Cuộc họp Quốc hội Trung quốc kỳ 2 khoá 10:

Đổi hướng chính sách phát triển kinh tế

 

                                                                                                                                                                                                 HOÀNG QUẾ

 

Trong Đại hội đảng (ĐHĐ) lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung quốc (ĐCS TQ) tổ chức tháng 11 năm 2002 Tổng bí thư (TBT) Giang Trạch Dân đă đưa ra thuyết Ba đại diện”. Việc này cho thấy TQ đang quyết tâm từ bỏ việc xây dựng mô h́nh XHCN kiểu cũ. Qua thuyết Ba đại diện”, TQ tiếp tục tháo gỡ các cản trở trong quy tŕnh phát triển kinh tế và giúp khu vực tư có điều kiện phát triển, từ bỏ các lư thuyết sách vở lỗi thời về sự độc quyền kinh tế của bộ máy nhà nước thông qua hệ thống các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). TQ có dịp củng cố đảng qua việc kết nạp các doanh nhân, có trí thức và có tŕnh độ quản lư cao, để có khả năng lái TQ trong công cuộc hội nhập thế giới.

 

Các lănh đạo thế hệ thứ ba như TBT Hồ cẩm Đào và Thủ Tướng (TT) Ôn Gia Bảo đă cho thực thi các quyết định trên trong cuộc họp kỳ 2 khoá 10 Quốc Hội (QH) với trên 2.900 đại biểu tham dự. Phiện họp QH dài 10 ngày và nội dung chính kỳ họp hàng năm này là:

* Chất lượng của tăng trưởng kinh tế - chênh lệch giàu nghèo, gây dựng việc

   làm và tham nhũng;

* Chú trọng về nông thôn;

* Và việc sửa đổi Hiến pháp (HP)

 

Trong phát biểu khai mạc, TT Ôn Gia Bảo đă phác họa chính sách kinh tế của TQ cho những năm tới với những nội dung trên. Ông kêu gọi một sự tăng trưởng đồng đều giữa nông thôn và thành thị, trong đó các yếu tố xă hội và môi trường được đặc biệt chú ư. TQ sẽ kiềm chế tăng trưởng kinh tế, phấn đấu tăng trưởng có ổn định. Mối quan tâm hàng đầu là kinh tế, việc giảm chênh lệch giữa giàu và nghèo, chú trọng đến 900 triệu nông dân và đầu tư nước ngoài. Ông khẳng định, TQ sẽ mở rộng nhu cầu tiêu thụ nội địa, dùng chính sách thuế khoá và tài chính trước khi bước sang chính sách tiền tệ.  

TQ đang thay đổi chú trọng trong việc thực thi chính sách phát triển kinh tế tiến vào thị truờng và TQ tính làm ǵ?

 

1. Kinh tế

 

Sau 26 năm thay đổi với mức tăng trưởng kinh tế 8-9%/năm, TQ đă cho xét lại chính sách kinh tế, đổi hướng, lo về phẩm chất nhiều hơn số lượng. Tăng trưởng kinh tế đă giúp TQ trở thành một sức mạnh kinh tế tại Á châu qua việc phát triển công nghiệp xuất khẩu, nâng tiết kiệm và đầu tư nước ngoài. Việc này gây ra một số vấn đề:

Vốn đầu tư trong công nghiệp không được sử dụng một cách có hiệu quả. Các tín dụng ngân hàng đổ vào công nghiệp, gây thặng dư khả năng sản xuất và địa ốc. Sự phát triển khu vực hiện đại không đi song song với nông thôn do đó lợi tức của nông dân c̣n thấp.  Các yếu kém của TQ gồm những vấn đề sau đây:

* Thất nghiệp: Theo các chuyên gia quốc tế, con số thất nghiệp chính thức được che giấu và có thể lên đến 25% lực lương lao động;

* Tham nhũng: Hệ thống pháp lư c̣n trong t́nh trạng phôi thai cho nên khó kiểm soát nạn tham nhũng và lạm quyền;

* Ô nhiễm: Công nghiệp hoá không có trật tự và luật lệ đă mang đến nhiều hậu quả không tốt về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, vv;

* Năng lượng: TQ là nước nhập cảng dầu thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Mỹ mà thôi; 

* Tài chính: Các nợ xấu của các ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm 3/ 4 tiền cho vay và kư thác tại TQ đang ngồi trên một món nợn xấu khổng lồ có thể lên đến $ 850 tỷ, gấp hai con số tại Nhật.   

 

Hiện nay đầu tư quá tải - hỗ trợ bởi đầu tư nước ngoài, đầu tư quá dàn trải, quá nhiều trùng hợp gây thặng dư khả năng sản xuất, chưa gây nhiều việc làm, xây dựng hạ tầng tràn lan, hỗn loạn. Cách tăng trưởng theo số lượng gây nhiều chênh lệch giữa các tỉnh ven biển có mức đầu tư và lợi tức cao và các tỉnh nội địa c̣n rất nghèo. Nếu không giải quyết các khó khăn cho 70% dân ở nông thôn (900 triệu nông dân) th́ TQ sẽ gặp bất ổn xă hội.

Việc phân phối tín dụng là một mối lo khác, gây ảnh hưởng xấu cho khu vực ngân hàng, và sẽ gặp khó khăn khi phải cạnh tranh theo quy định WTO.

Để giảm các vấn đề trên, TQ kiềm chế tăng trưởng từ 9.1% xuống c̣n 7%, kiềm chế tín dụng, giảm các chi tiêu xây dựng và chú ư phát triển khu vực nông thôn để nâng mức sống nông dân. TQ cũng khuyến khích tiêu xài nội địa để có tăng trưởng cân bằng.

 

2. Nông thôn

 

TQ cho phổ biến Tài liệu số 1 về phát triển nông thôn. Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị là 1.9 năm 1978 đă tăng lên 3.2 năm 2003. Nông thôn gồm 2/3 dân số nhưng chỉ gồm 1/3 chi tiêu toàn quốc. V́ vậy, trong tổng số ngân sách phát triển 2004 với 150 tỷ NDT (US$18 tỷ), 30 tỷ NDT sẽ được dành cho nông thôn. Chương tŕnh này nhằm phát triển, xây dựng công nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo, phát triển tại nông thôn hầu giảm nạn nông dân đổ về thành phố. Chính phủ muốn nông thôn tăng 5% trong năm 2004 khi cả nước được ước là tăng 7%. Chính phủ sẽ tăng chi tiêu 8.8% cho nông thôn (30 tỷ NDT) so với năm 2003 chưa kể 10 tỷ NDT để trợ cấp về ngũ cốc. Nhà nước sẽ cho thực hiện một số biện pháp sau đây:

* Giảm thuế cho nông thôn. Chính phủ đề nghị giảm thuế nông nghiệp 1%/năm và bỏ hẳn loại thuế này vào 2009. Việc giảm thuế nhằm khuyến khích sản suất, cố đạt 445 triệu tấn cho 2004. Các thuế đánh trên nông phẩm (trừ thuốc lá) sẽ được hủy bỏ.

* Nhà nước sẽ cố triệt tham nhũng và bất công đối với nông dân nhất là trong các trường hợp lạm dụng quyền hành tịch thu đất. Nông dân TQ bị các quan chức áp bức, thu đất của họ (mỗi năm nông thôn mất 667,000 ha đất trồng) và áp đặt nhiều thuế bất hợp pháp. Chính phủ hứa trừng phạt các chính quyền địa phương lạm dụng áp đặt các thuế bất hợp pháp trên nông dân.

* Nhà nước cũng sẽ trợ giúp gây công việc làm cho các vùng Đông Bắc và Tây Bắc nơi nhiều DNNN lỗ lăi bị đóng cửa. TQ nhằm xây dựng 14 triệu việc làm kể cả 5 triệu công nhân khu vực DNNN đă bị sa thải.

 

Trong cuộc họp kỳ này chính phủ sẽ cố giảm bội chi ngân sách (sau 6 năm bội chi). Thâm hụt ngân sách sẽ ở mức từ 2.5 - 2.9 % của GDP.

 

Để kiềm hăm tăng trưởng, chính phủ sẽ giảm đầu tư về đường xá và xây dựng (giảm 21% việc bán công khố phiếu, giữ ở mức 110 tỷ NDT, v́ đầu tư vào cơ sở sản xuất và đầu tư hạ tầng đă tăng 26.7 % trong 2003) và sẽ kích thích tiêu thụ nội địa. Tăng trưởng hỗn loạn trong một số ngành như thép, xi măn và nhom đă gây khan hiếm trên thế giới, làm giá cả tăng và gây thiếu điện trên 2/3 các tỉnh thành TQ. Lạm phát tăng lên 3.2% và cuối năm, mức lớn nhất từ gần 7 năm nay.

 

Nói tóm lại: Khoảng cách chênh lệch nông thôn-thành thị khá cao ( 3 lần). Họ từng bước sửa sai các điểm vênh trong khu vực nông thôn qua các đ̣n bẩy thuế khoá: giảm thuế nông nghiệp, thả lỏng di dân từ nông thôn về thành thị và tài chính: tăng đầu tư cho nông thôn kể cả giáo dục trong khung cảnh ngân sách.

 

3. Chính trị: Sửa đổi Hiến pháp

 

Lần đầu tiên từ khi nắm chính quyền năm 1949, QH TQ đă bắt đầu thảo luận về  các tu chính án Hiến pháp (HP) bảo vệ quyền tư hữu và nhân quyền”. Đây là lần thứ tư TQ sửa đổi HP từ năm 1982. Các thay đổi được thực hiện vào năm 1988, 1993, 1999 và nay 2004. Trong phiên họp QH kỳ 2 năm 2004, TQ đă có 3 sửa đổi chính gồm:

* Bảo vệ quyền tư hữu, đưa lên ngang hàng với quyền công hữu vốn được coi là thiêng liêng và bất xâm phạm trong HP;

* Đưa thuyết Ba đại diện vào HP, ngang hàng với chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông và học thuyết Đặng Tiểu B́nh. Thuyết này coi ĐCSTQ là đại diện cho các lực lượng sản xuất tiến bộ, lực lượng văn hoá tiến bộ và đa số nhân dân TQ;

* Sửa điều 33, thêm hàng tôn trọng và bảo vệ nhân quyền theo đúng các quyết nghị của ĐHĐ kỳ 15 và 16 năm 1997 và 2002. 

 

4. Quân sự

Trong cuộc họp QH kỳ này, TBT Hồ cẩm Đào và Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đă có thái độ ôn hoà hơn với Đài loan.

Bộ Tài chính cho biết ngân sách quốc pḥng được tăng $ 2.6 tỷ hay 11.6% so với 2003. Ngân sách quốc pḥng năm 2003 là 185 tỷ NDT. TQ sẽ cho giảm quân số từ 2.5 triệu xuống c̣n 2.3 triệu, nằm trong chương tŕnh 4 hiện đại hoá của Đặng Tiểu B́nh. Tăng trưởng chi phí quốc pḥng 11% so với trung b́nh 5% trong các lĩnh vực khác là một cảnh cáo cho Đài loan.

 

Kết luận

 

Cuộc họp QH cho thấy các lănh đạo mới ở TQ thực tiễn, giám nh́n thẳng vào các vấn đề và cố giải quyết các thách thực trong quy tŕnh phát triển. Sự kết hợp giữa chính trị và ngân hàng quốc doanh đă giúp phát triển mau chóng khu vực hiện đại nhưng đă không giải quyết các vấn đề nông thôn và chênh lệch mức sống.

 

Trong quá tŕnh xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, TQ đă cho nông dân làm ăn cá thể” và khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhưng sau nhiều năm phát triển, đă cho tái xác định hướng phát triển qua việc đưa thuyết Ba đại diện vào HP và chú trọng khu vực nông nghiệp. Hiện nay nông thôn bị bỏ quên như trường hợp VN. 

 

Từ 1978 đến nay, TQ đă biến từ việc Làm giàu là vinh quang của Đặng Tiều B́nh đến thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân và nay là cho củng cố nông thôn, giảm cách biệt về lợi tức. Từ ĐH 16 ĐCSTQ năm 2002 cho đến nay, TQ đă thầm lặng tự diễn biến hoà b́nh chuyển sang kinh tế thị trường. TQ đă mở lối thoát về chính trị và tư duy cho XHCN lỗi thời. Thuyết Ba đại diện là một thay đổi quan trọng về tư duy v́ nó cho phép từ bỏ học thuyết Mác-Lênin và nhờ thế TQ đă có thể “gác lại vấn đề xây dựng XHCN để tập trung vào việc phát triển kinh tế.

   

Việc bảo đảm quyền tư hữu và nhân quyền trong HP cũng là một thay đổi cực kỳ quan trọng về tư duy, chính trị và kinh tế. Trong việc làm này, TQ đă được sự hậu thuẫn của các viện nghiên cứu và trí tức được đào tạo tại Mỹ hay ngoại quốc t́m ṭi, trợ giúp t́m các giải pháp đáp giải cho t́nh trạng TQ.

 

Không ai có ảo tưởng là ĐCSTQ sẽ thay đổi chế độ độc đảng qua việc thay đổi HP, nhưng đây là những bước tiến so với quá khứ. Bao giờ chúng ta có thể thấy những thay đổi tương tự này về tư duy và chính trị này tại VN? ♣

 

 

 

Trích trong:

 

Mục Thời sự, Báo điện tử

của Tạp chí Dân chủ & Phát triển: www.dcvapt.org