh thần phi nhân bản, để sống và đối xử với nhau.

Quả vậy, từ 1949 đến 1956, phong trào đấu tố đă khiến mọi người phải đấu tố lẫn nhau để giành quyền sống. Người làm công đấu tố chủ của ḿnh, con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, em đấu tố anh, bạn bè người thân đấu tố lẫn nhau. Suốt 8 năm đấu tố liên tục, người Cộng sản đă khuất phục được mọi tầng lớp trong xă hôi. Đấu tố là h́nh thức khủng bố thể xác và tinh thần một cách phi nhân bản, là phương pháp rất hữu hiệu trong việc đánh quỵ mọi tư tưởng phản kháng và chống đối tự nhiên của con người. Kết quả là con người sẽ dễ dàng bị uốn nắn và dễ dạy bảo hơn. Để hoàn thành việc xoá bỏ nền văn hoá, phong tục tập quán, và tính nhân bản của người dân miền Bắc, song song với phong trào đấu tố, người Cộng sản đă bao vây, cô lập, và huỷ diệt tinh thần của họ tân gốc rễ qua chính sách bần cùng hoá nhân dân. Bị cô lập nghĩa là không có cơ hội so sánh và cầu cứu, làm giảm sự bất măn và phản kháng, tạo thêm sự dễ dàng và thuận lợi cho chính sách bần cùng hoá của người Cộng sản.
Các kế sách của chủ trương bần cùng hoá nhân dân là chính sách bao cấp và chế độ hộ khẩu. Trong đó, mọi sinh hoạt hàng ngày của người dân đều được chỉ đạo và kiểm soát bằng khủng bố và bạo lực. Từ việc đi đứng đến cách ăn uống, nhất cử nhất động đều do đảng Cộng sản kiểm soát và ban phát. Dưới chính sách bao cấp, nhân phẩm của người dân miền Bắc bị chà đạp đến tân cùng. Họ phải tố cáo nhau để được hưởng ân huệ của đảng, phải giành giật nhau từ những cái tầm thường và nhỏ nhặt nhất để bù đắp vào sự suy nhược tinh thần lẫn vật chất trong quá tŕnh xây dựng CNXH. Cái cảnh mà người ta phải buôn trộm bán lén phân bắc, đủ diễn tả hết cái đói khổ cùng cực, cái thiếu thốn và sự bần cùng, mà người dân miền Bắc phải gánh chịu trong giai đoạn này. Hăy lưu ư rằng, sự thiếu thốn ấy là do chính sách bần cùng hoá người dân của chủ nghĩa Cộng sản, không phải miền Bắc không có tiềm lực và khả năng về kinh tế.

Trước đây, xă hội miền Bắc được xem là cái nôi của nền văn hoá và văn minh dân tộc. Đặc biệt là Hà Nội, một thời được mênh danh là xứ ngàn năm văn vật, nhưng chỉ trong ba thập niên, từ năm 1945 đến 1975, đă bị biến dạng một cách đáng sợ. Miền Bắc bị biến thành một xă hội của những con người mà từ cách ăn mặc, cách ăn nói, cách đi đứng, cách lư luận, đều rập theo một khuôn mẫu. Một xă hội trong đó người ta phải miễn cưỡng làm những kẻ cuồng tín, phải vất bỏ đi cái đạo đức căn bản nhất của con người khi làm việc, cũng như khi hành xử với nhau. Ba thập niên xây dựng CNXH cũng đă biến những miễn cưỡng ban đầu ấy thành các thói quen tự nhiên của người dân miền Bắc. Những miễn cưỡng ấy dần dần trở thành phong tục tập quán, khởi đầu cho nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN. Tinh thần XHCN là nguyên nhân chính của sự tàn phá xă hội Việt Nam trong quá khứ, hiện tại, và là mối di hoạ cho việc phát triễn quốc gia này trong nhiều thập niên tới.

