DC&PT - Thời Sự 2006

 

 

 KHÍA CẠNH PHÁP LƯ VỀ Đ̀NH CÔNG

 

& YÊU CẦU CẦN CÓ HỆ THỐNG CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP

 

TẠI VIỆT NAM

 

 

 

Luật sư Lê Thị Công Nhân

 

 

LTS: Bài dưới đây là của Luật sư Lê Thị Công Nhân dự tính tŕnh bày trực tiếp trong Hội nghị Quốc tế yểm trợ Nghiệp đoàn Độc lập VN vừa tổ chức thành công tại Warschau, Ba lan, từ 28-30.10.06. Nhưng bà Nhân đă bị Công an chặn lại tại phi trường Nội bài  và không cho Bà được sang Warschau tham dự Hội nghị.

          Trước ư thức bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân VN ngày một lên cao với việc thành lập Nghiệp đoàn Độc lập VN vào cuối tháng 10 vừa qua, ngày 26.10 trong phiên họp của Quốc hội thảo luận về vấn đề đ́nh công ở VN bà Cù Thị Hậu, nguyên Chủ tịch Tổng công đoàn VN, một tổ chức dưới sự chỉ huy của ĐCSVN, đă tỏ ư rất lo ngại về sự ra đời của Nghiệp đoàn Độc lập ở VN. Bà Hậu nh́n nhận:

          "Ngày 20/10 vừa qua, công đoàn Độc lập đă chính thức ra mắt và đưa lên mạng, ngày 29-30/10 này ở Ba Lan cũng sẽ có tổ chức công đoàn ra đời, đối lập với chúng ta. Nếu không giao cho công đoàn cấp trên cơ sở để hướng dẫn, giúp đỡ cho tập thể đại diện của người lao động ở bên dưới mà đ́nh công th́ các tổ chức công đoàn này sẽ vào và họ sẽ nắm, lúc bấy giờ chúng ta sẽ tuột tay". (VNNet 27.10)

*        *        *

 

Kính thưa Quư Vị,

 

Tôi rất hân hạnh được tham dự một hội nghị về lao động lại được tổ chức tại cái nôi của phong trào công nhân đoàn kết của thế giới. Đến từ Việt Nam, một đất nước cộng sản độc quyền đảng trị,  nhưng thật éo le, tôi lại không có nhiều thông tin tốt đẹp về đời sống và việc làm của giới công nhân tại Việt Nam để mang đến cho quí vị. Trong tham luận ngắn này, tôi không đi sâu vào cuộc sống khốn khó, đồng lương rẻ mạt và việc bị đối xử thiếu tôn trọng của người công nhân Việt Nam, mà tôi muốn đề cập tới khía cạnh pháp lư của đ́nh công và nhu cầu bức thiết cần phải có các công đoàn độc lập của người lao động so với công đoàn nhà nước đảng trị ở Việt Nam hiện nay.

 

Phong trào đấu tranh của công nhân để giành lấy những quyền cơ bản thiết yếu của ḿnh đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam với rất nhiều những cuộc đ́nh công diễn ra trên khắp đất nước. Nhưng hơn 90% trong tổng số hơn 1200 cuộc đ́nh công trong 10 năm qua luôn bị chính tổ chức công đoàn và Toà án coi là bất hợp pháp, từ đó dẫn đến những cuộc đàn áp không thương tiếc phong trào đấu tranh chính nghĩa này của giới công nhân, v́ những lư do sau :

 

I-Pháp luật VN hiện hành không hỗ trợ cho đ́nh công

 

Pháp luật Việt Nam hiện hành thiếu những quy định đúng đắn và khả thi về quyền đ́nh công của công nhân thậm chí không hề có một định nghĩa về đ́nh công. Quy định duy nhất nói đến quyền được đ́nh công của người lao động là khoản 1 điều 172 Bộ luật lao động năm  2002, ghi rằng “Trong trường hợp tập thể lao động không đồng ư với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, th́ có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết hoặc đ́nh công.”

 

Nhưng để công nhân thực hiện được quyền đ́nh công này, Nhà nước Việt Nam lại quy định những thủ tục rất nhiêu khê và bất khả thi. Luật lao động Việt Nam hiện nay quy định các tranh chấp lao động tập thể, là lư do duy nhất được coi là hợp pháp để người lao động có quyền đ́nh công, bắt buộc phải qua 2 bước hoà giải tại Hội đồng hoà giải cơ sở được tổ chức trong ṿng 7 ngày kể từ khi nhận đơn, và nếu không hoà giải được th́ đưa tiếp lên Trọng tài lao động cấp tỉnh để hoà giải trong 10 ngày kể từ khi nhận được đơn. Sau đó, nếu vẫn không hoà giải được th́ có thể kiện tiếp ra Toà hoặc đ́nh công (điều 170, 171). Quy định như vậy là quá lâu đối với các bên, đặc biệt là với người lao động, v́ cuộc sống của họ phụ thuộc vào từng ngày lương ít ỏi đó.

