|
|
DC&PT - Thời
Sự 2006
NHỚ VỀ MỘT KẺ
SĨ THỜI NAY,
ÔNG HOÀNG VĂN CHÍ (1913-1988)
TÂM
VIỆT
Sự đột ngột ra đi
của học-giả, nhà văn Hoàng Văn Chí vào 5
giờ chiều ngày 6 tháng 7 năm 1988, ở tuổi
75, tại Bowie, Maryland, đă để lại một
sự thiếu vắng khá rơ nét trong
cộng-đồng người Việt vùng
thủ-đô Hoa-thịnh-đốn. Hết những bữa
cơm thân mật với một số bạn bè,
nhiều người vong niên, do cụ bà ân cần
dọn ra trong khung cảnh vườn nhà thật
đẹp mà ông cụ lúc nào cũng chăm sóc như
một thứ người t́nh! Hết những buổi nói
chuyện về văn-minh, văn-hóa Việt Nam, cho
một số các anh chị em trẻ quây quần bên
cụ, gần như hàng tuần, trong một
thời-gian dài (những anh Công, Tùy, Nhân, Đức, Long
Râu, Thủy, Giao, Tú, Phương Thảo... mà sau này, có
lẽ ít nhiều dưới ảnh-hưởng
của những buổi nói chuyện đó, đă
tham-gia tích-cực trong cộng-đồng)!
Tôi không hiểu ngày hôm nay, trong
cộng-đồng chúng ta, có c̣n mấy người
cao-niên vẫn đeo đuổi cái mục-tiêu đáng
quư đó là âm thầm truyền lại cái di-sản của
quê hương dân-tộc, dù đôi khi đó cũng
chỉ là một bức „dư đồ rách,“
để cho mai hậu, khi cơn bĩ-cực của
đất nước qua đi, chúng ta vẫn c̣n có
thể ngửng đầu?
Nhưng ở thế-hệ ông, câu
hỏi đó không đặt ra, nó đương-nhiên
như hơi thở, nó bắt buộc phải là
như thế. V́ sao? V́ „một ngh́n năm đô
hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ
giặc Tây,“ cái ǵ đặc-thù của ta đă quá
nhiều lần bị đè nén, bị chê bai dè
bỉu, bị khinh khi... tới một độ không
ít người trong chúng ta đâm ra có mặc-cảm
thua kém! Răng đen,
đẹp là thế („Trăm quan mua lấy miệng
cười, Ngh́n quan mua lấy miệng người
răng đen hay Bốn thương răng
nhánh hạt huyền kém xa“), vậy mà dưới
những ảnh-hưởng ngoại-lai kia trở nên
phải đi đôi với „mă tấu.“ Tiếng nước ta mà các
sứ-giả của Trung-hoa khi xưa phải so sánh
với tiếng chim hót, cũng dưới cùng
những ảnh-hưởng đó, trở thành „Nôm na
là cha mách qué“!
Nay sau một trận chiến thư
hùng kéo dài 30 năm (cuộc chiến chống Cộng
dài nhất trong lịch-sử nhân-loại), ta lại
thua v́ bị đồng-minh đâm sau lưng rồi
bỏ chạy, làm sao ta không có mặc-cảm chua xót,
bơ vơ?
Hành-tŕnh của một người
yêu nước
Hành-tŕnh tâm-lư của một
người như ông Hoàng Văn Chí không phải là
một ngoại-lệ.
Biết bao nhiêu người đă đi con
đường mà ông đă trải qua.
Sinh ngày 1 tháng 10 năm 1913 ở
Thanh-hóa, ông đă theo học ở trường Albert
Sarraut của Pháp ở Hà-nội (1928-1935), rồi
đậu cử-nhân khoa-học tại Trường
Đại-học Đông-dương (1940), lúc bấy giờ
c̣n có tên là Université indochinoise, trường
đại-học độc-nhất Pháp cho mở
ở Hà-nội để phục-vụ sĩ-giới
trên ba quốc gia, Việt-Miên-Lào. Kết hôn năm ông ra
trường cùng với bà Lê Hằng Phấn, ái-nữ
nhà học-giả Hán-Nôm Sở Cuồng Lê Dư, ông
như vậy là anh em cột chèo với nhà phê-b́nh
văn-học nổi danh Vũ Ngọc Phan (tác-giả
Nhà văn hiện đại, lấy bà Hằng
Phương) và tướng Nguyễn Sơn (lấy cô
gái út trong gia-đ́nh). Ông
cũng lại c̣n có liên-hệ với cụ Phan Khôi v́
mẹ vợ ông là em gái cụ Phan Khôi, và như vậy
bà Lê Hằng Phấn gọi cụ Phan là bác. Sau này, G.S. Tạ Trọng
Hiệp ở Pháp (dạy ở Paris VII), khi viết
về Phan Khôi, đă có dịp trách ông Vũ Ngọc
Phan, v́ sợ hay hèn, trong hồi-kư của ông đă không
dám nhắc cả đến bố vợ là cụ
Sở Cuồng Lê Dư hay cụ Phan Khôi, bác vợ,
hoặc ông Hoàng Văn Chí, người lấy em
của vợ ḿnh.
Chuyện đất nước chúng
ta trong khoảng hơn 60 năm qua, từ khi
người CS lên nắm chính-quyền, đă thay
đổi hẳn con người Việt Nam trong chúng
ta đến mức đó.
Nó tệ hơn cả dưới thời
Tây-sơn khi Đoàn Nguyễn Tuấn, lấy chị
Nguyễn Du, dù như ra làm quan với nhà Tây-sơn,
vẫn cho Nguyễn Du tá túc ở Quỳnh-côi; hay
Nguyễn Nễ, tuy ra làm quan với Nguyễn Huệ,
vẫn có thơ thăm hỏi em ḿnh là Nguyễn Du;
hoặc Quận-công Nguyễn Thận, quan Tây-sơn,
khi bắt được Nguyễn Du toan vào Nam theo
Nguyễn Ánh, đă v́ t́nh bạn với Nguyễn
Nễ và „cũng v́ tiếc tài nên chỉ giam mấy
tháng rồi tha“ (theo Gia-phả họ Nguyễn
Tiên-điền).
Phải hiểu như vậy mới
thấy làm người dưới thời CS là khó
khăn chừng nào, là dễ mất nhân-tính như
thế nào. Mà đâu
phải ta là những người đẻ ra thù
nghịch với nhau!
Truyền-thống yêu nước ở ngay trong
ḍng máu tất cả chúng ta, ở ngay trong cụ
Sở Cuồng Lê Dư khi cụ theo tiếng gọi
Đông-du của Phan Bội Châu sang Nhật học (dù
như về sau cụ có bỏ về nước
để theo con đường văn-hóa, xây dựng
dân-trí trước, tựa như quan-niệm của
Phan Châu Trinh hay nhóm Tự Lực Văn Đoàn sau này). Ḍng máu ấy cũng ở
trong cụ Phan Khôi dù như cụ, gốc Quảng-nam,
nên theo Việt-nam Quốc-dân-đảng-mà rồi
vẫn đi theo kháng-chiến do Việt Minh
lănh-đạo. Ḍng máu
ấy, hiển-nhiên, cũng có trong ông Hoàng Văn Chí hay
tướng Nguyễn Sơn.
Đất Thanh-hóa của ông Hoàng Văn
Chí cũng là một đất khá lạ, nó đóng vai
một thứ bản lề trong địa-lư Việt
Nam. Đất gốc của
văn-hóa Đông-sơn, Thanh-hóa là tỉnh cực-Bắc
của miền Trung nhưng tiếng Thanh-hóa th́ lại
gần tiếng Bắc hơn tiếng Trung, và
người Thanh-hóa dễ hướng Bắc
(hướng về Hà-nội) hơn là về Phú-xuân
(tức Huế, kinh-đô vua của nhà Nguyễn). Rồi những năm
học ở Hà-nội ghi một dấu ấn „Bắc-cờ“
rơ ràng trong cách suy nghĩ và hành-xử của cụ
Chí. Nói cách khác, ông là
người có thể thấu hiểu được
cả người Bắc lẫn người
Trung. Là con người
hoạt-động, ông sớm tham-gia những phong trào
yêu nước như tham-gia băi khóa khi Phan Châu Trinh
mất (năm 1926), đi vào phong trào „Le Travail“ („Lao
Động“) dưới thời Mặt Trận B́nh Dân
(Front Populaire) ở Pháp (1936), rồi
hoạt-động trong đảng Xă-hội của
Pháp (SFIO, 1937-1939).
Từ một con người như
thế không lạ là, khi nhận được tin
nước nhà độc-lập, ông đă phóng xe
đạp từ Thanh-hóa ra Hà-nội để tham-gia
vào trong chính-quyền mới, một chọn lựa mà
sẽ dẫn ông đi theo kháng-chiến lên
Việt-bắc.
Thời-gian từ 1949 đến 1953, ông làm
việc trong Bộ Tài-chánh dưới quyền
bộ-trưởng Lê Văn Hiến, một con
người trong sạch, mà Hồi kư của một
bộ trưởng, 2 tập, in ra cách đây ít năm,
có nhắc nhở khá nhiều đến ông Hoàng Văn
Chí. Với tư-cách là
một chuyên-viên, ông phụ trách đúc tiền, làm
giấy in bạc (cụ Hồ), chế-tạo
hóa-chất cho quốc-pḥng, và làm
thủy-điện.
Năm 54, ông bỏ kháng-chiến vào thành.
Sau hiệp-định Genève chia đôi
đất nước (tháng 7/1954), ông di cư vào Nam
rồi ra cộng-tác với chính-phủ Việt-nam
Cộng-ḥa. Thời-gian
này, ông đă đem tất cả sự hiểu
biết sâu rộng của ông về
đối-phương để in ra một số
sách, Phật rơi lệ (1956), Trăm hoa đua
nở trên đất Bắc (Mặt trận Tự do
Văn hóa in ra ở Sài-g̣n, kư tên Mạc Định, 1959) và
bản viết bằng tiếng Anh về cùng
đề-tài tuy sơ sài hơn, The Nhan Van Affair,
rồi The New Class in North Vietnam („Giai cấp mới
ở Bắc Việt Nam“).
Năm 1959-1960, ông được cử đi làm
Phó-tổng-lănh-sự ở Tân Đề Li,
Ấn-độ.
Thấy t́nh-h́nh nguy ngập, v́
thế-giới cũng như người dân miền
Nam không hiểu nhiều về CSVN, ông tự ư chọn
con đường lưu vong để dành toàn-thời
vào việc viết sách phơi bầy bản-chất
của CS miền Bắc.
Trong thời-gian ở Pháp (1960-1965), ông đă
bỏ công ra hoàn-tất một trong những quyển
sách ảnh-hưởng nhất về CSVN, cuốn sách
tiếng Anh mang tựa đề From Colonialism to
Communism: The Case of North Vietnam (Frederick Praeger, 1964), trong
đó ông tŕnh bầy sớm sủa và tương-đối
đầy đủ nhất về chính-sách Cải
cách ruộng đất dă-man của CS
Bắc-Việt. Cuốn
sách này sau đó c̣n được dịch sang tiếng
Việt, Từ Thuộc Địa Đến Cộng
Sản, và sang khoảng 17 thứ tiếng khác, kể
cả những tiếng xa lạ với Việt Nam như
tiếng Ả-rập và tiếng Urdu. Ngoài ra, ông c̣n có một số
bài viết trong các sách như North Vietnam Today, Patrick J.
Honey chủ-biên (Praeger, 1962), và Vietnam Seen from East and West,
SarDesai chủ-biên.
Con đường nhiều
người đă đi qua
Xem vậy th́ con đường ông
Hoàng Văn Chí đi qua là một thứ
đường ṃn mà chẳng may, quá nhiều
người yêu nước của Việt Nam đă
trải qua. Xuất phát
từ một lập-trường yêu nước
thật trong sáng (nhưng lại cũng quá đỗi
ngây thơ, mà ta bắt buộc phải quy vào sự
thiếu thông tin), quá nhiều người trong chúng ta,
nhất là trong lớp đàn anh chúng ta, đă đi theo
một giấc mơ ảo (cái ảo-ảnh quá
đẹp về một nước Việt Nam „độc
lập, tự do, hạnh phúc“) để rồi
phải trả giá không những bằng những
mất mát cá-nhân (đôi khi cả đời ḿnh) mà c̣n
bằng những mất mát, tang tóc „phủ giang sơn“
mà c̣n cả sự thụt lùi hàng chục năm
của nguyên một dân-tộc.
Con đường theo ông Hồ, theo
CS để rồi vỡ mộng, tiếc thay, đă
lôi cuốn „hàng hàng lớp lớp“ (chữ của
Trần Dần) vào thảm-họa.
Hiếm hoi là những con người
như ông Hoàng Văn Chí, đă vượt
được ra cái tù ngục là miền Bắc trong
những năm đất nước bị chia
đôi (1954-1975) để c̣n giúp thức tỉnh chúng
ta. Dù ông thành công hay
thất bại (tùy theo sự đánh giá của mỗi
chúng ta), ta vẫn phải nh́n nhận đây là việc
làm và lương-tâm của một kẻ sĩ-một
kẻ sĩ thời-đại mà không mấy
người theo kịp.
(Ta chỉ cần lắng nghe tất cả
những biện-minh mà người ta đưa ra, ngay
khi sống trong thế-giới an-toàn của
hải-ngoại, để „không tiện“ lên tiếng
là ta cũng đủ thấy cái khác biệt vời
vợi giữa kẻ sĩ và con người gọi
là „b́nh thường.“)
Duy Văn Sử Quan
Song đi xa hơn
thế nữa, ông Hoàng Văn Chí cho rằng chống
Cộng không chưa đủ.
Nói hay về những cái tồi tệ của
chế-độ CS ở quê nhà, tuy là việc tốt,
song vẫn có phần tiêu-cực. Cầm súng chống các
đoàn quân Cộng-sản như các chiến-sĩ VNCH
đă làm từ đầu cho đến tháng 4/1975, dù
dũng cảm có thừa và ḷng trung với dân, hiếu
với nước th́ vằng vặc, nó vẫn không
đẩy lui được những ngụy-tín mà CS
nhồi nhét được vào trong đầu 80
triệu dân hơn.
V́ thế nên mười năm
cuối đời, ông Hoàng Văn Chí đă bỏ
hết sức lực ra làm một cuộc
tổng-kết về văn-hóa của dân-tộc
Việt, mà ông gọi là „Duy Văn Sử Quan“ (nghĩa
đen: „Cách nh́n vào lịch-sử qua góc độ
văn-hóa“). Ông mài miệt
viết, ông sôi nổi đem ra chia xẻ và
thảo-luận với mọi người, nhất là
các anh chị em trẻ, và ông tranh thủ thời-gian
để hoàn-tất trước khi ĺa cơi. Ông gần tới đích,
chỉ c̣n thiếu có một chương cuối, th́
ông ra đi trong sự thương tiếc của
mọi người. Sau
khi ông mất, người con trai của ông, anh Hoàng
Việt Dũng, đă nhờ Tủ Sách Cành Nam đem
in và xuất bản cuốn sách mà ngày nay không ít
người xem như là một bản chúc-thư ư
nghĩa nhất của ông, nhà học-giả và nhà
tư tưởng Hoàng Văn Chí, sau một đời
tận tụy với quê hương, đă lưu
lại cho chúng ta.
Mục Thời sự Tạp
chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org
hay www.dcvapt.net
|