Quả vậy, ảnh hưởng của nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN khiến miền Bắc bị biến dạng thành một xă hội đầy kịch tính, một xă hội của giả tạo và của nghi kỵ. Trong xă hội ấy, động lực làm việc là sự sợ hăi, sự miễn cưỡng, sự bắt buộc, và sự khủng bố. Tinh thần vị kỷ trở nên thịnh hành và phổ biến, trong khi ư thức trách nhiệm th́ hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt. Dưới chế độ Cộng sản, người ta thường nhầm lẫn cái định nghĩa giữa tinh thần trách nhiệm và sự hăng say v́ cuồng tín của con người.
Sau một thời gian xây dựng CNXH, người ta thấy tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và tinh thần thiếu nhân bản bắt đầu h́nh thành, dần dần lấn át tính nhân bản cao quư và những đức tính tự nhiên tốt đẹp khác của người dân miền Bắc. Tinh thần vị kỷ và vô trách nhiệm đă khống chế mọi sinh hoạt hàng ngày trong xă hội. Đây là một sắc thái đặc trưng trong xă hội miền Bắc suốt thời kỳ CNXH được hô hào xây dựng ở phần đất này. Nói một cách khác, nền văn hoá lâu đời và tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc được xây đắp suốt mấy ngàn năm, đă bị phế bỏ, và hầu như bị tiêu diệt chỉ vỏn vẹn trong ba thập niên xây dựng CNXH.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài việc áp dụng chế độ bao cấp và chế độ hộ khẩu ở miền Nam, công tŕnh tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được tiếp tục với chính sách học tập cải tạo và chương tŕnh kinh tế mới. Để tiến hành giai đoạn hai trong việc huỷ diệt tinh thần dân tộc của cả nước, nhà tù và trại cải tạo được xây dựng khắp nơi trên toàn quốc. Nghĩa là nơi nào có con người th́ nơi ấy có nhà tù hoặc trại cải tao. Thật vậy, một mặt v́ e rằng việc sử dụng chính sách diệt chủng và tàn sát tập thể có thể gây bất lợi cho đảng CSVN đối với quốc tế. Mặt khác, họ cũng e ngại rằng việc tàn sát tập thể có thể tạo nên một cuộc nổi dậy của người dân miền Nam, vốn đă sống dưới chế dộ tự do dân chủ trong một thời gian khá lâu. Do vậy, nhà tù, trại cải tạo, vùng kinh tế mới, cộng thêm các nhăn hiệu „phản động“ và „tư sản mại bản“, tất cả những thứ ấy, được xem là phương pháp hữu hiệu, được dùng đầy đoạ thể xác và huỷ diệt tinh thần dân tộc của người dân miền Nam.
Miền Bắc bất hạnh hơn miền Nam. Vừa thoát khỏi chế độ phong kiến và thực dân, chưa được hưởng một giây phút không khí tự do dân chủ nào cả, th́ bị buộc đi xây dựng CNXH. Do vậy, chủ nghĩa Cộng sản dễ dàng thâm nhập vào xă hội miền Bắc v́ sự vắng bóng của một nền tảng dân chủ. Trái lại, miền Nam may mắn hơn, có cơ hội sống và tiếp xúc với thế giới tự do, nên những nghịch lư của chủ nghĩa Cộng sản khó ḷng được tuyên truyền và thâm nhập một cách nhanh chóng. Hoàn cảnh miền Nam đ̣i hỏi đảng CSVN phải t́m một phương pháp huỷ diệt tinh thần dân tộc khác, thích hợp hơn, so với những phương pháp đă được sử dụng để cải tạo người dân miền Bắc trước đây. „Phản động“ và „tư sản mại bản“ là những từ ngữ được nghiên cứu cẩn thận, và được chọn cho kế sách phá vỡ tư tưởng tự do dân chủ, tiêu diệt nền văn hoá, và huỷ diệt tinh thần dân tộc của miền Nam.

Từ ngữ phản động và tư sản mại bản thoạt tiên c̣n mới mẻ, xa lạ với người dân miền Nam, nhưng dần dần trở nên phổ biến và quen thuộc. Từ ngữ phản động hoặc tư sản mại bản đồng nghĩa với tử h́nh hoặc tịch thu tài sản, tương đương với cải tạo hoặc đi kinh tế mới. Nói chung, người dân miền Nam rất dễ bị gán ghép vào thành phần phản động và thành phần tư sản mại bản. Nhất là những người mà bản thân hoặc gia đ́nh đă từng làm việc cho chính quyền hoặc phục vụ trong quân đội của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, kể cả những gia đ́nh thuộc thành phần tiểu tư sản hoặc tư bản.

Nói chung, từ ngữ phản động và tư sản mại bản rất tiện lợi cho chính quyền Cộng sản trong việc chiếm đoạt tài sản của người dân miền Nam. Đây là những từ ngữ có thể đại diện cho pháp luật, cho phép họ bắt bớ và giam cầm con người bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Ngoài ra, phản động và tư sản mại bản c̣n là những từ ngữ có khả năng thay thế cả tư pháp và hiến pháp một cách danh chính ngôn thuận, trong chủ trương xua đuổi người dân miền Nam đi vào những nơi rừng thiêng nước độc, những vùng được gọi bằng danh từ khá mỹ miều là vùng kinh tế mới. Đối với quốc tế, từ ngừ "cải tạo" c̣n cho phép những người Cộng sản đày đoạ và tiêu diệt lần ṃn thành phần quân nhân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hoà trong các trại tập trung một cách hợp pháp. Hiện nay, từ ngữ phản động vẫn c̣n uy lực, được dùng để giải thích với quốc dân và quốc tế, trong việc khủng bố, giam cầm các công nhân lănh đạo những cuộc đ́nh công, các nông dân và những người b́nh dân lănh đạo các cuộc khiếu kiện đất đai, thành phần tu sĩ, và những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước.