 

Luật lại quy định đến 17 ngày kể từ ngày nộp đơn đă thu thập được đủ số chữ kư cần thiết của hơn 1/2 số lao động trong tập thể có tranh chấp đó (làm sao mà thu thập nổi số chữ kư này, ai có thời gian để đi thu thập, và doanh nghiệp nào cho phép việc thu thập chữ kư này diễn ra trong doanh nghiệp ḿnh ???) , và sau đó phải cử 3 người trong ban chấp hành công đoàn cơ sở để trao bản thông báo về việc đ́nh công cho 3 nơi là: Sở lao động tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh và cho giới chủ th́ mới được đ́nh công. Mặc dù quy định một khoảng thời gian dài và thủ tục rườm rà như vậy, nhưng luật lại không quy định chế tài cho Hội đồng hoà giải và Trọng tài lao động này sẽ phải chịu trách nhiệm ǵ nếu không tổ chức được việc hoà giải trong thời hạn. Do vậy, các Hội đồng hoà giải và Trọng tài lao động này làm việc chậm chạp thiếu trách nhiệm, càng làm dồn nén những bức xúc của người lao động. Và cũng v́ lư do chờ đợi quá lâu này mà người lao động càng bức xúc và càng có nhu cầu đ́nh công.

 

Đă là quyền th́ người lao động phải được thực hiện quyền đó khi thấy cần thiết và có đủ điều kiện chứ không phải đi xin phép ai đó với các thủ tục rườm rà và kéo dài như vậy.

 

II-Pháp luật VN hiện hành cản trở đ́nh công

 

Luật Việt Nam không định nghĩa đ́nh công là ǵ, nhưng lại quy định thế nào là một cuộc đ́nh công bất  hợp pháp !!!

 

Điều 176 Bộ luật lao động năm 2002 của Việt Nam quy định những cuộc đ́nh công bất hợp pháp là những cuộc đ́nh công mà “không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể, vượt ra ngoài phạm vi quan hệ lao động; vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp” và không được đ́nh công trong khi chờ kết quả giải quyết của Hội đồng hoà giải lao động và Hội đồng trọng tài lao động (điều 173).

 

Quy định như vậy đă thu hẹp tối đa những trường hợp mà người lao động có quyền đ́nh công. Ví dụ: trường hợp nhà nước sắp ban hành một luật mà người lao động cho rằng sẽ có những ảnh hưởng xấu đến họ; hoặc khi một cá nhân công nhân bị xâm phạm nặng nề về sức khoẻ hay danh dự, th́ giới công nhân lẽ ra cũng phải có quyền đ́nh công trong những trường hợp này. Nhưng ở Việt Nam th́ nhà nước lại cho rằng chỉ có những cuộc đ́nh công xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể mới được coi là hợp pháp. Điều  này không phù hợp với quy định khoa học và nhân văn của Tổ chức Lao động Quốc tế, cho rằng trong một số trường hợp đ́nh công xuất phát từ những vấn đề chính trị nhằm gây sức ép với nhà cầm quyền hoặc một đảng phái chính trị về một vấn đề  nào đó có thể không liên quan trực tiếp hay không liên quan ngay tức th́ đến quyền lợi của công nhân, nhưng chứa đựng nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của người lao động, th́ họ có quyền đ́nh công. 

 

Mục tiêu của đ́nh công là nhằm tạo sức ép lên giới chủ và/hoặc nhà cầm quyền bằng cách gây những thiệt hại về kinh tế ở một mức độ nhất định, nhằm đ̣i hỏi ở mức độ cao hơn về quyền và lợi ích cho người lao động. Và sự kiện nào dẫn đến đ́nh công cũng chỉ là khía cạnh h́nh thức của đ́nh công. V́ vậy, bản chất của đ́nh công là luôn gắn với chính trị theo nghĩa rộng, chứ không chỉ nằm trong quan hệ lao động trực tiếp thuần tuư mà cụ thể là các tranh chấp lao động tập thể, nhưng tuỳ từng sự kiện, bối cảnh, phạm vi và quy mô của cuộc đ́nh công mà đặc điểm chính trị này có nổi bật hay không. Nhưng luật Việt Nam lại độc đoán đặt đ́nh công trong một phạm vi rất hạn hẹp là đ́nh công phải xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể, tức chỉ thuần tuư là vấn đề kinh tế. Quy định như vậy là đă làm què cụt đi bản chất và vai tṛ của đ́nh công được cả thế giới công nhận là luôn gắn liền với chính trị. Và ngay cả học thuyết của cộng sản, khi tuyên truyền cũng luôn công nhận như vậy, nhưng trong thực tế lại quy định và làm ngược lại.

 

Luật Việt Nam quy định cuộc đ́nh công vượt quá phạm vi doanh nghiệp là bất hợp pháp, là một điều rất mơ hồ và sai lầm. Mơ hồ là v́, nếu quy định như vậy th́ lại phải có một định nghĩa về “phạm vi doanh nghiệp” là ǵ ? Là phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay phạm vi lănh thổ địa lư của doanh nghiệp ? Sai lầm là v́, dù quy định như thế nào về cái “phạm vi” này th́ cũng không đúng cho vấn đề đ́nh công. Người lao động hoàn toàn có quyền đ́nh công khi họ thấy quyền lợi của họ có nguy cơ bị xâm phạm, chứ không thể lại chỉ từ mỗi tranh chấp trực tiếp trong phạm vi doanh nghiệp của ḿnh. Ngoài ra, th́ khi đ́nh công đương nhiên không thể nào mà người lao động lại chỉ đ́nh công trong phạm vi lănh thổ địa lư của doanh nghiệp mà ḿnh đang làm việc được. Và thực tế hiện nay, những trường hợp đ́nh công đồng thời là tuần hành, biểu t́nh ngày càng phổ biến trên thế giới.

 

Và cũng từ cái căn cứ pháp luật về “đ́nh công bất hợp pháp” vô cùng vững chắc này mà ở Việt Nam, tuyệt đại đa số các cuộc đ́nh công cũng như cá nhân người lao động trực tiếp tham gia đ́nh công đều bị nhà cầm quyền đàn áp một cách thảm khốc mà đôi khi chính giới chủ cũng cảm thấy bất ngờ. Và dần theo thời gian, với chính sách và pháp luật như vậy, công nhân Việt Nam không c̣n dám nghĩ tới những cuộc đ́nh công v́ mục đích chính trị, điều vốn được coi là rất b́nh thường tại các nước văn minh và phát triển. V́ thế họ gần như không c̣n vai tṛ ǵ trong nền chính trị cả, chỉ c̣n làm b́nh vôi để Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng cho bài ca mỵ dân những khi cần thiết.

 

Tôi đặc biệt chú trọng đến khía cạnh này của pháp luật Việt Nam v́ trong thực tế có chưa đến 10% số cuộc đ́nh công ở Việt Nam đáp ứng được tiêu chuẩn là một cuộc đ́nh công hợp pháp. Nhưng tiếc là những cuộc đ́nh công hợp pháp này lại không mang đến kết quả như mong đợi, và quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động vẫn tiếp tục bị xâm hại sau những cuộc đ́nh công được coi là lư tưởng trong mắt nhà cầm quyền này.

 

III-Hệ quả từ phán quyết của Toà án về cuộc đ́nh công bất hợp pháp

 

3.1 Những phán quyết của Toà án Việt  Nam mà đa phần là kết luận một cuộc đ́nh công nào đó là bất hợp pháp, đă làm căn cứ cho các cơ quan an ninh, cảnh sát khi thẳng tay đàn áp thảm khốc các cuộc đ́nh công là đă làm đúng với pháp luật của Việt Nam. Nhưng xin quư vị nhớ cho rằng căn cứ đó lại được thực hiện trên một nền tảng pháp luật vô lư và hạn hẹp của Việt Nam hiện nay.

 

3.2 Hệ quả cụ thể từ những phán quyết Toà án kết luận rằng một cuộc đ́nh công là bất hợp pháp là làm cho những người công nhân tham gia đ́nh công trở thành những người vi phạm pháp luật. Họ bị cắt lương thậm chí là sa thải, v́ giới chủ dựa vào kết luận cuộc đ́nh công bất hợp pháp của Toà án để quy kết người công nhân tham gia đ́nh công là “tự ư bỏ việc” và làm căn cứ sa thải họ một cách “đúng luật” (điểm c khoản 1 điều 85).

 

3.3 Điều chúng ta cần đặc biệt quan tâm là số phận của những người lănh đạo các cuộc đ́nh công này. Đa số họ đều chính là những người lao động chứ không phải là những cán bộ công đoàn. Sau những cuộc đ́nh công bị coi là bất hợp pháp này, họ luôn bị trù dập, đàn áp, mất việc làm, túng quẫn về kinh tế, và thậm chí không ít trường hợp bị quy kết là tội phạm h́nh sự một cách oan nghiệt, với những tội mơ hồ nhưng nặng nề như gây rối trật tự công cộng, xúi giục, lôi kéo người khác gây rối trật tự công cộng ,chống người thi hành công vụ .v.v.

 

Bây giờ có lẽ quư vị đang thắc mắc về vai tṛ của Công đoàn Việt Nam ở đâu ? Họ đông đảo, lớn, nhiều tiền và lại được Đảng cộng sản yêu quư lắm, nhưng dưới cơ chế độc quyền cai trị hiện nay của Đảng cộng sản Việt  Nam th́ Công đoàn được coi là một bộ phận của Đảng cộng sản Việt Nam, chịu sự lănh đạo và phục vụ cho đảng này. V́ vậy, công đoàn Việt Nam không c̣n là một tổ chức công đoàn b́nh thường và thuần khiết đúng với bản chất vốn có của nó như công đoàn ở các nước trên thế giới. Một công đoàn đúng nghĩa phải do người lao động tự lập ra, duy tŕ và phát triển. Chỉ như vậy th́ công đoàn đó mới có được sự độc lập và có thể phục vụ tối đa cho quyền lợi của người lao động. Cũng v́ lư do không độc lập này mà ở Việt Nam hiện nay, không có Ban chấp hành công đoàn cơ sở nào dám quyết định và tổ chức cho công nhân đ́nh công theo quy định tại khoản 2 điều 173. Điều này khiến người lao động tự đ́nh công v́ không chờ nổi quyết định của công đoàn. Và đây cũng là một trong những lư do làm cho cuộc đ́nh công đó bị chụp mũ là tự phát, vô tổ chức và bất hợp pháp dẫn đến những hậu quả ghiêm trọng như nói ở trên.

 

IV-Hệ quả nghiêm trọng từ quy định về đ́nh công bất hợp pháp trong pháp luật Việt Nam hiện nay

 

Chính những quy định bất khả thi nêu trên đă làm cho hơn 90% các cuộc đ́nh công tại Việt Nam đều là bất hợp pháp. Điều  này dẫn đến 04 hệ quả tất yếu là :

1.       Quan hệ giữa giới chủ và người lao động càng trở nên căng thẳng v́ giới chủ dựa vào việc tuyên bố cuộc đ́nh công là bất hợp pháp để trừng phạt thậm chí là sa thải người lao động, làm cho người lao động trở nên túng quẫn, bế tắc và bị dồn vào bước đường cùng.

2.       Khi cuộc đ́nh công bị coi là bất hợp pháp th́ những yêu sách của người lao động cũng sẽ không được giải quyết như là một hệ quả tất yếu. Và do vậy, vấn đề cốt lơi là các tranh chấp lao động tập thể vẫn tiếp tục tồn tại và dồn nén chồng chất càng dễ dẫn đến những cuộc đ́nh công khác.

3.       Cách giải quyết cứng nhắc dựa trên những quy định pháp luật ấu trĩ và hạn hẹp đó của Toà án càng làm người lao động mất ḷng tin vào pháp luật và nhà nước, từ đó lại càng dễ manh động và có những hành vi bất tuân thủ làm cho hiện trạng đ́nh công ở Việt Nam càng trở nên phức tạp, rối ren.

4.       Người lao động không những mất ḷng tin vào Toà án và Cơ quan Nhà nước mà c̣n mất ḷng tin đối với cả tổ chức công đoàn v́ công đoàn đảng trị đó không c̣n đại diện cho họ và giúp ích được ǵ cho người lao động. Không những vậy, người lao động tại Việt Nam hiện nay lại không được lập công đoàn độc lập của chính ḿnh, do đó càng thiếu tổ chức và đấu tranh càng khó khăn. Cơ quan quản lư nhà nước cũng v́ thế mà càng khó nắm bắt t́nh h́nh và khó thực hiện chức năng quản lư của ḿnh hơn.

 

Đă có rất nhiều người lao động và ngay cả một số nhà lập pháp yêu cầu cần có một hệ thống công đoàn độc lập tại Việt Nam, do chính người lao động lập ra, đóng góp công sức tiền bạc để duy tŕ nó, và cử/thuê những người có năng lực phù hợp làm việc chuyên nghiệp cho công đoàn đó. Nhưng đến nay, những ư tưởng tuy không mới nhưng rất tốt đẹp và đúng với xu thế phát triển tất yếu của thế giới về tổ chức công đoàn vẫn chưa có dấu hiệu ǵ sớm được nhà cầm quyền Việt Nam ủng hộ và thông qua.

 

V-Cần phải cải tổ luật pháp VN về đ́nh công và phải có Công đoàn độc lập của công nhân

 

Đ́nh công là quyền của người lao động được không làm việc mà vẫn được bảo toàn quyền lợi một cách b́nh thường trong thời gian không lao động này, nhằm gây thiệt hại kinh tế nhất định cho bên chủ lao động hoặc cho bên thứ ba, khi quyền lợi của người lao động bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Người lao động được thực hiện quyền này một cách nhanh chóng, đúng thời cơ, tức là họ phải có quyền chuẩn bị một cách bí mật cuộc đ́nh công để tránh bị giới chủ dập tắt cuộc đ́nh công. Nhưng luật Việt Nam quy định thời gian xin phép và đợi chuẩn y cho cuộc đ́nh công kéo dài gần 1 tháng, cán bộ công đoàn th́ hưởng lương nhà nước thực hiện theo sự chỉ đạo của đảng cộng sản lại vừa làm việc trong chính doanh nghiệp có đ́nh công th́ họ không thể thực hiện được vai tṛ là người đại diện và phục vụ cho quyền lợi của người lao động. Do vậy, gần như không có cuộc đ́nh công nào là hợp pháp tại Việt Nam, v́ muốn thực hiện đúng pháp  luật th́ không thể đ́nh công được, và ngược lại, muốn đ́nh công th́ không thể tuân thủ pháp luật. Việc nhà cầm quyền dựa vào căn cứ pháp luật lạc hậu này để kết luận cuộc đ́nh công là bất hợp pháp đă mang lại những hệ quả tồi tệ, chồng chất và đào sâu thêm mâu thuẫn giữa các bên, làm tiền đề cho những cuộc đ́nh công khác nối tiếp.

 

Luật pháp Việt Nam không c̣n theo kịp thực tế đời sống và cản trở xă hội phát triển. Việt Nam cần phải có những quy định pháp luật về đ́nh công phù hợp và tuân thủ luật pháp quốc tế, cụ thể là quy định của tổ chức Lao động quốc tế, và nhất thiết phải bám sát được đời sống xă hội đang diễn tiến không ngừng, với mục tiêu tối thượng là phục vụ cho quyền lợi của người lao động với 04 nội dung cụ thể là :

1-      Phải có định nghĩa pháp lư về đ́nh công và phân biệt rơ đ́nh công với bỏ việc hàng loạt;

2-      Quy định về thời hạn thông báo và chuẩn y thực hiện cuộc đ́nh công không quá 72 giờ (đề xuất). Quy định chỉ cần một bước đàm phán hoà giải tại cơ sở mà không thành th́ người lao động có quyền đ́nh công ngay hoặc lựa chọn con đường Toà án để giải quyết. Quy định như vậy mới bảo đảm được tính thời cơ để cuộc đ́nh công khả thi và có hiệu quả, và đồng thời nâng cao thái độ và trách nhiệm của giới chủ và những người đại diện cho công quyền có liên quan.

3-      Chỉ coi cuộc đ́nh công là bất hợp pháp khi cuộc đ́nh công đó không liên quan ǵ đến lao động và quan hệ lao động (như giới chủ thay đổi đồng phục cho công nhân nhưng không ảnh hưởng ǵ đến sức khoẻ hay gây khó khăn trong khi làm việc, hay không để công nhân đi cổng chính mà chỉ cho đi cổng bên .v.v.), c̣n cuộc đ́nh công dù không xuất phát từ tranh chấp lao động trực tiếp, mà liên quan đến pháp luật, chính sách của nhà nước về lao động th́ phải được coi là hợp pháp.

4-      Người lao động có quyền thành lập công đoàn độc lập của ḿnh, được đóng quỹ, quản lư và thuê người chuyên nghiệp điều hành tổ chức công đoàn của ḿnh. Người lao động có quyền tự do thành lập các tổ chức công đoàn theo nghành, công đoàn theo lănh thổ và tự do liên kết với các tổ chức công đoàn khác.

 

Kính thưa Quư Vị,

 

Cuộc đấu tranh này sẽ ngày càng phát triển v́ đây là một hiện thực khách quan, là hệ quả tất yếu xuất phát từ những bất công tràn lan trong xă hội Việt Nam hiện nay, một xă hội cộng sản nhưng người công nhân lầm than nghèo khổ vẫn đang ngày đêm bị bóc lột thậm tệ và bị đối xử thiếu tôn trọng về nhân phẩm. Cuộc đấu tranh này rất gian khó nhưng sẽ được tiếp tục một cách trường kỳ và vững chắc cho đến khi nào có được sự công bằng trong quy đổi giá trị lao động và nhân phẩm của người công nhân được tôn trọng.

 

Tôi hoàn toàn hiểu rằng ḿnh chỉ là một cá nhân góp tiếng nói nhỏ nhoi ủng hộ và đang t́m kiếm giải pháp cho cuộc tranh đấu này. Tôi tin tưởng chính những nỗ lực không ngừng của lực lượng công nhân và dân chủ tại quốc nội Việt Nam sẽ nhận được sự quan tâm và ủng hộ của các bạn, những người có bề dày kinh nghiệm đấu tranh của công nhân, do công nhân và v́ công nhân, giúp đỡ chúng tôi hiệu quả và kịp thời bằng những hành động cụ thể và thiết thực tạo thành một áp lực đủ lớn từ bên ngoài tác động làm biến chuyển pháp luật hiện tại của Việt Nam về đ́nh công, để người lao động có thể đ́nh công hợp pháp và có công đoàn độc lập của chính ḿnh. Đây là tâm huyết của tôi mang đến Hội nghị này và mong muốn Hội nghị này mang lại cho Việt Nam.

 

Xin cảm ơn quư vị đă dành thời gian quư báu cho tôi.

 

 

 

 

 

LEGISLATION ASPECT ON INDUSTRIAL ACTION & THE NEED OF INDEPENDENT UNIONS IN VIETNAM

 

Lawyer Le Thi Cong Nhan - Vietnam

Warsaw-Poland, 10/2006

 

Ladies and Gentlemen,

It is a great honour for me to be invited to a conference that is held at the heart of the unified movement regarding worldwide labour. I come from Vietnam, a current totalitarian ruling communist country, and I am sorry that I do not have much good news to inform you of the daily living and working of workers & labourers in my country. Therefore, in this simple article, I won’t describe much about the miserable living, the low salary of the workers & labourers in Vietnam, and the fact that they are treated with little respect; but rather, I would like to emphasize on the legislation aspect of industrial action and the important need to have independent unions for the labour opposing the state unions of the ruling party in the current Vietnam.

 

The fighting movement of labourers for their basic & essential rights has recently expanded & been generated strongly through many strikes nationwide. However, 90% of a total 1200 strikes in the last 10 years were considered illegal by the communist state union and state courts. Therefore, the communist state government has oppressed severely the movement, because of the following causes:

 

I- The Current Law of VN Does Not Support Industrial Actions

 

The current law of Vietnam is deprived of rules & regulations that are judicious and feasible for the industrial action rights of labour, and there does not exist a definition of strike. The only code of the rights to take industrial action is Rule 1 of Clause 172 of the Employment Act 2002, which stated: “If a number of workers & labourers disagreed with the decision of the Employment Mediators Committee, then they have the right to take the industrial dispute to a People Court or strike.”

 

Nevertheless, the communist government of Vietnam established impractical procedures that are difficult to settle and aimed to prevent industrial strikes of labour. Currently, the Employment Act of VN compulsorily imposes any industrial collective dispute, that is the only legal cause for industrial actions of labour, to 2 reconciliation steps: Firstly a reconciliation at the Basic Reconciliation Committee within 7 days from the application date, and if it failed then secondly it is applied to the Provincial Arbitration Committee within 10 days from the applied date. After that, if the reconciliation process failed, the collective workers & labourers can take it to court or strike (Clause 170, 171). These procedures last two long for the labour and the capitalist, especially for the labour because their daily life depend on their very low wages. 

 

On the other hand, by law, an industrial action is allowed and recognized if within 17 days from the application date, workers & labourers could collect over ½ signatures of the dispute members, and then 3 Board members in the state union of this enterprise must deliver the notice of strike to 3 bodies: the Province Employment Services, the Provincial Labour League and the enterprise capital (the first two bodies are state organization). Nevertheless, how difficult it is for the labourers to collect enough quorum of signatures and what enterprise can allow them to collect these signatures on site from their firms.  Although law sets such a long time and complicated procedures, it does not state any sanction or responsibility upon the state Reconciliations and Arbitrations if they fail to reconcile within the time limit. Thus, these bodies work very slowly, irresponsibly; and as a result of that, labour suffers a lot from repressed pressures. Then, these delays & irresponsibility encourage the labour to take their industrial actions for their own benefit.   

 

If industrial action is the labour rights then workers / labourers have to be allowed to strike when a strike is needed and they should not have to follow impractical & delay procedures in application for permissions from the communist state government.

 

 

II- The Current Law of VN Sets Obstacles To Industrial Actions

 

Vietnam Communist Law currently has not defined what is industrial action but imposes a definition of what is an illegal strike!!!.

 

Clause 176 in the Employment Act 2002 declares vaguely (confusingly) that legal strikes are ones that do not come from collective disputes of employment, overcome the scope of employment relationship & enterprise; and labour is not allowed to go on strikes during the awaiting periods for decisions from the Employment Reconciliation Council and the Employment Arbitration Council (Clause 173).     

 

The above legal procedures restricted mostly cases that the labour has rights to go on strikes. For example, what happens if the state arranges to impose rules for what labour considers their rights would be abused or in a case some individual worker / labourer was insulted or violated, then labour class must own the rights to go on strike instead of being restricted. However, in the current Vietnam, the state authority considers that only industrial actions from collective employment disputes are legal. This consideration is not accordingly appropriate to the scientific & human standards from the International Labour Organization (ILO) that declared workers & labourers have rights to take industrial actions if they want to make political pressures to the state authorities or to the political parties about a problem that includes threats to labour interests even if the threats are not immediate. 

 

Aims of strikes are to claim higher interest standards & rights for labour by putting pressures from a level of economic losses upon enterprise capitals and/or authorities. Whatever fact that leads to an industrial action, is only an aspect of the formalism. Therefore, nature of strikes always has a strong attachment to political status essentially, but not a pure and immediate relationship in employment issues. Concretely, an industrial dispute looks like an interest dispute, of which features, background, scope and scale of the dispute could stand out the political characteristics of that strike. However, current Law in VN imposes arbitrarily industrial action in a limited scope, which is only collective employment dispute and only dispute of pure economic interests. This imposition lames the roles and the nature of an industrial strike of which connections to political problems have been recognized by the whole world. Although the propaganda of communism always recognize this political connection, in practice the Vietnamese communists have carried on in the contrary.

  

The current Law in VN specifies a strike illegal, if this strike overcomes the enterprise scope and this specification is ambiguous and incorrect. It is ambiguous because there is no definition of “the enterprise scope” so that “the enterprise scope” can be realized as the business or the geographical domain of an enterprise. It is uncorrected because whatever imposition of the scope is not also fitted for industrial action. The labourers have their full rights to take actions when their interests have threats of violation, and not only when direct disputes within their enterprise occurred. On the other hand, labourers cannot take industrial actions only within their geographical domain of their work places, but anywhere. In reality, cases of industrial action presently are also protests or marches, which are more and more popularly worldwide.    

 

Moreover the communist authorities in Vietnam bases themselves on “their solid imposition of illegal strike” to oppress terribly the individual labourers / workers of strikes, even the capitalists felt unexpectedly. Gradually, such policies and laws impose a fear of strike for political aims on the labourers / workers when strikes for political aims are quite normal in the developed & modernized countries. Thus, labour nearly does not have any role in the state politics; conversely they are only screens to be used by the Vietnamese Communist Party (VCP) for its demagogy when necessary.

 

In particular, I attach special importance to this aspect of the Vietnamese Law because in reality there were less than 10% (ten percent) of the total number of strikes met those standards to be legal strikes. What a shame!, these 10% did not result in expected successes and then rights and legitimate interests of labour class have been violated after the strikes which were considered ideal by these authorities.

 

 

III-Consequences From Court’s Decisions On “Illegal Strikes 

 

3.1 Court’s verdicts in the current VN concluded most of strikes were illegal to make references for the terrible oppressions caused by police who is considered to act legally. However, I would like to remind you that these references have based on a foundation of an illogical and narrow law of the current communist Vietnam.

 

3.2 The concrete consequence from the Court’s verdicts considering an illegal strike makes the participated labourers / workers become criminals. Then their wages were cut and they were even layed-off sometimes, because their factory capitals referred to decisions from Courts to accuse participated labourers / workers that they themselves gave up their jobs and then dismissed strike labours legally (item c, article 1, Clause 85).    

 

3.3 We especially have to be interested in the destinies of these strikes’ leaders; most of them are common labourers or workers and not officers of state union. After the industrial actions that were supposed to be illegal, labourers were always victimized, oppressed, dismissed and even were unjustly accused as criminals in many cases such as public security violation, inciting riots, action against active services, etc….  

 

Listening until this time, perhaps you are questioning that where is the role of the Union in VN ? Union in VN is large, crowdedly rich and is pampered by the VCP, but in the VCP’s totalitarian current structure, Union is considered as an organ of the Party, is lead by the Party and serves the Party. Thus, Union in VN is no more a normal, pure & common union as its nature as the unions in the world. A real union must be founded by labourers & workers themselves, maintained and developed by themselves only. Only, real unions of this type could serve interests of labour unlimitedly.  Because the Unions in current VN are not independent, no board of basic unions dares to organize industrial actions for their labour members by Article 2, Clause 173. This Clause resulted the labourers had themselves to take actions because they cannot wait for nothing from the basic state unions.  This is one of the causes that make these industrial actions were labeled unprompted, anarchical & illegal then as a result of these imposed labels severe consequence happened as said above. 

 

IV- Severe Consequence From Regulation Of Illegal Strikes In The Current Vietnam Law

 

The above unfeasible regulations themselves cause more than 90% strikes in Vietnam to be illegal. Four consequences from these regulations are as follows: 

5.       Relationships between labours and capitals become tense ones because capital class usually referred to the so-called “illegal strike” to punish, even lays off the workers who fall in hardship and impasse.

6.       As a strike is treated to be illegal by the authorities, then consequently requests and claims from workers & labourers would not be satisfied. Therefore, employment collective disputes essentially still remain and being repressed to lead to other industrial actions easily.  

7.       The rigid resolve that refers to those puerile & limited regulations of the Courts makes the workers & labourers to lose their trust in the state law much more. As a result of that, spontaneous & disobedient actions from workers & labourers make the current strikes in VN complicated and disordered.    

8.       Labours both lose their trust on Courts and State services and even state union organizations, because those unions of the totalitarian government do not represent labours / workers and do not help workers any more. Furthermore, labours in the current Vietnam are not allowed to form their independent unions themselves, therefore their campaigns & struggles are more difficult and unorganized. As a result of this, the state related organs have difficulties in catching information and performing their management roles.

 

There has existed many labourers / workers and even legislators have demanded for an independent union system of Vietnam, of which the labour themselves found, manage, maintain and contribute, and employed suitable professional to work for. Although these very normal and good demands for union organization are still not approved & supported by the Vietnamese authority, even these demands suit the world trend of indispensable development.

 

V- Need To Reform The Vietnam Law On Industrial Action & Independent Union Is A Must.

 

Industrial action is the rights of labourers to obtain normal interest during strike time with aims of protecting interest & preventing from interest violation by causing a level economical loss for the capital class or the third party. Labour must be respected to perform the rights on time & quickly, that means they must be allowed to arrange industrial action confidentially, to avoid the capital stamp out it. However, the Vietnam Law set a month for applying for and waiting approval for a strike. Furthermore, state union’s officers are working in the same site of dispute, getting wages from the state and practicing concrete guidance of the Vietnamese Communist Party (VCP), therefore they may not perform the representative roles and interest services for labour. Thus, there have not been almost a legal strike in the current Vietnam, with reason is as follow: if you want to follow legislation then you cannot take industrial action, conversely if you want to strike then you are not able to follow legislation. Bad results, from the fact that the authority used their backward law to impose illegally on industrial actions, have arisen, built up & increased gap from parties and create premise for other strikes occur.

 

The current Vietnam Law is no more catching up with reality of life and obstructing development of the society. Vietnam needs legislative regulations on industrial action that suits and observes the international law, in particular the regulations of The International Labour Organisation (ILO), and absolutely necessary follows close behind the social life that is progressing continuously, with supreme aims of serving interest of the labour as the following 4 concrete comprehensions:   

5-      There must exist a legal definition of industrial action and a discrimination between strike and massive resign from their jobs; 

6-      I suggest that strike-defined time for notice and grant (approval) for an industrial action is not more than 72 hours limit. To fix only one-step for negotiation & reconciliation on site and if these issues failed then workers have the immediately rights to take industrial action or to take the dispute to Court. This fixation ensures the opportunity for the feasibility and effection and enhances attitude and responsibility of the capital class and of the concerned public representatives.  

7-      Only consider an industrial action is illegal when it is not related to employment and working relationship (for example, when a firm capital decide to change uniform without harm on health and safety or to let workers enter rear entrance instead of main entrance, etc. ..). Moreover, any strike, that does not come from direct employment disputes, but concern to state law & policy on employment/labour, must be considered legal.

8-      Labour have rights to form their independent unions, to contribute donation to these ones, to manage these ones and to employ professionals to run these ones.  Labour also have freedom rights to form professional unions, geographical unions and freedom to associate with other union organizations to protect their interests. 

 

Ladies and Gentlemen,

The current struggle are going to be more and more expanded because this is a unprejudiced reality, and is an indispensable consequence rising from extensive unjustices in the Vietnamese current society - a communist society in which labour is miserably, poverty-stricken, severely exploited day and night and humiliated in dealing with.  It is a hardship struggle with continuity for long term and firm until there exists equal opportunities for labour and labour value and labour dignity are respected.   

 

I quite understand I am a little individual who supports and contributes my voice and am searching for a solution for the fighting. And also, I believe in the continuous attempts of labour force and democratic force in Vietnam that are going to receive aid, assistances and supports from people who, in depth, share the experiences of  the current labour force, both from labour and for labour. Your specific & practical aid, assistances and supports would be effective and scheduled in creating of an external pressure, which is large enough to make a change of the current law on strike, in order to allow labour to take industrial action legally and to have their independent unions. This is my confidence contributed to the conference such that the conference also contributes and brings this confidence to Vietnam.

 

Thank you for your time

 

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục