|
|
Tường tŕnh về
t́nh trạng tôn giáo
trong Giáo hội Công giáo Việt Nam
LINH MỤC CHÂN
TÍN
LTS:
Giữa tháng 1 vừa qua Nhóm Thân hữu của Linh mục Chân Tín đă cho biết:
Trong dịp phái đoàn Nghị sĩ Hoa ḱ đến VN quan sát về t́nh h́nh tôn giáo
và nhân quyền LM Chân Tín đă chuyển cho Phái đoàn thơ dứơi đây.
Sự
phủ nhận trâng tráo
Khi bị nhiều nước trên thế giới cáo buộc về việc vi phạm các
quyền căn bản của con người, chính quyền Việt Nam thường tuyên bố, chẳng
những họ không hề vi phạm mà trái lại c̣n luôn tôn trọng các quyền ấy của
dân. Trong thực tế, họ hành động hoàn toàn ngược lại, nghĩa là họ không
ngần ngại chà đạp các quyền căn bản và tự nhiên của người dân. Chúng tôi
thấy họ quả là những người nói dối không ngượng miệng, và coi quốc tế như
trẻ con, là hạng dễ tin và dễ bị lường gạt, đồng thời coi những quốc gia
cáo buộc họ như những kẻ vu khống. Dẫu sao, sự nói dối và trâng tráo ấy
cũng đem lại ít nhiều thuận lợi cho họ v́ chỉ cần các viên chức ngọai giao
hồ nghi một chút về những cáo buộc đó th́ đă có lợi cho họ rồi.
Thực tế cho thấy nhiều người dân trong nước chỉ cần
biểu lộ một cách ôn hoà sự bất đồng chính kiến của ḿnh th́ đă bị chính
quyền đàn áp, khủng bố, giam cầm hoặc thủ tiêu. Các trường hợp như LM
Nguyễn Văn Lư, LS Lê Chí Quang, BS Nguyễn Đan Quế, các ông Nguyễn Hồng Sơn,
Nguyễn Vũ B́nh..., và rất nhiều những trường hợp khác chứng minh điều ấy.
Thế mà chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn trắng trợn phủ nhận. Họ tuyên bố
những ai bị khủng bố, giam cầm hay thủ tiêu th́ đều v́ đă vi phạm pháp
luật, mặc dù họ không hề chứng minh được cách minh bạch và có sức thuyết
phục sự vi phạm ấy. Rất nhiều trường hợp họ đă kết án những người bất đồng
chính kiến những tội vu vơ bằng những cuộc xét xử lén lút, vội vă, thiếu
hẳn những điều kiện cần thiết để xét xử công bằng (như công khai, có luật
sư do bị can chọn lựa cho ḿnh...).
Khi bị quốc tế cáo buộc họ về những hành vi đàn áp này,
th́ họ phủ nhận hoàn toàn, cho rằng quốc tế đă nghe theo những luồng tin
thất thiệt. Nhưng khi có những phái đoàn quốc tế đ̣i đến Việt Nam để điều
tra cho ra lẽ, để t́m hiểu về những vụ vi phạm này, th́ chính quyền Việt
Nam lại không chấp nhận cho họ đến những nơi được thông tin là có đàn áp,
hoặc cho họ tiếp xúc với những người mà họ cho rằng đang bị giam cầm v́ lư
do chính trị hay v́ bất đồng chính kiến. Chính quyền Việt Nam thường nại
lư do là họ không đảm bảo an ninh cho phái đoàn. Đó chính là một cách đe
doạ phái đoàn : Phái đoàn có thể bị ám hại nếu cứ đ̣i đến. Do đó phái đoàn
sẽ e ngại không dám đến nữa.
Thiết tưởng các phái đoàn này không nên ngây thơ để
chính quyền Việt Nam lèo lái khiến cho cuộc điều tra không có kết quả, mà
ngược lại c̣n trở nên có lợi cho họ. Nếu muốn cuộc điều tra đi đến kết quả
thiết thực, phái đoàn phải đ̣i hỏi cho bằng được quyền đi đến những nơi
ḿnh cần đến, và gặp những người ḿnh cần gặp. Nếu chính quyền Việt Nam
không chấp nhận thoả măn những yêu cầu ấy của phái đoàn, th́ điều đó đương
nhiên có nghĩa là những cáo buộc của quốc tế là đúng sự thật. V́ nếu thật
sự là chính quyền Việt Nam không vi phạm nhân quyền, th́ họ không cần ǵ
phải bưng bít, cản trở, mà hăy để cho cuộc điều tra chứng tỏ sự vô tội của
họ.
Chính sách đàn áp
tôn giáo một cách tinh vi
Riêng về tự do tôn giáo, chính quyền Việt Nam vẫn tuyên
bố trong Hiến pháp cũng như trong thực tế, họ luôn luôn tôn trọng quyền tự
do tôn giáo, bất chấp có những dữ kiện cho thấy họ vi phạm quyền tự do này
một cách rơ ràng và trắng trợn không thể phủ nhận. Chẳng hạn, những vụ đàn
áp các Kitô hữu thuộc các dân tộc thiểu số tại Tây nguyên, tại Sơn la, Hà
giang, vụ giật sập các nhà thờ Tin lành tại Sàig̣n và các các vùng lân cận
mới đây...
Tuy nhiên, chính quyền Cộng sản Việt Nam đă đàn áp tôn giáo
một cách tinh vi, bằng hệ thống luật pháp, với những điều luật, nghị định,
pháp lệnh. Họ đàn áp bằng cách kết hợp những điều khoản luật mà nếu
xét riêng từng điều th́ chẳng thấy có điều luật nào là đàn áp cả. Sự đàn
áp được thực hiện khi phối hợp những điều khoản ấy với nhau. Chẳng
hạn, có điều khoản đ̣i buộc các tín đồ chỉ sinh hoạt tôn giáo tại những
nơi quy định như nhà thờ, chùa chiền, thánh thất. Cùng lúc ấy lại có điều
khác đ̣i buộc mọi công tŕnh xây cất đều phải được Nhà nước cho phép mới
được thực hiện. Nếu đọc hai điều khoản này độc lập với nhau, người ta
không hề thấy hàm ẩn một h́nh thức đàn áp tôn giáo nào cả. Nhưng nếu muốn
cấm các tín đồ sinh hoạt tôn giáo, chính quyền chỉ cần không cho phép các
tín đồ xây nhà thờ hay chùa chiền. Đương nhiên khi không có nhà thờ hay
chùa chiền, các tín hữu không có chỗ hợp pháp để sinh hoạt, th́ họ phải
sinh hoạt tôn giáo tại tư gia hay một nơi nào khác. Thế là sinh hoạt tôn
giáo trở thành bất hợp pháp, trở thành vi phạm pháp luật. Và chính quyền
đă từng dựa vào lư do đó để đánh đập, giam giữ hay bỏ tù các tín đồ bị coi
là vi phạm luật mà không hề mang tiếng là vi phạm tự do tôn giáo. Trong
những trường hợp như thế, người tín hữu có muốn sinh hoạt tôn giáo một
cách hợp pháp cũng không biết phải làm sao !
Một thí dụ khác : một đàng có điều khoản luật
tuyên bố cho người dân được tự do truyền đạo, một đàng lại có điều khoản
khác đ̣i hỏi người truyền đạo phải là linh mục, mục sư. Mà muốn làm linh
mục hay mục sư th́ phải được chính quyền cho phép. Và không phải
trường hợp chính đáng nào cũng được chính quyền cho phép, nên do nhu cầu
tự nhiên của Giáo hội mà phải có các linh mục hay mục sư chui (tức là
những vị chịu chức linh mục hay mục sư mà không được Nhà nước cho phép hay
công nhận). Do đó, các linh mục hay mục sư chui, những tín hữu b́nh thường
mà truyền đạo th́ có thể bị bắt bớ, đánh đập, bỏ tù, hay giết chết như đă
từng có trước đây.
Với thứ luật lệ tṛng tréo nhau như thế, chính quyền có
quyền bắt bớ hay bỏ tù các tín đồ với lư do họ vi phạm pháp luật chứ không
phải với lư do sinh hoạt tôn giáo.
Việc tận dụng t́nh trạng tṛng tréo của luật lệ như vậy
để đàn áp tôn giáo chỉ được tùy nghi áp dụng cho những Giáo hội nào không
chịu chấp nhận sự kiểm soát của Nhà nước. C̣n những Giáo hội nào chịu chấp
nhận sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước th́ tương đối được tự do hơn.
Chẳng hạn, cùng là sinh hoạt tôn giáo tại tư gia, nhưng nếu là tín đồ
thuộc các Giáo hội chấp nhận chịu để Nhà nước kiểm soát, th́ chính quyền
địa phương có thể làm ngơ, cho tự do sinh hoạt. Nhưng nếu là tín đồ của
Giáo hội không chấp nhận sự kiểm soát của Nhà nước, th́ chính quyền địa
phương có thể gây khó dễ hay thẳng tay đàn áp. Mục đích của chính
quyền là ép buộc các Giáo hội phải chấp nhận để Nhà nước kiểm soát.
Do đó, người ở bên ngoài nh́n vào thường chỉ thấy được
những trường hợp có vẻ như được tự do mà không thấy được những trường hợp
chẳng có tự do chút nào. Nếu cần chứng minh ở Việt Nam có tự do tôn giáo
th́ chính quyền sẽ đưa những trường hợp loại trước ra làm điển h́nh, và
dấu đi những trường hợp loại sau.
Chính sách tôn giáo
đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam
Riêng đối với Giáo hội Công giáo, là một Giáo hội có
tầm vóc quốc tế và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nên chính quyền phải kiêng
nể và càng tăng cường những chính sách đàn áp tinh vi hơn. Mặc dù trên bề
mặt họ luôn tỏ ra cho thấy là Giáo hội Công giáo Việt Nam có tự do. Đồng
thời lợi dụng việc hàng Giáo phẩm Công giáo ít lên tiếng phản đối khi bị
kềm kẹp, đàn áp hay chiếm đất, nên bù lại chính quyền cũng làm ra vẻ dành
ít nhiều dễ dăi cho Giáo hội. Rồi để trả giá cho sự dễ dăi này, Giáo hội
đành phải chấp nhận bị chính quyền lũng đoạn nội bộ !
Hiện nay, một trong những sự kiện nổi cộm cho thấy
chính quyền can thiệp vào nội bộ của Giáo hội là chính quyền đ̣i hỏi
việc đào tạo, bổ nhiệm và di chuyển nhân sự trong Giáo hội đều phải được
sự chấp thuận của chính quyền. Do đó, dần dần những người làm việc
trong Giáo hội và cho Giáo hội sẽ chỉ c̣n là những người thuận theo chính
quyền, sẵn sàng đồng ư với những yêu sách của họ, bất chấp những bất lợi
cho Giáo hội. Những người có bản lĩnh, có tài đức, là những người rất cần
thiết cho bản chất đích thực, cho sự sống c̣n và phát triển lành mạnh của
Giáo hội, đều bị chính quyền từ chối không chấp nhận vào những chức vụ
lănh đạo trong Giáo hội. Điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến sự xuống cấp
trầm trọng về phẩm chất của Giáo hội, khiến Giáo hội có thể tồn tại
nhưng đă bị mất phẩm chất. Và cuối cùng Giáo hội sẽ dần dà trở
thành một công cụ ngoan ngoăn trong tay chính quyền. Khi đạt đến t́nh
trạng này, chính quyền sẽ để cho Giáo hội được hoàn toàn tự do, v́ lúc đó,
dù có tự do, Giáo hội cũng chỉ có khả năng làm theo lệnh của Đảng và Nhà
nước mà thôi.
Đây là một chính sách rất thâm độc và tinh tế về tôn
giáo. Nếu không có sự can thiệp, cản trở nào th́ chính sách này sẽ dần dần
đạt đến kết quả của nó. Lúc ấy Giáo hội Công giáo Việt Nam có thể không
c̣n là một Giáo hội Công giáo đúng nghĩa như ở các quốc gia tự do khác,
với bản chất đích thực phải có của nó nữa.
Hiện nay, trong chương tŕnh huấn luyện để trở
thành linh mục, các chủng sinh đều bị buộc phải học triết học Mác-Lênin,
một thứ triết lư dành riêng cho các đảng viên cộng sản, vốn chỉ chiếm
khoảng 2% dân số Việt Nam. Đó chẳng phải là ư đồ của Đảng và Nhà nước muốn
các chủng viện đào tạo nên những công cụ cho ḿnh trong hàng ngũ linh mục
tương lai hay sao ?
Việc Nhà nước lũng đoạn Giáo hội được thể hiện qua sự
im lặng lâu dài và khó hiểu, hoặc sự lên tiếng rất yếu ớt của hàng giáo
phẩm và giáo sĩ trong nước trước rất nhiều trường hợp, mà đúng lư ra theo
lương tâm họ phải lên tiếng mạnh mẽ. Chẳng hạn :
– Khi Nhà nước lạm quyền chiếm dụng đất đai và cơ sở
của Giáo hội (chẳng hạn tại Đan viện Thiên An - Huế, thánh địa La Vang -
Huế, ḍng Chúa Cứu Thế - Huế , Nhà chung Hà nội, Giáo hoàng Học viện - Đà
lạt, v.v...);
– Khi chính quyền áp đặt phải học triết học Mác-Lênin
trong chủng viện;
–
Khi có những sự kiệc xảy ra trong nước làm thiệt hại trầm trọng cho
đất nước, cho dân tộc;
–
v.v...
–
Điều này cho thấy tính chất ngôn sứ đă bị yếu đi rất nhiều nơi hàng
giáo phẩm
và
giáo sĩ Việt Nam, hậu quả của chính sách Nhà nước lũng đoạn tôn giáo.
Nhưng cũng chính nhờ bị mất bản chất ở bên trong, mà những biểu hiện của
tự do tôn giáo giả tạo ở bên ngoài trở nên rất rơ rệt, hầu che dấu sự
thiệt hại lớn lao ở bên trong. Thật vậy, tại Việt Nam hiện nay, người ta
thấy các nhà thờ đầy ắp giáo dân vào những lễ Chúa nhật, những tổ chức
rước sách linh đ́nh vào các dịp đại lễ như Giáng sinh, Phục sinh... Điều
này khiến những ai suy nghĩ nông cạn đều lạc quan nghĩ rằng Giáo hội Công
giáo Việt Nam đang được tự do. Nhưng người suy nghĩ sâu xa th́ rất lo lắng
và bi quan cho bản chất tương lai của Giáo hội. Nếu Giáo hội bị mất bản
chất th́ sự tồn tại và tự do của Giáo hội c̣n ích lợi ǵ ?
* * *
Điều tôi muốn nói lên trong bài tường tŕnh này không
chỉ là những khó khăn hay những điều bất lợi mà chế độ Cộng sản đang gây
ra cho Giáo hội Công giáo Việt Nam trong hiện tại. Tất cả những khó khăn
hay bất lợi ấy cũng sẽ qua đi khi mà chế độ Cộng sản này qua đi. Nhưng
điều tôi muốn nói đến là một tai hại do chế độ Cộng sản này gây ra trong
hiện tại, nhưng tai hại ấy vẫn sẽ c̣n tồn tại rất nhiều năm sau khi chế độ
này tan biến đi. Đó là chính sách tôn giáo của chế độ đang làm
biến chất Giáo hội Công giáo Việt
Nam cũng như những Giáo hội của các tôn giáo khác trên
đất nước này.
Tôi sợ rằng sau khi chế độ Cộng sản này qua đi, Giáo
hội Công giáo của tôi không c̣n là một Giáo hội đúng nghĩa như nó phải là.
Lúc đó, Giáo hội không c̣n có thể ngẩng mặt lên để tự hào về tính cách anh
hùng của ḿnh, như Giáo hội đă từng có trong quá khứ với hàng trăm ngàn vị
thánh tử đạo. Tôi sợ rằng lúc đó Giáo hội của tôi sẽ phải cúi mặt xuống v́
nh́n thấy trong nội bộ của ḿnh vẫn c̣n in hằn những dấu vết gian dối của
chế độ nơi chính những con cái của ḿnh. V́ hiện nay và cả sau này, ít
nhiều ǵ Giáo hội tôi vẫn phải mang trong ḿnh những phần tử đă và đang
được chế độ này cưu mang, đào tạo nên để làm công cụ cho chế độ.
Tôi e sợ rằng sau khi chế độ này qua đi, sự tai hại mà
chế độ đă làm cho dân tộc Việt Nam vẫn c̣n tồn tại lâu dài, trong đó Giáo
hội tôi – cũng như một số Giáo hội khác – phải gánh lấy phần nào trách
nhiệm v́ sự im lặng sợ hăi, không dám lên tiếng của ḿnh. Sự im lặng không
làm ǵ tích cực không phải luôn luôn là vô tội, mà có thể mang ít nhiều
tính cách đồng loă.
Điều đáng sợ mà chế độ này đang làm cho Giáo hội tôi là
sự biến đổi bản chất của Giáo hội. Một Giáo hội đáng lẽ phải mang đầy đủ
chức năng làm chủ, làm chứng của người Kitô hữu, th́ lại cam tâm buông
xuôi, phó mặc chế độ làm ǵ th́ làm, và sẵn sàng im lặng ! Một Giáo hội
đáng lẽ phải là men nồng, là muối mặn, để có thể biến cải xă hội con người
tốt đẹp hơn, th́ lại mất đi tính nồng của men, tính mặn của muối. Men bị
biến chất, hay muối bị lạt, th́ c̣n ích lợi ǵ nữa ?
Do đó, điều tôi mong mỏi và khẩn thiết lên tiếng
cầu cứu trước cộng đồng dân Chúa và thế giới, là hăy làm sao để Giáo hội
tôi – cũng như mọi Giáo hội khác – phải được độc lập, không bị chế độ chi
phối, can thiệp vào nội bộ, nhất là trong việc đào tạo, bổ nhiệm nhân sự
của Giáo hội. Việc tước đoạt đất đai hay tài sản của Giáo hội,
việc cấm cách hay gây khó khăn trong sinh hoạt của Giáo hội rồi sẽ qua đi
và có thể lấy lại được tương đối đễ dàng, v́ chỉ là những quyền lợi về vật
chất. Nhưng ảnh hưởng của việc chính quyền can thiệp vào nội bộ Giáo hội
th́ rất tai hại, và sự tai hại ấy sẽ tồn tại rất lâu dài, khó hồi phục lại.
V́ sự can thiệp ấy có khả năng biến đổi bản chất của Giáo hội và những giá
trị tinh thần thiêng liêng, khiến Giáo hội không c̣n là Giáo hội đúng
nghĩa nữa ! Lúc đó, dù có tự do, Giáo hội cũng sẽ chẳng thực hiện được sứ
mạng của ḿnh nữa. ♣
Linh mục Chân Tín
Sàig̣n, tháng 12. 2003 |