Khéo léo hơn chế độ Đức quốc xă, không sử dụng hơi ngạt và ḷ thiêu, người Cộng sản Việt Nam mượn sự phong toả và cô lập, lao động khổ sai, muỗi ṃng và vi trùng, sốt sét và bệnh tật, đói khát và suy nhược để khuất phục và huỷ diệt tinh thần người dân miền Nam. Sau 10 năm xây dựng CNXH, tính nhân bản của người dân phía Nam vĩ tuyến 17 cũng đă bị sứt mẻ. Những hiện tượng tố cáo và chụp mũ lẫn nhau trong các sinh hoạt hàng ngày của họ càng trở nên phổ biến hơn. Những hiện tượng này càng ngày càng gia tăng, tỉ lệ thuận với nhịp độ xây dưng CNXH ở miền Nam. Chẳng hạn việc phân chia không đồng đều một ống kem đánh răng nội địa, hoặc một chiếc vỏ xe đạp Trung quốc, cũng có thể đưa đến việc tố cáo và chụp mũ nhau một cách dễ dàng.
Nói tóm lại, chính sách học tập cải tạo, chính sách kinh tế mới, chế độ bao cấp, chế độ hộ khẩu, h́nh thức chụp mũ phản động, ghép tội tư sản mại bản, đi đôi với bạo lực, khiến tinh thần người dân bị tổn thương nặng nề. Điều này khiến xă hội miền Nam bị biến dạng một cách đáng ngạc nhiên so với hoàn cảnh xă hội của phần đất này trước năm 1975. Tương tự như miền Bắc, xă hội miền Nam cũng bắt đầu được phủ lên một sắc thái nghi ky, tinh thần vị kỷ và tinh thần vô trách nhiệm. Tuy nhiên, v́ một phần người dân đă từng sống dưới chế độ tự do dân chủ, thêm vào đó, được sự tiếp sức của người Việt hải ngoại về tinh thần lẫn vật chất, nên mức độ biến dạng của xă hội miền Nam tương đối nhẹ nhàng hơn, so với những thay đổi khắc nghiệt mà xă hội miền Bắc phải hứng chịu trước đây. Thế nhưng, người ta vẫn có thể nhận ra tinh thần dân tộc ở phía Nam vĩ tuyến 17 bắt đầu lung lay sau một thập niên xây dựng CNXH và 20 năm của chính sách đổi mới.

 

Sự xụp đổ giây chuyền của chế độ Cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Bang Xô Viết khiến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xă hội của đảng Cộng sản Việt Nam bị khựng lai. Sự xụp đổ này giúp họ nhận ra những sai lầm nghiêm trọng trong chủ nghĩa Cộng sản, những sai lầm trong quá tŕnh xây dựng chủ nghĩa xă hội, và những sai lầm trong chính sách cai trị đất nước của họ trong sáu thập niên qua.

Sau khi nhận ra những sai lầm này, người Cộng sản tiên đoán chế độ có nguy cơ xụp đổ nếu vẫn c̣n tiếp tục theo đuổi công cuộc xây dựng CNXH. Để xoay chuyển t́nh thế, bắt chước đảng Cộng sản Trung quốc, đảng Cộng sản Việt Nam cũng chuyển hoá ḥng kéo dài chế độ và sự tồn tại của đảng. Sự chuyển hoá của đảng Cộng sản trong 20 năm qua, giải toả phần nào gánh nặng xây dựng CNXH cho người dân, nhưng một lần nữa, đă làm biến dạng xă hội Việt Nam theo một chiều hướng phức tạp và hỗn loạn hơn. Sự biến dạng này là do sự chi phối, ảnh hưởng, và tác động của thế hệ XHCN lên chính quyền và xă hội trong chính sách đổi mới của CSVN.

Ngoài việc nhắc lại cái hào quang của trận Điện Biên Phủ năm xưa, đảng Cộng sản lờ đi, không nhắc ǵ đến những sai lầm và tai hại nghiêm trọng do họ gây ra từ năm 1985 trở về trước. Người Cộng sản giờ này chỉ tuyên truyền và xưng tụng những kết qủa từ năm 1986 trở đi, những gặt hái trong 20 năm qua, được cho là tốt đẹp và thành công nhất, kể từ khi họ mang chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam. Những thu hoạch của người Cộng sản trong hai thập niên qua là được tiếp xúc với thế giới tự do, làm ăn với Tây phương, xây dựng một số cơ sở vật chất, làm sở hữu chủ cơ sở thương mại, đất đai, nhà lầu, xe hơi, xe gắn máy. Không c̣n phải lo âu về nỗi đói mỗi ngày, không c̣n phải xếp hàng mỗi ngày để mua nhu yếu phẩm, không c̣n phải lo sợ, lén lút khi ăn một bữa ăn ngon, đặc biệt là không c̣n phải đấu tố lẫn nhau nữa.

 Thế nhưng, khi xưng tụng và hănh diện về những thành quả đó, có lẽ người Cộng sản đă vội quên rằng, những thứ ấy, người dân miền Nam đă từng có trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dẫu vậy, nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây quả có phát triển hơn so với thời kỳ bao cấp. Tuy nhiên, nếu nh́n kỹ lại những kết qủa mà người Cộng sản đang hănh diện, th́ người ta nhận thấy h́nh như các kết quả ấy không phải là do công lao của họ. Công lao của người Cộng sản, nếu có, chỉ là việc hé mở bức màn sắt đă nhốt và cô lập người dân với thế giới bên ngoài suốt bốn thập niên. Thật vậy, tất cả những xưng tụng đó, nghĩa là làm cho nền kinh tế quốc gia có vẻ khá lên trong 20 năm qua, chỉ là do sức bật, là do bản năng sinh tồn, là do sức sống tự nhiên của người dân khi bức màn sắt được hé mở.

Thay v́ ca tụng những thành quả vật chất trong 20 năm qua, người Cộng sản có thể hănh diện về hành động đă trả một phần quyền tư hữu lại cho người dân mà họ đă tước đoạt trong suốt 40 năm. Quyền tư hữu đă chuyển hoá tinh thần thụ động và lệ thuộc của người dân, làm sống lại bản năng kinh tế tự nhiên đă bị kềm hăm, giam cầm suốt bốn thập niên. Với quyền tư hữu này, chính người dân, không phải những người Cộng sản, đă vực dậy nền kinh tế bao cấp thoi thóp ấy.
Tựu trung, những ǵ thu lượm được trong hai thập niên vừa qua là một phần dựa vào các nguồn tài chánh từ bên ngoài, và phần kia là nhờ vào sự kỳ diệu của quyền tư hữu. Thật thế, sự góp mặt của quyền tư hữu trong 20 năm qua khẳng định các quyền căn bản của con người có ảnh hưởng và liên hệ mật thiết đến sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Do vậy, nếu người Cộng sản can đảm trả lại tất cả các quyền căn bản cho người dân, nền kinh tế Việt Nam ắt hẳn sẽ khả quan hơn, và người Cộng sản sẽ có cơ hội hănh diện về những kết quả kinh tế thực sư trong tương lai, so với những gặt hái tạm bợ trong 20 năm qua. Trái lại, nếu tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa, chắc chắn họ sẽ mất cơ hội để xưng tụng, v́ nền kinh tế ấy không bền vững, v́ nó không có một nền tảng, không có một cơ sở lư luận kinh tế vững chắc nào cả.
Đúng vậy, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không thể tồn tại lâu dài, v́ lư thuyết kinh tế này chỉ là một lư thuyết góp nhặt, một sự kết hợp miễn cưỡng và không hợp lư giữa chủ nghĩa Cộng sản và lư thuyết kinh tế Tư bản. Một lư thuyết kinh tế không hề được giảng dạy ở bất kỳ đại học nào trên thế giới. Nơi duy nhất giảng dạy lư thuyết kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ấy chính là Bộ chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc.

Kinh tế thi trường theo định hướng XHCN của đảng Cộng sản Trung quốc là một nền kinh tế dựa trên lư thuyết kinh tế của chủ nghĩa Tư bản, nhưng được kiểm soát và lèo lái bởi con người xă hội chủ nghĩa. Nói một cách khác, xă hội và nền kinh tế của Việt Nam trong 20 năm qua được sinh hoạt, được kiểm soát, được lèo lái, và được chỉ đạo bởi tính thần phi nhân bản, tinh thần vị kỷ và tinh thần vô trách nhiệm của thế hệ XHCN. Nền tảng không vững chắc của nền kinh tế hiện thời chính là thế hệ XHCN ấy. Ngoài ra, những hiện thực trong xă hội Việt Nam của 20 năm qua, chứng minh đất nước, kinh tế và người dân của quốc gia này cũng đang là nạn nhân của thế hệ đó.

Đúng như thế, nền kinh tế quốc doanh của người Cộng sản là nạn nhân đầu tiên của thế hệ này. Người ta không lấy làm lạ khi thấy nền kinh tế quốc doanh bị phá sản và chính sách kinh tế này bị huỷ bỏ. Cũng như họ không ngạc nhiên lắm khi thấy người Cộng sản chẳng hề nuối tiếc và nhắc nhở ǵ đến nó nữa. Bởi lẽ, nguyên nhân đưa đến sự phá sản của nền kinh tế này là tổng hợp của sự đục khoét phát xuất tư tinh thần vị kỷ, tính thiếu nhân bản. trong lối quản lư và đối tác, cộng thêm tinh thần vô trách nhiệm trong cách tổ chức và điều hành của thế hệ XHCN.

Trong 20 mươi năm qua, thế hệ XHCN đă làm thế giới phải kinh ngạc về sự đục khoét tài t́nh, sức tàn phá nhanh chóng tài nguyên đất nước, và phong cách làm việc thiếu trách nhiệm của họ. Từ năm 1986 đến năm 2005, không ít những công ty ngoại quốc, từ nhỏ đến lớn, đều bị ḅn rút và đục khoét một cách âm thầm hoặc công khai, đến nỗi bị phá sản, phải đóng cửa và bỏ chạy khỏi Việt Nam.

Từ sự lỗ lă, mất mát, phá sản của các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam, từ số ngoại tệ của khối người Việt tư do hải ngoại gửi về, từ những khoản viện trợ nhân đạo cho dân nghèo, và từ những ngân khoản vay mượn của quốc tế để phát triển đất nước, những nguồn tài chánh này vô h́nh chung đă làm nền kinh tế Việt Nam phát triển trong hai thập niên qua. Đồng thời, chính sách đổi mới đă mặc nhiên hợp thức hoá quyền tư hữu, cộng thêm sự đục khoét có hệ thống, đă tạo nên một giai cấp mới, một tầng lớp tư sản và tư bản trong hàng ngũ đảng Cộng sản, trong hàng ngũ chính quyền Cộng sản, và một thiểu số khác trong xă hội.

 
Nói tóm lại, trong 20 năm đổi mới, thế hệ XHCN không những làm nản ḷng các công ty ngoại quốc, làm hoảng sợ giới đầu tư của người Việt hải ngoại, làm quốc gia mang tiếng với thế giới, mà c̣n làm đời sống người dân bị xáo trộn, xă hội bị hỗn loạn, điển h́nh qua chính sách quy hoạch đất đai trong khoảng một thập niên qua.

Bắt chước cuộc cải cách ruộng đất trước đây, nhưng khéo léo và tinh vi hơn, thế hệ XHCN đưa ra chính sách quy hoạch đất đai và cho phát động trên toàn quốc. Chính sách quy hoạch đất đai ôn hoà hơn cuộc cải cách ruông đất. Chính sách này không sử dụng h́nh thức đấu tố, nhưng có cùng một mục tiêu là soán đoạt nhà cửa, đất đai, ruộng vườn của người dân một cách hợp pháp, và hợp lư hơn cuộc cải cách ruộng đất năm xưa. Tóm lại, chính sách quy hoạch đất đai trong thời gian qua, phản ảnh đầy đủ tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và đặc biệt là tinh thần phi nhân bản của thế hệ XHCN đối với người dân của họ.
Sự phát triển không hợp lư của nền kinh tế Việt Nam đă tạo ra một khoảng cách đột ngột giữa mức độ giầu và nghèo trong xă hôi. Con số người giầu và người nghèo c̣n quá chênh lệch, lợi tức của đại đa số người dân vẫn c̣n thấp dưới mức trung b́nh. Do đó, chính sách đổi mới và những nhu cầu phát sinh sau này của thành phần giầu có và quyền lực, đă thúc đẩy xă hội vào một sự hỗn loạn về kinh tế và làm đảo ngược giá trị đạo đức. Trong sự hỗn loạn ấy, người ta đặt nặng giá trị của kinh tế và vật chất, xem nhẹ giá trị đạo đức con người. Thành quả của nền kinh tế trong 20 năm qua là sự khinh thường giá trị đạo đức của xă hôi. Tinh thần dân tộc trở nên bạc nhược và suy thoái thêm, dẫn đến sự mục ruỗng trong nền tảng của nền kinh tế Việt Nam.
Thật vậy, hầu như hàng ngày, qua báo chí trong nước, người ta đều thấy loan tin về giám đốc của công ty này bị truy tố, cán bộ của huyện kia bị cách chức. Điều đáng chú ư là đa số các vụ cách chức và truy tố đều liên quan đến tội tham ô và hối lộ. Mặt khác, nếu có dịp đi một ṿng thăm viếng đất nước này, từ Nam ra Bắc, người ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tầng lớp khả kính nhất của một quốc gia, thành phần giáo chức, cũng ra sức khai thác bóc lột người khác. Người khác, nghĩa là đối tượng của sự khai thác bóc lột, chính lại là học tṛ của thành phần khả kính kia.

Nguy hiểm hơn nữa, dường như mọi tầng lớp của thế hệ xă hội chủ nghĩa, từ cấp nhỏ đến cấp lớn, trong mọi lănh vực, trong mọi công ty, trong mọi nghành nghề, ngày và đêm, đầu óc họ có lẽ luôn bận rộn, suy nghĩ, t́m ṭi những phương thức nào đó để đục khoét xă hội một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Nói tóm lại, những hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xă hội Việt Nam có tính cách thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ, và bất kỳ ở đâu, trong nhà, ngoài đường, trong trường học, bệnh viện, văn pḥng làm việc, quán cà phê, quán nhậu, khách sạn, vũ trường, vv&. Khiến người ta có cái cảm giác các hiện tượng ấy là một trong những phong tục tập quán của nền văn hoá ở xứ sở này.


Một cách đáng chú ư là, nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN có thể được quan sát và t́m hiểu qua thái độ, hành vi và phong thái làm việc của một số cán bộ cao cấp, cấp thứ trưởng hoặc tương đương, của chế độ Cộng sản, qua những sự kiện và các vụ án không thể ém nhẹm hoặc không c̣n cách để che dấu. Ịiển h́nh là từ thái độ hằn học, thiếu trách nhiệm và thiếu giáo dục của một cán bộ cao cấp ngành hàng không khi trả lời phỏng vấn của một phóng viên thuộc một cơ quan truyền thông hải ngoại trong năm 2005, đến việc một cán bộ cao cấp ngành thể dục thể thao cưỡng hiếp một bé gái cũng vào năm ấy, và mới đây, vụ cá độ lên đến hàng triệu đô la của một cán bộ cao cấp khác của nghành giao thông vận tải trong đầu năm 2006.
Hăy lưu ư rằng, các cán bộ cao cấp ấy là tiêu biểu của thành phần lănh đạo, là đại diện của thế hệ XHCN. Dù cách chức, bỏ tù, hoặc thay thế họ bằng những người khác, người ta cũng sẽ không giải quyết được vấn nạn này. Bởi lẽ, tất cả những con người ấy đều giống nhau, tất cả đều là sản phẩm khuôn mẫu của người Cộng sản, là sản phẩm của quá tŕnh xây dựng CNXH và quá tŕnh huỷ diệt tinh thần dân tộc trước đây.

Tinh thần XHCN thiếu tính nhân bản, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc của tinh thần nhân bản. Trong suốt mấy ngàn năm lich sử của dân tộc này, trong suốt một ngàn một trăm năm bị Tầu và Pháp đô hộ, trong bất kỳ triều đại hoặc chế độ nào, và trong những giai đoạn nguy kịch, khó khăn nhất của đất nước, chưa bao giờ người ta thấy người phụ nữ Việt Nam bị dân tộc họ đầy ải và gả bán cho ngoại quốc làm nô lệ cả. Thế nhưng, với nền văn minh nhân loại trong thế kỷ 21, người ta khó mà tưởng tượng, cũng như khó ḷng mà giải thích được khi khám phá ra rằng, có những bé gái và những thiếu nữ, những bà mẹ Việt Nam tương lai, đang bị thế hệ XHCN này, những người cùng chủng tộc với các cô gái khốn khổ ấy, đang dồn họ vào đường cùng, xua đuổi, và gă bán họ để làm nô lệ, dưới mọi h́nh thức, ở một số quốc gia lân cận trong hai thập niên qua.
Sự kiện này là một điều đáng buồn cho truyền thống và thân phận của người phụ nữ, là niềm tuổi hổ cho tuổi trẻ, và là một sĩ nhục cho quốc gia. Việc xua đuổi và gả bán người con gái Việt Nam đi làm nô lệ ở xứ người, một lần nữa, khẳng định tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và đặc biệt là tinh thần phi nhân bản của thế hệ XHCN ấy. Hăy lưu ư rằng, tinh thần phi nhân bản đó không phải là bản chất của dân tộc này, mà nó chỉ là sản phẩm của chính sách tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia đó, khởi đầu bằng cuộc cải cách điền địa và phong trào đấu tố, trong quá tŕnh xây dựng CNXH của người Cộng sản Việt Nam.

Theo một sự nghiên cứu mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ông IL Houng Lee, đại diện của tổ chức này ở Việt Nam, nhận định rằng, nền kinh tế của quốc gia ấy phải mất một thời gian dài mới mong bắt kịp được nền kinh tế của một số quốc gia khác trong vùng. Trong cuộc nghiên cứu, nền kinh tế của xứ sở này chỉ được so sánh với một số nước nhược tiểu, và cuộc nghiên cứu được dừng lại ở Singapore, một nước nhỏ, theo thể chế dân chủ, trong vùng Ịông Nam Á. Tuy Singapore chỉ là một nước nhỏ, nhưng theo ông IL Houng Lee, Việt Nam cũng phải cần đến 197 năm, nghĩa là cần đến 8 thế hệ, mới mong bắt kịp nền kinh tế của quốc gia này Sự nghiên cứu ấy được dừng lại ở Singapore, v́ con số đó sẽ lớn hơn nhiều, nếu phải so sánh với Đài Loan, Nhật Bản, hoặc một số cường quốc tây phương. Những con số này không cần thiết cho cuộc nghiên cứu, cũng như không mấy hữu ích cho việc nghiên cứu sự phát triễn kinh tế Việt Nam. Thật vậy, 197 năm là một giới hạn, một tầm nh́n khá rộng răi của một công trinh nghiên cứu phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào. Nói một cách khác, ông IL Houng Lee ngụ ư rằng, Việt Nam khó ḷng trở thành một cường quốc kinh tế. Tệ hơn nữa, quốc gia này c̣n phải tiếp tục đóng vai tṛ một nước nhược tiểu trong nhiều thập niên tới. V́ lẽ đó, một cách tế nhị, những nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đă tránh so sánh nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế của các quốc gia dân chủ tiến bộ khác trên thế giới.

Cũng trong cuộc nghiên cứu ấy, ông IL Houng Lee đă đề nghị ba yếu tố cơ bản cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời nhận định rằng, nền kinh tế của quốc gia này có nguy cơ phát triển không bền vững nếu thiếu ba yếu tố ấy. Đó là yếu tố „vốn con người", yếu tố „quản lư", và yếu tố cuối cùng bao gồm các tinh thần „kỷ luật", „tiết kiệm, và „liêm chính". Một điều khẳng định là, người ta sẽ luôn luôn t́m thấy ba yếu tố đó trong xă hội của bất kỳ một quốc gia tiến bộ hay một quốc gia đă phát triển, nhưng người ta khó ḷng t́m thấy cả ba yếu tố ấy trong xă hội của các nước nhược tiểu, chậm tiến, hoặc các nước đang phát triển.
Nói một cách khác, cuộc nghiên cứu khẳng định rằng, cả ba yếu tố trên hoàn toàn vắng bóng trong xă hội Việt Nam. Nghĩa là các nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đă quan sát tính không liêm chính qua sự đục khoét, tính không tiết kiệm qua sự phung phí và phá hoại; tất cả được thể hiện qua tinh thần vị kỷ trong xă hội của quốc gia này. Họ c̣n thấy tính vô kỷ luật trong việc quản lư thể hiện qua tinh thần vô trách nhiệm của thế hệ XHCN. Cuối cùng, đề nghị cải thiện „vốn con người" đă được các nhà nghiên cứu kinh tế đặt làm điều kiện sinh tử cho việc phát triển nền kinh tế Việt Nam. Lời góp ư này khẳng định rằng thế hệ XHCN phải được giáo dục và giáo hoá trở lại, hay nói một cách khác, Việt Nam cần phải xây dựng một lớp người mới, nghĩa là phải thay đổi chế độ hiện tại bằng một chế độ tiến bộ, và chế độ tiến bộ ấy không ǵ khác hơn là một chế độ tự do dân chủ.
Nói chung, cuộc nghiên cứu đă khẳng định sự hiện hữu của tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, tinh thần phi nhân bản trong xă hội Việt Nam, thể hiện qua thế hệ XHCN. Đồng thời, cuộc nghiên cứu cũng xác nhận mối di hại lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển nền kinh tế của quốc gia này do những con người ấy gây ra.
Tinh thần dân tộc là một thông số quan trọng trong cuộc nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ngoài một số yếu tố khác, thông số này ắt hẳn được dùng làm cơ sở giải thích và chứng minh con số 197 năm hay 8 thế hệ, thời gian cần thiết cho Việt Nam phát triễn, và bắt kịp nền kinh tế của một quốc gia nhỏ hơn Việt Nam cả về lănh thổ lẫn dân số. Nghĩa là, người ta khẳng định tinh thần dân tộc của một quốc gia là nền tảng căn bản, có khả năng điều chỉnh, rút ngắn hoặc kéo dài thời gian phát triễn nền kinh tế của quốc gia đó.

Từ sự nghiên cứu ấy, người ta có thể hiểu rằng, các nhà kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đang nhắc nhở, khuyến cáo Việt Nam cấp bách xây dựng những thế hệ mới. Tối thiểu, những thế hệ này phải có những đức tính căn bản như tinh thần vị tha, tinh thần trách nhiệm, và tinh thần nhân bản. Thế hệ XHCN là chứng cớ không thể phủ nhận của sự thất bại trong việc đào tạo và xây dựng con người của đảng CSVN. V́ quyền lợi của quốc gia dân tộc, người Cộng sản hăy chấm dứt việc xây dựng các thế hệ XHCN. Hăy để tinh thần dân tộc ngàn năm, nền văn hoá lâu đời của Việt Nam, và thể chế dân chủ tiến bộ của nhân loại lănh trách nhiệm xây dựng những con người hữu dụng, có khă năng vực dậy một Việt Nam yếu kém về mọi mặt, để phát triển đất nước thành một quốc gia vững mạnh trong những thập niên tới.

Sự di hại của thế hệ XHCN không chỉ giới hạn trong lănh vực kinh tế, mà c̣n ảnh hưởng đến nền an ninh và sự tồn vong của đất nước. Thật vậy, trong quá tŕnh lịch sử nhân loại, các nước nhược tiểu hoặc các quốc gia có tinh thần dân tộc bạc nhược thường là mục tiêu chính của các thế lực mạnh hơn. Người ta không thể bảo đảm rằng, loài người sẽ được sống măi trong hoà b́nh. Cũng như người ta cần phải nhớ lại bài học diệt vong của vương quốc Chiêm Thành, bài học một ngàn năm làm nô lệ dưới chủ nghĩa đại Hán, bài học một trăm năm làm nô lệ dưới chế độ thuộc địa, bài học cải cách điền địa, bài học cải tạo tập trung, và mới đây là bài học bỏ nước ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của người dân miền Nam. Ngoài ra, người ta cũng nên noi gương sự vươn lên với những thành quả có tầm vóc quốc tế, đáng được ca tụng của dân tộc và giới lănh đạo Nam Hàn trong 30 năm qua.

Trong vài trăm năm tới, nếu có bất kỳ biến động lớn nào xảy ra trên thế giới, nếu có một khuynh hướng thống trị mới nào xuất hiện trên địa cầu, th́ các quốc gia nhược tiểu và các quốc gia có tinh thần dân tộc yếu kém như Việt Nam hiện nay, sẽ có nguy cơ bị mất nước. V́ thế, người ta cần phải có một giải pháp ngay từ bây giờ, trước khi đất nước bị xô đẩy đi sâu vào băng hoại, khó phục hồi, và đó là dấu hiệu, là tấm bảng chỉ đường đi đến chổ diệt vong.

Hai giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc và miền Nam trong bốn thập niên, bắt đầu từ năm 1945, cộng thêm 20 năm đổi mới trong lúng túng, không những đă tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được bồi đắp suốt mấy ngàn năm, mà c̣n để lại một di hại và hiểm hoạ không nhỏ đối với việc phát triển một Việt Nam đang tụt hậu trong nhiều thập niên tới. Thế hệ XHCN chính là sư di hại và mối hiểm hoạ ấy. Họ là kết quả của 40 năm xây dựng CNXH và 20 năm chuyển hóa, là nguy cơ của quốc gia và xă hội, và đang là trở lực chính trong mọi nổ lực phát triễn đất nước.

Do vậy, đối với t́nh trạng Việt Nam hiện nay, mọi nỗ lực canh tân đất nước sẽ uổng phí và thất bại, một khi các thế hệ XHCN được sử dụng làm nền tảng cho những nổ lực này.

Nguyên lư căn bản để phát triển một Việt Nam vững mạnh là phải xây dựng lại nền tảng quốc gia. Phải t́m ra những lỗ hổng, những sai lầm, những khuyết điểm, những thiếu sót trong quá khứ, và bắt đầu xây dựng lại từ những cái căn bản nhất. V́ vậy, cho dù phải mất nhiều thời gian, cho dù phải mất nhiều thập niên, cho dù phải bắt tay xây dựng lại từ đầu, nhưng đừng bao giờ nản ḷng và đừng bao bỏ qua những chi tiết căn bản dù là nhỏ nhặt nhất, v́ đó là qúa tŕnh xây dựng cho một sự bền vững lâu dài hàng ngh́n năm của một quốc gia.

 Chính những thiếu sót nhỏ nhặt nhưng vô cùng căn bản ấy đă làm Việt Nam không đứng vững, luôn luôn là một nước nhược tiểu, thường bị xâm lược, thường bị đô hộ, thường là nạn nhân của các xu hướng chính trị quốc tế, suốt từ thuở lập quốc cho đến nay. Nền tảng của quốc gia là con người, v́ vậy, hăy xây dựng những thế hệ tương lai dựa trên nguyên lư căn bản ấy. Những thế hệ có khả năng trong mọi lănh vực văn hoá, kinh tế, khoa học, chính trị, xă hội, những thế hệ của tinh thần hy sinh và bất khuất, sẵn sàng giải quyết những nan đề của quốc gia, những thế hệ của tinh thần kỷ luật, có trách nhiệm với nền đạo đức và luân lư của xă hội, và những thế hệ của tinh thần chỉ huy lănh đạo có khả năng phát triển đất nước, bảo vệ tổ quốc và chế ngự được mọi thế lực muốn xâm lược Việt Nam.



 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

 

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục