DC&PT - Thời Sự 2006

 

 

 Tính sổ Dân chủ đầu năm:

 

ĐÔNG VÀ TÂY PHUƠNG VẪN  C̉N NHIỀU CÁCH BIỆT

 

LÂM LỄ TRINH

 

Thể chế dân chủ được đem ra áp dụng lần đầu tiên như một mô thức cai trị tại quốc gia Athènes, Hy lạp, 5 năm trước Thiên chúa giáng sinh. Trải qua nhiều thế kỷ , khái niệm dân chủ nay không c̣n giữ nguyên ư nghĩa như xưa . Thật vậy, trong sinh ngữ Hy, danh từ dân chủ có nghĩa là chủ quyền thuộc về toàn thể công dân hay nói cách khác, dân trực tiếp tham gia vào mọi quyết định liên hệ đến đời sống hằng ngày của đất nước. Thể thức này khả thi tại Athènes là một xứ nhỏ bé có diện tích một thành phố và dân số giới hạn . Hơn nữa, vào thời buổi ấy, tư cách công dân chỉ dành riêng cho người dân thuộc phái nam sinh trưởng trong gia tộc tự do, c̣n nữ phái, giai cấp nô lệ và các phần tử từ nơi khác đến th́ bị loại trừ.

 

Ngày nay, dân chủ hết được hiểu theo nghĩa hẹp và người dân không c̣n đích thân tham chính. Điểm căn bản của nền dân chủ tân thời là việc bầu ra một hệ thống đại diện thay mặt dân điều hành việc nước.Chế độ này được mệnh danh Dân chủ đại nghị  trong đó công dân gián tiếp tham dự vào quyền bính.

 

Tại Tây phương, dân chủ thường được xem như chính thể hợp lư duy nhứt .Tuy nhiên lịch sử không hoàn toàn xác nhận điều này. Nhiều thức giả lỗi lạc của phương Tây , từ Aristote đến Saint Augustin, kể luôn các cha đẻ của cuộc Cách mạng Hoa kỳ đă tỏ ra hoài nghi sự cai trị của dân ( the rule of the people ) được họ đồng hóa với sự cai trị vô kỷ cương của đám đông ô hợp dốt nát ( the rule of the mob ) kém hiệu năng hơn môt chính quyền điều khiển bởi tầng lớp chuyên viên có kiến thức. Phải đợi đến khi Cách mạng Pháp bùng nổ vào năm 1789 mới thấy việc thí nghiệm trao quyền cho dân định đoạt vận nước trở thành sự thật .

 

Trong hiện tại, có thể quan niệm dân chủ theo hai cách :

 

-     Cách thứ nhứt , cổ điển và nặng về h́nh thức, formalist concept . Một chính thể được xem như có khuynh hướng dân chủ nếu bảo đảm sự hiện diện của các đảng phái chính trị và tổ chức bầu cử định kỳ . Quan niệm này là của đa số nhà tư tưởng nói chung và chuyên gia về chính trị học nói riêng ở Tây phương .

 

-     Cách thứ hai , chú trọng về nội dung của khái niệm ( substantial concept ) hơn về khía cạnh h́nh thức và nhấn mạnh vào những vấn đề thực tiển như : Đến mức nào kết quả của bầu cử phản ảnh trung thực ư muốn của cử tri ? Đảng phái có thật sự đại diên cử tri đoàn hay không ? Nhà cầm quyền đắc cử có chân thành và nghiêm chỉnh hành động theo sự ủy nhiệm của dân không ?..v..v

 

Dân chủ và Phát triển

 

Khái niệm thứ hai nêu trên đóng vai tṛ hệ trọng trong cuộc tranh biện về mối liên hệ giữa Dân chủ và Phát triển .Trong thập niên 1960- 1970, vấn đề này được bàn căi sôi nổi khi một số thuộc địa ở Á châu, Phi châu và Nam Mỹ thu hồi chủ quyền trong tay của các đế quốc . Bị các phong trào đấu tranh dân tộc buộc rút lui , thực dân Tây phương vừa thuyết phục , vừa áp lực các tân quốc gia áp dụng mẫu dân chủ đang thực hành trong xứ của họ , một thể chế mà trước đó họ không hề bận tâm ban bố . Trường hợp điển h́nh là Anh quốc đối với Hồng kông . Để chuẩn bị giao hoàn nhượng địa này cho Trung quốc vào năm 1997, chính quyền Luân đôn cấp cho hải cảng Hồng kông một quy chế dân chủ tân tiến vào giờ thứ 24 với chủ đích đặt Bắc kinh trước một t́nh trạng đă rồi.

 

Phần đông các nước mới độc lập đều có một bộ mặt dân chủ : quốc hội, đảng phái, bầu bán…nhưng sau bức b́nh phong tiền chế đó, ít nhứt cũng trong những năm đầu sau Đệ nhị thế chiến và suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh , đa số đă phải khổ sở vật lộn với trăm ngàn khó khăn thực tế như nạn nghèo đói, bịnh tật , t́nh trạng thất học, môi sinh ô nhiểm, hạ tầng cơ sơ thiếu kém...V́ thế đà phát triển kinh tế , văn hóa và xă hội của các xứ này bị ngưng trệ và điều kiện thiết yếu không hội đủ để thực hiện tự do dân chủ .

 

Trong thập niên 60, quan điểm thịnh hành hàng đầu trong giới chuyên gia về tổ chức chính quyền và phát triển quốc gia là dân chủ chỉ có thể đâm chồi nở nhụy trên căn bản của một nền kinh tế và xă hội mở mang. Nói cách khác, theo chủ trương  “ No democracy without development , muốn quần chúng tham gia hữu hiệu vào tiến tŕnh dân chủ th́ cần trước nhứt giải quyết thỏa đáng nạn thất học và bảo đảm mức sống tối thiểu. Lập luận này được những chế độ và lư thuyết gia thuộc khuynh hướng xă hội cổ vơ và nhiệt t́nh bênh vực . Đặc biệt, họ cả quyết rằng sự tăng tiến của khối quốc gia thuộc Đệ tam thế giới cần phải đi qua một thể chế chỉ huy trong giai đoạn sơ khởi [1] .

 

Bắt đầu từ thập niên 80, chủ thuyết trên đây mất lần ảnh hưởng . Giới phân tích gia quốc tế bác biện rằng trong nhiều xứ “giai đoạn chỉ huy” kéo dài vô tận và các chính thể độc tài vận dụng mọi phương cách và viện dẫn đủ thứ lư do để tồn tại , bất chấp quần chúng  chống đối . Sự thất bại của các chính phủ xă hội cuối thập niên 80 xác nhận mối hoài nghi này. Kể từ năm 1990, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tại Nga sô và các chư hầu Đông Âu. Sự kiện này minh xác dân chủ không cần có phát triển  kinh tế mới nẩy nở . Phương cách tốt nhứt để giải quyết nạn nghèo đói và t́nh trạng kém mở mang là vơ trang quần chúng bằng những cơ chế dân chủ vững chắc  để đề pḥng và chận đứng thể chế chuyên quyền phát sinh , làm tiêu hao tài nguyên quốc gia và biến mộng phát triển thành mây khói. Ấn độ thường được nêu danh là thí dụ cụ thể của một thể chế thực hiện dân chủ  khỏi phải đợi phát triển trong khi trái lại , một xứ Á châu bên cạnh là Trung quốc vẫn sống dưới chế độ chuyên chế ĺ lợm mặc dù có tiến triển về kinh tế .

 

Vào thập niên 90, không c̣n bao nhiêu phân tích gia ủng hộ lư thuyết Không có phát triển, không thể có dân chủ”. Khuynh hướng hiện đại có vẻ nghiêng về phía đề cao khẩu hiệu Dân chủ dọn đường cho phát triển vững , Dân chủ là điều kiện tiên quyết để phát triển . Quan điểm mới này có hợp lư hay không ? Khó thể phúc đáp dứt khoát , với một câu trả lời vừa không có tính cách lư thuyết suông .

 

Tuy nhiên có hai điều nhận xét đáng được nêu ra :

 

1 - Trước hết , lập luân trên đây - đặc biệt vào những năm 90 - căn cứ vào giả thuyết rằng dân chủ liên kết mật thiết với thị trường tư bản mà Tổng thống Clinton đă từng mệnh danh dân chủ thị trường, market democracy” và đề nghị thực nghiệm tại các xứ Đông Âu sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt. H́nh thức dân chủ này , thay v́ lấy tự do chính trị làm chủ đích , lại đề cao - trên và trước hết - tự do sáng kiến cá nhân hay quyền của tư nhân xướng suất trong lănh vực kinh doanh thương mại . Chiến lược vừa nói có thể thành công trong một số nhưng không phải tất cả trường hợp . Thật vậy, lồng chủ thuyết và hệ thống thị trường hoàn toàn tự do vào bối cảnh trước đó không hề có luật pháp quy định để điều chỉnh giá cả tiền tệ và kiểm soát phân phối hàng hóa , có thể tạo ra một thị trường hỗn loạn và dựng lên bất b́nh đẳng xă hội . Hậu quả nguy hại này không làm sáng sủa chút nào viển ảnh của một nền dân chủ chuyên chính . Nga sô và một số cựu quốc gia cộng sản là bằng chứng điển h́nh [2] .

 

2 - Mặt khác, lập thuyết cho rằng Dân chủ là điều kiện thiết yếu để đẩy mạnh phát triển” h́nh như đă bị phủ nhận bởi những diễn biến xảy ra những năm sau này tại Á châu. Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ , các con rồng” Singapore, Đài loan, Nam Hàn, Mă lai, Nam dương và Thái lan đă một thời ghi nhận  được nhiều bước tiến kinh tế gây ngạc nhiên , dưới sự điều khiển của những chính phủ bị Tây phương tố cáo là chuyên chế . Các xứ này đă thực hiện một số cải cách dân chủ trong thập niên 90 sau khi phát triển liên tục trong thập niên 80. Sự trạng nói trên có vẻ đề cao chủ thuyết Phát triển khuyến khích Dân chủ”. Đặc biệt , nên để ư đến trường hợp của Trung quốc , nơi mà thị trường tự do được áp dụng thành công trong các vùng kinh tế mới dưới chế độ cộng sản.

 

Đầu thập niên 90, làn sóng dân chủ hóa tràn vào một phần của lục địa Phi châu bằng phương cách mà giới  chuyên viên gọi là Viện trợ có điều kiện, Aid conditionality”. Những xứ Tây phương chỉ viện trợ nếu các chính thể tại chỗ đồng ư tổ chức bầu cử và cho phép đảng phái chính trị hoạt động . Khác với những quốc gia Đông Nam Á được mệnh danh khối NIC ( new industrialized countries ) , các xứ Phi châu đành phải chấp nhận v́ nợ nần chồng chất . Cần chờ xem nền dân chủ áp đặt từ bên ngoài có thể đem lại những thay đổi sâu đậm về cơ cấu cần thiết cho việc thực hiện cải cách xă hội và kinh tế hay không ?

 

Những tập tục và tân khuynh hướng dân chủ tại Á châu.

 

Dân chủ không phải là một khái niệm mới mẻ đối với Á châu v́ xuất hiện tại lục địa này trước cả Âu châu.Trong thời quân chủ xa xôi , quyền bính ở nhiều xứ Á châu giao trọn và tay Vua hay Hoàng đế . Theo một xác tín chung, dân chủ thể hiện qua việc Trời thay Dân chọn Vua để cai trị. Vua phải làm đẹp ḷng Trời bằng cách cai trị  theo ư dân ( Tri Thiên Mệnh ). Ư Dân được đồng hóa với Ư Trời . Trên thực tế, chế độ quân chủ không thực hiện được dân chủ v́ nhà vua cầm quyền giải thích Thiên Mệnh theo quan điểm và quyền lợi riêng tư . Chẳng những thế, lắm khi Vua c̣n lợi dụng cái giả thuyết bung xung Ư Trời để mị dân và đàn áp dân. Chính quyền quân chủ không phải do dân bầu nên không có tính cách dân chủ . Quân chủ tượng trưng cho một chế độ nhất nguyên vào giai đoạn phôi thai trong đó hoàng tộc đóng vai tṛ của độc đảng.

 

Tây phương xem triết gia Anh quốc John Locke như người có công đầu đặt nền tảng của thuyết dân chủ hiện đại . Theo Locke, chủ quyền thuộc về dân và nhà lănh đạo được dân ủy nhiệm để cai trị nhân danh một thỏa ước mà dân có quyền hủy bỏ . Trên hai ngh́n năm trước Locke, Khổng Phu Tử ( 513 - 479 trước Thiên chúa giáng sinh ) , là một triết gia đồng thời một nhà luân lư học Trung hoa , tác giả bộ sách Ngũ Kinh ( Kinh dịch, Kinh thi, Kinh thơ, Kinh lễ và Kinh Xuân thu ) . Các lời huấn dạy của ngài được ghi chép trong Tứ thơ ( Đại học, Trung dung, Luận ngữ…) theo đó người lănh đạo phải có đủ đạo đức . Đạo đức căn cứ vào kiến thức và sự thông hiểu sâu sắc tánh t́nh con người và nhân loại . Phương châm của Khổng tử thấm nhuần thực tế . Đức Khổng tránh đề cập đến Thượng đế và từ chối thảo luận về vấn đề bất diệt, bất tử ( immortality ). Trọng tâm nghiên cứu và giáo hóa của đạo Khổng là Con Người : Nếu không hiểu được con người th́ làm thế nào hiểu được thần linh ? . Khổng tử không chống chế độ quân chủ v́ xem nhà vua  như nắm quyền chuyến chế vô biên và cần được huấn dụ để trị v́ trong chính đạo . Tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”  là điều kiện dẫn đến thành công . Thật vậy, phải trau dồi bản thân và xây dựng gia đ́nh rồi sau đó, dốc toàn lực điều khiển xứ sở và đem lại ḥa b́nh cho nhân loại . Như thế , sẽ thành nhân” .

 

Hơn một trăm năm sau, cũng tại Trung hoa, triết gia Mạnh tử ( 372- 289 trước Thiên chúa giáng sinh ) chủ trương táo bạo hơn Khổng phu tử và luôn cả John Locke về quyền hạn của người dân . Mạnh tử thuyết giảng rằng nếu Vua không tuân thiên mệnh để cai trị có lợi cho dân th́ dân có quyền bất trung nổi loạn và lật đổ hôn quân , nhân danh ông trời. Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh” , Dân là trên hết , rồi đến Nước v́ có dân mới có nước., vua xếp hạng sau hết. Giới thức giả hiện đại đă từng so sánh Mạnh tử với Thánh Saint Jean Baptiste trong Thánh kinh công giáo v́ Mạnh tử khí khái tố giác trước triều đ́nh tệ đoan và sái quấy của nhà vua [3] .

 

Tại Triều tiên, có một tôn giáo mệnh danh Tonghak được thành lập từ nhiều thế kỷ nay . Giáo phái này chủ trương thẳng thừng “Dân là Trời” ,  phải phục vụ dân như tôn vinh thượng đế và sự xác tín này là động lực thúc đẩy nửa triệu nông dân nổi loạn năm 1894 chống chính quyền phong kiến trong xứ và đế quốc bên ngoài .

 

Ở Việt Nam , ảnh hưởng của Phật giáo, Khổng giáo và văn hóa Trung hoa rất sâu đậm , ( đọc “Nho giáo” của Trần Trọng Kim ). V́ thế truyền thống dân chủ  không phải hoàn toàn vắng bóng . Châm ngôn Phép Vua thua Lệ Làng” được phổ biến rộng răi trong dân chúng và được triều đ́nh thi hành nghiêm chỉnh v́ làng là đơn vị gốc của xă hội Việt và có tư cách pháp lư và quy chế cổ truyền . Chiếu chỉ Triều đ́nh đă nhường bước trước tập tục lâu đời của làng mạc được bảo vệ sau những lũy tre xanh .

 

Cuối thế kỷ 18, Trung quốc chính thức bước vào kỷ nguyên dân chủ dưới sự lănh đạo của bác sĩ Tôn Dật Tiên (1886- 1925 ), cha đẻ của Tam dân Chủ nghĩa chủ trương phân quyền giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp .Tại Ấn độ, sau Đệ nhị thế chiến, cuộc Cách mạng bất bạo động do Mahatma Gandhi ( 1869- 1948 ) hướng dẫn đă thành lập tại bán đảo này một nền dân chủ hữu hiệu mặc dù c̣n gặp nhiều khó khăn kinh tế.

 

Tại Nhựt , Nam hàn , Đài loan, Thái lan và Phi luật tân , dân chủ được chính quyền công nhận tuy sự ủng hộ chưa hẳn là đầy nhiệt t́nh . Trong khi đó, các quốc gia Á châu khác th́ lại tỏ ra dè dặt , nếu không nói là chống đối , trong số này có Việt Nam, Nam dương, Miến điện, Cao miên và Trung quốc. Tuy nhiên, theo nhận thức chung, ngay cả những nước vừa kể sau có vẻ ư thức một cách thực tế hơn trào lưu đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trên thế giới và  đều đồng ư áp dụng kinh tế thị trường [4] .

 

Các sự kiện tŕnh bày trên đây cho thấy khái niệm dân chủ ở Đông phương có những nét đặc thù và thắm nhuần tính cách nhân bản , đại đồng v́ nhằm mục đích chẳng những bảo đảm quyền phát triển cá nhân mà c̣n luôn cả sự tồn tại của mọi sinh vật . Vai tṛ của chính quyền thường được đề cao và trách vụ đạo lư của giới sĩ phu được nhấn mạnh. Ḥa b́nh trên địa cầu nhằm mục tiêu bảo vệ mọi vật dưới gầm trời sinh nở và sống sót . Ư thức cao đẹp này bắt nguồn từ giáo thuyết của Đức phật Gautama theo đó mỗi sinh và động vật đều có mang Phật tính ( a buddha - like quality )[5] . Hănh diện về di sản dân chủ và văn hóa cổ kính vừa nói , Á châu không dễ dàng chấp nhận khái niệm dân chủ của Tây phương  nặng về duy vật, có tính cách khoa học và đề cao chủ nghĩa cá nhân . Mặt khác, sau Đệ nhị thế chiến, một số không ít quốc gia Á châu  đă chọn con đường chuyên chế , nhân danh nhu cầu ổn định chính trị để phát triển kinh tế . Kinh nghiệm đă chứng minh các chế độ độc tài chỉ lo bảo vệ đặc quyền của thiểu số lănh đạo . Chuyên chế đẻ ra tham nhũng và bất công xă hội dẫn đến cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay ở Á châu. Và khủng hoảng mở cửa  rước ngoại bang can thiệp , giúp lịch sử tái diễn .

 

Cuộc tranh luận  mới đây về dân chủ tại Tây phương

 

Ngay cả trong giới thức giả Tây phương , vẫn chưa có sự đồng thuận về khái niệm dân chủ . Gần đây, tạp chí Foreign Affairs, số xuất bản tháng 11.1997, có đăng bài tham luận The rise of Iliberal Democracy “ gây  khá nhiều sôi nổi . Tác giả, Gs Fareed Zacharia , bài bác Tây phương - và đặc biệt Hoa kỳ -  quá chú trọng đến việc tổ chức bầu cử để thực hiện dân chủ . Các chế độ phát sinh từ bầu bán được nâng niu bỉ ổi mặc dù vi phạm dân quyền và lạm dụng địa vị dài dài. Vô h́nh chung, một loại “Dân chủ phản tự do , Iliberal Democracy” đă công khai xuất hiện . Theo Zacharia , giải pháp thực tiễn và bớt nguy hại hơn là giúp đỡ để lần hồi cải thiện một số chính thể chuyên chế không được bầu theo lối dân chủ nhưng chấp nhận ban hành hiến pháp , tôn trọng pháp trị , công nhận ba ngành hiến định và không phủ nhận tât cả dân / nhân quyền . Zacharia chủ trương Tự do hiến định, Constitutional liberalism” là điều kiện tiên quyết để đạt đến Dân chủ Tự do, Liberal democracy”.

 

Lập luận của Fareed Zacharia liền bị John Shattuck , Thứ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ và  J. Brian Atwood, Giám đốc cơ quan US Agency for International Development  ( AID ) , phản pháo mạnh trong bài tră lời Defending Democracy . Why Democrats Trump Autocrats ( tạp chí Foreign Affairs,March / April 1998 ). Cả hai tấn công Zacharia về 3 điểm : 1 ) Zacharia tŕnh bày sai lệch chương tŕnh viện trợ dân chủ của Hoa kỳ .   Chỉ có 25% ngân khoản được sử dụng để khuyến khich tổ chức bầu cử tự do. Hoa kỳ c̣n giúp thành lập các cơ cấu lập pháp / tư pháp / hành pháp , nghiệp đoàn, thông tin độc lập và vô số cơ quan ngoại chính hay NGOs , Nongovernmental Organizations, để đấu tranh cho pháp trị, nhân quyền và các tự do căn bản . 2 ) Zacharia cố t́nh giảm thiểu  sự áp chế chính trị của các  chính thể tự xưng là chuyên chế sáng suốt , enlightened / benevolent autocrats”. 3 ) Zacharia dựa vào những chứng cứ không vững để biện minh rằng công cuộc dân chủ hóa gia tăng thay v́ giảm bớt những căng thẳng trong xă hội.

Quan điểm của Marc F. Plattner, chủ bút của Journal of Democracy và giám đốc Diễn đàn Quốc tế Nghiên cứu Dân chủ, trong bài tham luận Liberalism and Democracy. Can't Have One Without the Other ( Foreign Affairs , March / April 1998 ) có tính cách dung ḥa và cân nhắc . Theo Plattner,  Dân chủ Tự do - danh từ được quần chúng thường sử dụng hiện nay khi nói tới dân chủ - là sự kết hợp chặt chẻ của hai thành tố : 1 )-Dân chủ (  hay sự cai trị của dân, bởi dân và v́ dân, đối chiếu với  những chính thể khác : quân chủ, độc tài đảng , nhóm và độc tài quư tộc ) . 2 )- Tự do  ( quan hệ đến cách thức lảănh đạo “ thay v́ ai là người lănh đạo” . Điều này có nghĩa  uy quyền của chính phủ bị giới hạn bởi chế độ pháp trị, luật lệ, hiến pháp , các dân quyền và nhân quyền  căn bản ).  Hai yếu tố Dân chủ và Tự do không có tính cách bất khả tách rời , bởi vậy trong lịch sử chúng ta đă thấy có những chế độ Dân chủ không tự do ( nonliberal democracies ) bên cạnh các chế độ Tự do không dân chủ ( liberal nondemocracies ). Anh quốc là thí dụ điển h́nh một nước từ từ dân chủ hóa sau khi các cơ chế tự do theo hiến định được an bài. Gần đây, nhuợng địa Hồng kông khi c̣n thuộc đế quốc Anh là một mẫu tự do phát triển  dù dân chủ ( theo nghĩa chính thức ) vắng bóng.  Đầu thập niên 90, một số đông quốc gia độc tài trên thế giới, không có dân chủ lẫn tự do , được thay thế bởi những chính thể hướng về dân chủ. GS Samuel Huntington mệnh danh khối này the third wave of democratization, đợt sóng dân chủ hóa thứ ba” .Ngày nay, tại mỗi lục địa, trên một trăm xứ tuyên bố họ có một chính phủ được bầu tự do . Tuy nhiên , như Larry Diamond nhận xét, những nền dân chủ bầu bán này (electoral democracies) không phải là dân chủ tự do, liberal democracies” . Điều không thể phủ nhận là các chế độ bầu bán dân chủ , nếu sụp đổ và thất bại, vẫn có hy vọng phục hồi và ǵn giữ dân chủ hơn những xứ chưa bao giờ trắc nghiệm dân chủ. Không ǵ đáng ngạc nhiên nếu phần đông các quốc gia, trước kia thiếu sót điều kiện  tiên quyết về kinh tế và xă hội để tiến đến dân chủ, đă vấp phải nhiều khuyết điểm trầm trọng về nhân quyền, pháp trị và tinh thần trách nhiệm một khi họ có cơ hội may mắn bầu cấp lănh đạọ . Plattner  kết thúc với lời đề nghị Tây phương nên giúp mạnh để cải tiến các chính thể dân chủ bầu cử thành  dân chủ thật sự tự do.  Con đường dẫn đến Tự do hiến định trong thế giới ngày nay đi xuyên qua những chính quyền xuất phát từ bầu cử tự do chớ không phải qua các chính phủ chuyên chế vô trách nhiệm [6 ]. 

 

Kết luận . Việt Nam tranh đấu dân chủ nhưng dân chủ nào ?

 

Tất cả các chính trị gia đều lạm dụng ngôn từ Dân chủ nhưng tiếc thay, rất  ít người hiểu biết tường tận . Đông Tây có thể khác nhau về khái niệm dân chủ và h́nh thức cũng như giai đoạn thực hành dân chủ . Tuy nhiên dân chủ có những giá trị phổ quát  không ai có thể phủ nhận . Ngoài ra, để thành h́nh , dân chủ gồm có một số yếu tố căn bản : bầu cử lương thiện, phân quyền cai trị , công nhận đối lập đa nguyên , thượng tôn luật pháp  và trên hết , đạo đức chính trị tối thiểu. Dân chủ không thể an toàn bất cứ ở đâu nếu không được che chở khắp nơi .

Dân chủ không thể bị áp đặt. Dân chủ sao y toàn bản để nhập cảng, lộng kiếng và phô trương không thể tồn tại v́ không do dân tự do tuyển lựa và sống chết bảo vệ . Chọn một mẫu dân chủ thích hợp với nhu cầu của đất nước không phải là chuyện dễ . Việt Nam đến nay vẫn chưa có một chính thể bởi dân, của dân và v́ dân . Dân Việt bị truất quyền quyết định . Đảng Cộng sản không đại diện quần chúng , kể luôn giai cấp vô sản bị phản bội từ lâu. CS là những kẻ tiếm quyền làm tiêu hao tài lực quốc gia  . Họ đang viết những trang lịch sử thê thảm nhứt của đất nước Việt Nam .♣

 

 

[1] Đọc  Democracy without Democrats  của Ghassan Salame, 1993, I.B Tauris Publishers, London- New York .

 

[2] Đọc phần 1, chương 2 , Les decus du capitalisme , Những kẻ thất vọng về tư bản, trong sách  Le Capital suite et fin  của kinh tế gia Guy Sorman, Fayard, Paris, trang 45- 67 ).

[3] Đọc  The wisdom of Confucius and Mencius , ed.by Epiphanius Wilson,Avenel Books, New York, 1982, trang 3-7.  113-114 .

[4] đọc  Democracy in Asia : What kind of a future của Muthia Alagappa, trong tạp chí Asia Pacific Observer , vol. 1, No 3, Oct- Dec 1994 )

[5]  Social revolution in modern world  của Theda Skocpol, NY , Cambridge University Ptress, 1994 )

[6]  Bài tham luận  The Rise of Iliberal Democracy  của Fareed Zacharia trong Foreign Affairs Nov / Dec 1997 - Defending Democracy. Why Democrats Trump Autocrats  của John Shattuck & J. Brian Atwood trong F.A March / April 1998, trang 167-170 .   Liberalism and Democracy. Can't Have One Without the Other., F.A March / Ap.1998, trang 171 - 180

 

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

 

 

 

 


Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam     Trở về Mục Lục