Tṛ Chuyện Với Ông Hà Sĩ Phu

    NGUYỆT NHƯ


 

Tiết mục Người Việt Đó Đây (của chương tŕnh Chân Trời Mới phát thanh về Việt Nam mỗi tối từ 8:30 đến 9:30 trên làn sóng 1503AM) cách đây hai tuần đă trân trọng giới thiệu đến quư thính giả Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhân vật tiêu biểu của tầng lớp trí thức tiến bộ hiện nay tại Việt nam. Cũng trong chương tŕnh đó, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang chia sẻ về cuộc gặp gỡ với ông Hà Sĩ Phu, tức Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, tại Đà Lạt.

Hôm nay Nguyệt Như rất hân hạnh được tiếp chuyện với ông Hà Sĩ Phu. Ông Hà Sĩ Phu là một nhà khoa học về Sinh học, nhưng nhiều người cho rằng ông cũng là một nhà khoa học Nhân văn, dù không tốt nghiệp trường lớp Nhân văn nào cả. Những công tŕnh nghiên cứu qua các tác phẩm của ông đă minh chứng được những lư luận sâu xa, vững chắc, có tính triết học và khoa học của thời đại.

Ông Hà Sĩ Phu là người góp công rất lớn đánh đổ cả học thuyết Mác-Lê và những huyền thoại chung quanh các lănh tụ nào núp sau học thuyết này.

Vậy ông Hà Sĩ Phu là ai mà vừa có khả năng, vừa cả gan đánh đổ cả một học thuyết như thế?

1/ Nguyệt Như: Nguyệt Như xin kính chào ông Hà Sĩ Phu. Thưa ông, nói đến tên tuổi Hà Sĩ Phu th́ đa số những người quan tâm đến Việt Nam, dù là người Việt hay không phải Việt đều biết. Thế nhưng người ta biết đến các tác phẩm của Hà Sĩ Phu th́ nhiều, xong lại biết rất ít về cá nhân Hà Sĩ Phu. Vậy Nguyệt Như xin phép ông cho biết vài nét chính về tiểu sử của ḿnh.

Hà Sĩ Phu: Chào chị Nguyệt Như. Tôi tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940, người xă Song Hồ là xă có nghề vẽ tranh Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ tôi học chữ nho. Trước 1954 học Trung học ở Hà nội. Giai đoạn sau 1954, tôi tốt nghiệp Khoa Sinh vật học trường Đại học tổng hợp Hà Nội, giảng dạy tại trường Đại học Dược khoa Hà Nội, nghiên cứu tại Viện Dược liệu Hà Nội. Sau 4 năm nghiên cứu và bảo vệ Luận án Phó tiến sĩ về nuôi cấy tế bào tại Viện Hàn lâm khoa học Tiệp Khắc, tôi về nghiên cứu tại Viện Khoa học Việt Nam - Phó giám đốc Phân viện Khoa học Đà Lạt, ... rồi về hưu. Tham gia Hội Văn học ở Lâm Đồng do nhà thơ Bùi Minh Quốc làm Hội trưởng, từ đấy viết văn thơ và lư luận.

2/ Nguyệt Như: Xin ông cho biết vài nét về lĩnh vực chuyên môn mà ông có trách nhiệm, trước khi ông ngừng hẳn công việc nghiên cứu này? Và theo ông th́ lĩnh vực khoa học này tại Việt Nam so với tầm nghiên cứu và phát triển của thế giới th́ như thế nào?

Hà Sĩ Phu: Từ năm 1970, tôi thuộc những người đầu tiên ở Việt nam nghiên cứu về nuôi cấy mô và tế bào thực vật để nhân giống cây thuốc quư và sản xuất "sinh khối" nhằm thu hoạch các chất thuốc quư cũng bằng phương pháp nuôi cấy tế bào. Ngoài những đề tài nghiên cứu về sự phân hóa tế bào và quy luật tổng hợp các sản phẩm của tế bào dưới ảnh hưởng của các chất điều khiển sinh trưởng, tôi đă tạo ra một phương pháp định lượng mới, cho phép chỉ dùng 20mg sinh khối mà cùng một lúc định lượng đồng thời được cả 3 nhóm chất (sterol, sapogenin và glycoalcaloid), quy tŕnh này là công cụ phân tích rất thuận tiện trong lĩnh vực này. Một số pḥng thí nghiệm đă áp dụng.

Lĩnh vực nuôi cấy mô và tế bào thực vật ở nước ta mới xuất hiện từ những năm 1970 c̣n rất mới mẻ so với thế giới. Những năm gần đây nước ta đă có nhiều thành tựu trong việc nhân giống, nhưng trong việc sản xuất "sinh khối" và hoạt chất th́ chưa có thành tựu ǵ đáng kể, v́ cần đến sự phối hợp của nhiều ngành khoa học và công nghệ tiên tiến khác, mà ta chưa có điều kiện.

3/ Nguyệt Như: Được biết ông đă từng đi du học tại Tiệp Khắc. Thời kỳ đó Đông Âu vẫn c̣n thuộc khối Cộng sản. Ông có cơ hội đi thăm viếng các quốc gia trong vùng này không? Và chuyến đi du học này có góp phần nào trong những suy tư của ông về Chủ nghĩa Cộng sản không?

Hà Sĩ Phu: Trong những năm du học ở Tiệp Khắc, tôi đă đi qua Trung Quốc, Mông Cổ, Ba Lan, Liên Xô và đă sang thăm Cộng ḥa Dân chủ Đức. Ngoài lĩnh vực chuyên môn, những điều tôi thu hoạch được trong cuộc viễn du này là: Nhân dân ở đâu cũng rất nhân hậu, nhưng dưới chế độ Cộng sản nhân dân bị nhồi sọ và bị phân hóa sâu sắc, làm khổ lẫn nhau. Khắp nơi trong phe XHCN đều thể hiện tính chất nhồi sọ bằng tuyên truyền và sự áp đặt bằng bạo lực. Đặc biệt là ở Tiệp Khắc tôi c̣n thấy rơ sự áp đặt bằng bạo lực của Liên Xô; sự ôn ḥa nhưng rất thông minh của người Tiệp và sự nung nấu ngấm ngầm chống lại sự bất công và phi lư. Điều này đă củng cố cho những nghi ngờ của tôi đối với chủ nghĩa Mác từ khi tôi c̣n là sinh viên. Cho nên sau này, tôi đặc biệt kính trọng cuộc "Cách mạng nhung", kính trọng tổng thống Vaclav Havel, người trí thức anh hùng của nhân dân Tiệp Khắc.

4/ Nguyệt Như: Bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ được hoàn tất ngày 2-9-1988, tức ngày Độc lập (Quốc khánh) của CHXHCNVN. Trước hết ông nghĩ sao mà chọn ngày 2 tháng 9 làm ngày hoàn tất bài tham luận của ḿnh? Và ông mất bao lâu để biến những trăn trở, suy tư này trở thành những cuộc nghiên cứu t́m hiểu chủ nghĩa Mác-Lê, để rồi kết luận rằng con đường đi tới, con đường tiến hóa phải bằng Trí tuệ?

Hà Sĩ Phu: Bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ tôi hoàn tất trước ngày mồng 2-9-1988 khoảng vài ngày, nhưng tôi quyết định đề đúng ngày kỷ niệm đó cho dễ nhớ. Vả lại nội dung bài viết của tôi về một ư nghĩa nào đó cũng liên quan đến ngày này.

Tôi là người vốn nặng tư duy lư luận, nên tôi trăn trở về học thuyết tiến hóa Mác xít từ khi tôi học nó cùng với học thuyết tiến hóa Darwin. Tôi thấy Mác trái với Darwin, mà Darwin mới là khoa học, là quy luật tự nhiên. Suy tư "bất đồng" của tôi với Mác cứ được thực tế củng cố dần, nhưng tôi bận nhiều việc chuyên môn nên măi đến năm 1988, tức là 25 năm sau, sau một buổi chuyện tṛ của tôi với một số bè bạn và nhà văn tôi mới quyết định cầm bút viết.

Hạt nhân suy tư lúc đầu của tôi gồm 3 điểm: Điểm thứ nhất là mô h́nh xă hội Mác xít khử mất yếu tố tự do cạnh tranh là nhân tố căn bản thúc đẩy tiến bộ, thay vào đó lại muốn sắp xếp xă hội theo sự chỉ huy chủ quan. Điểm thứ 2 là Mác coi nhẹ vai tṛ của cạnh tranh Trí tuệ là nhân tố tiến hóa đặc trưng ở loài người. Điểm thứ 3: tôi thấy phải chia mọi người thành 3 loại Duy lư, Duy tín và Duy lợi. Những người Mác xít tuy gọi Chủ nghĩa Xă hội là khoa học, là thuận quy luật,... Nhưng thực tiễn cho thấy họ không phải những người Duy lư, mà luôn Duy lợi và Duy tín. Xă hội chủ nghĩa khử mất yếu tố Duy lư nên khó phát triển và khó ḷng đối thoại với nhau. Phải viết để phát triển tính Duy lư của xă hội. Khi trong đầu h́nh thành rơ rệt 3 hạt nhân ấy, tôi bắt đầu tập trung suy nghĩ và viết.

5/ Nguyệt Như: Chủ thuyết Cộng sản th́ không mấy coi trọng trí thức hay tư duy của thời đại. Trong khi đó hầu hết các bài viết của ông đều đề cao Trí tuệ như là một yếu tố không thể thiếu trong quá tŕnh canh tân đất nước. Có phải v́ thế mà ông thẳng thắn phê b́nh chủ thuyết Mác-Lê hay có lư do nào khác?

Hà Sĩ Phu: Lúc đầu tôi viết bài v́ thấy cần vạch rơ nhân tố quyết định sự tiến hóa là "sự Cạnh tranh Trí tuệ" chứ không phải sự "đấu tranh Giai cấp, một mất một c̣n" như ḥn đá tảng của chủ nghĩa Mác khẳng định. Tôi muốn sửa chữa một sai lầm về lư luận để xă hội bớt đi tính giai cấp cực đoan và trở nên nhân ái và hợp lư hơn. Việc này hầu như thuần lư luận, xuất phát chủ yếu từ khoa học thôi.

Nhưng rồi tôi nhận ra tính cách rất thấp về Văn hóa của trào lưu Cộng sản và việc đổi mới Kinh tế nhưng vẫn cố thủ, giữ chủ nghĩa Mác-Lê làm b́nh phong lại càng làm đạo đức xă hội thoái hóa, nhân cách suy đồi th́ tôi thấy việc viết lư luận đă trở thành sự thôi thúc của lương tâm, cần viết để dóng lên tiếng chuông, góp phần đấu tranh chống lại hiểm họa thoái hóa xă hội.

Và tôi nhận ra tiếng nói nhỏ bé của ḿnh là cùng với mọi người lương thiện và tiên tiến, góp sức đưa xă hội ra khỏi một chủ nghĩa ảo tưởng một cách êm ả, một cách văn hoá.

6/ Nguyệt Như: Đến năm 1993, ông hoàn tất bài Đôi điều suy nghĩ của một công dân. Phần kết ông nói: Đảng đă đưa dân tộc sang bờ Độc lập, và đang cùng dân tộc dấn bước trên con đường đến Tự do, Hạnh Phúc. Ta biết ơn chiếc thuyền đă đưa ta sang sông, nhưng sang bờ rồi mà cứ cắm cúi mang chiếc thuyền "Mácxít chỉ huy" trên lưng như cái mai rùa th́ tránh sao khỏi người ngoài đàm tiếu và người thân nghi ngờ rằng có sự che đậy hoặc cất giấu cái ǵ trong đó". Nói cách khác th́ chủ nghĩa Mác-Lê không c̣n ích lợi ǵ cho con đường canh tân đất nước Việt Nam. Lời kết luận này có vẻ rất có lư, có t́nh, rất hiền lành nhưng cũng rất vững chắc. Cho đến 2 năm sau, bài Chia tay Ư thức hệ th́ hoàn toàn dứt khoát, nội cái tựa đề không thôi cũng đủ nói lên tính không khoan nhượng đối với Ư thức hệ này. Xin ông cho biết những ḍng suy nghĩ tư tưởng của ông trong khoảng thời gian 1993 đến 1995? Những yếu tố chính yếu nào đă tạo nên nhân vật Hà Sĩ Phu qua các tác phẩm mà thế giới biết đến hôm nay?

Hà Sĩ Phu: Do điều kiện rất ngặt nghèo, hạn chế, tôi không tiên liệu được rằng ḿnh sẽ viết một mạch 3 bài lư luận ấy. Viết bài nào cũng nghĩ rằng xong bài ấy là thôi. Nhưng viết xong một bài lại nghĩ kỹ thêm, lại muốn bổ sung cho rơ. Bài thứ 2 (năm 1993) đă khá hệ thống, đến bài thứ 3 Chia tay Ư thức hệ th́ suy tư mới thật chín và rơ. Từ 1993 đến 1995 với tôi rất quan trọng; khó khăn của tôi là một bài viết hệ trọng như thế nhưng viết buông tay là gặp rắc rối ngay, rắc rối liền 10 năm trời, không có điều kiện xem lại, sửa lại ǵ hết. Có ǵ sai sót do ḿnh, sai sót do "tam sao thất bản" tôi cũng không biết nữa. Về phần ḿnh tôi nghĩ những nhân tố chính yếu đă gắn với bút danh Hà Sĩ Phu của tôi gồm:

a) Thứ nhất, vạch rơ tính phản khoa học, phản quy luật của Chủ nghĩa Mác : - Nhân tố quyết định sự tiến hóa của Nhân loại là sự tích lũy và cạnh tranh Trí tuệ chứ không phải sự đấu tranh giai cấp.

            Bất công xă hội là do quan hệ tương sinh giữa chiếm hữu quyền lực và chiếm hữu tư liệu sản xuất. Dùng sự chiếm hữu quyền lực của Đảng cộng sản để diệt sự chiếm hữu tư liệu sản xuất là sai lầm tai hại. Nó vừa làm mất dân chủ, lại ḱm hăm sản xuất, rốt cuộc đâu vẫn hoàn đấy, lại c̣n xấu hơn. Mác quá chú ư đến quan hệ giầu - nghèo, mà không quan tâm đến một quan hệ gốc rễ hơn là quan hệ 2 cực thống trị và bị trị, nên không phát hiện ra nhu cầu dân chủ. Mác đă hiểu lầm mâu thuẫn cơ bản và giải nhầm bài toán cơ bản của nhân loại. Vấn đề là phải đấu tranh để Dân chủ hóa xă hội chứ không phải lật đổ Tư bản để thiết lập chuyên chính Vô sản.

b) Thứ hai, Vạch rơ công và tội của chủ nghĩa Mác-Lê :

            Công: Đă phê phán những bất công tàn bạo của xă hội tư bản thời ấy, đă kích thích khát vọng giải phóng, đă tập hợp được lực lượng bị áp bức, giúp nhiều dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang, phát xít, đă tạo ra một "phe" mới tạm thời làm đối trọng với khối tư bản độc quyền, kích thích để chế độ tư bản tự hoàn thiện.

            Tội thứ nhất : Tạo ra một hệ thống quyền lực tuyệt đối, chặn đứng con đường dân chủ hóa là một nội dung căn bản của tiến hóa nhân loại.

            Tội thứ hai : Giai cấp thống trị mới được Mác dán cho nhăn hiệu giai cấp bị trị. Mâu thuẫn "thống trị - bị trị" muôn đời vẫn c̣n nhưng lại bị xóa sổ trong xă hội đảng trị, thế là Mác đă khử mất chỗ đứng của người bị trị, tước hết vũ khí vốn có của họ.

            Tội thứ ba : Sau một giai đoạn quá độ thực thi chủ nghĩa Mác-Lê tất yếu sẽ h́nh thành giai cấp tư bản mới. Giai cấp tư bản này mọc ra từ quyền lực chứ không phải từ cạnh tranh kinh tế và sản xuất. Xă hội tư bản kiểu này rất tai hại cả về kinh tế, chính trị và văn hoá. Chủ nghĩa Mác chỉ tạo thêm một con đường để lên tư bản, mà con đường này tai hại hơn con đường tư bản hóa truyền thống.

            Tội thứ tư : Tạo ra một tập đoàn thống trị đặc quyền, đặc lợi tuyệt đối, nên khi quy luật buộc phải quay ngược hướng đi, th́ họ nhất định không chịu "đằng sau quay" mà lại duy tŕ trật tự để đi ṿng, mỗi bước trên con đường ṿng này là một cơ hội kiếm chác thêm lợi nhuận siêu ngạch, và thêm một bước làm suy thoái đạo đức xă hội và nhân cách. Tội thứ tư này chỉ xảy ra ở những nước lạc hậu nhất, chưa có nền tảng dân chủ.

c) Thứ ba, về Văn hóa, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến khía cạnh Văn hóa của mọi vấn đề lớn nhỏ; đào sâu tính cách Việt Nam, tính cách quân tử và tiểu nhân, những mưu mẹo và ngụy biện, khái quát một Tiến tŕnh 4 bước để đoạt lấy "tiền phong", dự đoán một trào lưu tổng khủng hoảng Nhân cách, ... Có thể đó cũng là những ấn tượng của người đọc về tôi chăng?

7/ Nguyệt Như: Sau khi bài tham luận Chia tay Ư thức hệ được nhiều người biết đến, hàng trăm bài viết và các tác giả thuộc các ngành nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê trên các tờ báo lớn, nhỏ khác nhau của Đảng và Nhà nước đă phản luận và phần nhiều là tấn công cá nhân ông, nhưng kết quả vẫn không bẻ gẫy được những lư luận của các bài này. Nguyệt Như muốn hỏi ông là các bài viết của ông có được phổ biến ở trên báo chí nào ở trong nước không, hay có được chuyền tay không? Và cuộc tranh luận này có mang tính khoa học ǵ không thưa ông?

Hà Sĩ Phu: Chỉ bài đầu tiên, ngắn nhất Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ là tôi được hưởng tư chút cái không khí của tranh luận. Tuy không được đăng, không được căi lại, nhưng dù sao cũng được bị đánh một cách công khai và bị đánh về tư tưởng và lư luận. Nhưng sang đến bài thứ hai, thứ ba th́ chút may mắn ấy cũng không c̣n, chỉ c̣n sự hỏi cung của Công an và hoảng nhất là sự giúp đỡ "chân t́nh", "trên t́nh làng nghĩa xóm" của những cuộc họp dân phố. Như tôi đă nói ở trên, nếu không có tinh thần Duy lư, mà chỉ Duy tín và Duy lợi th́ làm ǵ có tranh luận khoa học, mà cần ǵ đến tranh luận khoa học nữa?

Nhưng niềm an ủi cho tôi đă lớn hơn mọi điều bất hạnh, nhiều người vẫn chuyền tay nhau đọc; không có "kẻ địch" nào đọc tôi cả, hầu hết người đọc trong nước là những cán bộ, đảng viên, cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ sĩ, v.v ... và bây giờ cả những đảng viên cao cấp nữa cũng ngày càng phát biểu giống tôi. Gian nan càng làm tôi yên tâm rằng ḿnh đă viết đúng và viết trúng. Việc ngăn cấm chỉ gây tác dụng ngược.

8/ Nguyệt Như: Từ khi bài Chia tay Ư thức hệ được phổ biến trong phạm vi nhỏ hẹp ở trong nước và rộng răi ở hải ngoại, đời sống của ông được biết là gặp rất nhiều khó khăn. Ông đă bị bắt, bị bỏ tù, bị quản thúc, bị sách nhiễu. Nhà th́ bị cắt điện thoại, quán hàng để kiếm sống th́ bị gây khó khăn, quyền đi đứng cũng bị tước đoạt, v.v... Nhiều người cho rằng ông là kẻ thù số 1 của chế độ, nên chế độ thù dai là vậy. Tại sao một người ốm yếu như ông, trong tay không có ǵ khác ngoài vốn liếng trí tuệ, mà lại làm cho cả một hệ thống và guồng máy cai trị to lớn phải ngại đến như vậy thưa ông?

Hà Sĩ Phu: Quả thực tôi không động đến một vụ chính trị nào, nhưng tôi lại bị quy kết chính trị nặng nề nhất, dai dẳng nhất, quy đến tội "phản bội Tổ quốc" là nặng nhất trong tội h́nh sự rồi. Tôi đă viết đơn yêu cầu được xử công khai và yêu cầu được xử bắn nếu có tội, mà không được xử, cứ lai rai măi. Có ai v́ những bài viết ấy mà bị thù dai đến thế không th́ không rơ. Riêng phần tôi, viết được ra là tôi thanh thản, là tôi trả được món nợ với cuộc đời, nợ với quê hương. Tôi không thù ghét ai cả.

9/ Nguyệt Như: Vợ ông, tức bà Đặng Thị Thanh Biên là người đă chia sẻ mọi khó khăn gian truân và thử thách mà cá nhân ông phải gánh chịu một thời gian dài như thế. Bây giờ th́ hoàn cảnh sống của gia đ́nh ông như thế nào?

Hà Sĩ Phu: Bà Biên nhà tôi chỉ v́ một ḷng thương yêu tôi mà phải nhẫn nhục, chịu hy sinh bao nhiêu quyền lợi thông thường, mà bất cứ người phụ nữ nào xung quanh cũng có. Tôi thương nhà tôi và nhiều khi thấy ḿnh mắc nợ lớn với vợ.(Nợ với đời th́ trả được, mà nợ với vợ th́ mắc nợ hoài). Nhưng nghĩ đến tấm gương của những người hơn tuổi vợ tôi như bà Hoàng Minh Chính, bà Phùng Quán, bà Phùng Cung và những người trẻ tuổi như chị Nguyễn Vũ B́nh, chị Phạm Hồng Sơn, v.v... th́ tôi thấy những người phụ nữ đáng kính phục cũng c̣n nhiều lắm. Chuyện bị quy chính trị làm vợ chồng tôi khốn khổ về nhà cửa, gần hết đời vẫn chẳng có mảnh đất hay mái nhà nào là của ḿnh. Nhưng bù lại, chúng tôi có t́nh thương của bè bạn, đó là mái nhà của chúng tôi. Chúng tôi sống bên nhau vui vẻ, kiên nhẫn và yêu đời.

10/ Nguyệt Như: Ông đă gặp được Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong một chuyến du hành từ Bắc vào Nam vừa qua. Ông có ngạc nhiên khi Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ghé thăm ông không? Xin ông cho biết vài cảm nghĩ về cuộc gặp gỡ đó.

Hà Sĩ Phu: Tôi biết ông Nguyễn Thanh Giang từ năm 1963, khi cùng ở trong ban Hợp xướng của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhưng lúc ấy chưa có ấn tượng ǵ, ngoài giọng hát rất hay của anh bạn sinh viên khoa Lư ấy. (cả ông Hoàng Tiến và Bùi Minh Quốc cũng từ trường Đại học này). Về sau biết nhau qua các bài viết và do vụ hoạn nạn của tôi năm 1995. Trong anh em dân chủ chỉ có tôi, ông Thanh Giang và ông Phan Đ́nh Diệu là dân Khoa học tự nhiên. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ghé qua Đà Lạt tháng 4/2004 vừa rồi thăm anh em chúng tôi chẳng có ǵ là ngạc nhiên. Đó là một kỷ niệm. Nhưng ngạc nhiên ở chỗ chỉ v́ ghé thăm chúng tôi mà chuyến đi của ông gặp trắc trở nặng nề. Sao sự thăm hỏi nhau của những người b́nh thường như chúng tôi lại được quan tâm đến thế, lại khó khăn đến thế?

11/ Nguyệt Như: Ông nghĩ sao về việc họ bắt giam các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh, Nguyễn Khắc Toàn, v.v... rồi lại thả Lê Chí Quang, giảm án Linh mục Nguyễn Văn Lư,... rồi lại tiếp tục đàn áp người Thượng, bắt giam Mục sư Nguyễn Hồng Quang,... Tại sao cái tṛ bắt rồi thả này liên tục xảy ra như vậy? Phải chăng không thể không bắt và không thể không thả được? Tại sao vậy?

Hà Sĩ Phu: Chị vừa dùng hai lần ba chữ "không thể không", không thể không bắt và không thể không thả là đúng lắm đấy. Cũng như không thể không đổi mới, rồi lại không thể không ḱm hăm đổi mới vậy. Cái ư đồ bên trong mănh liệt quá cũng bất khả kháng, mà cái sức ép của quy luật từ bên ngoài cũng mạnh đến bất khả kháng. Thành ra tiến thoái lưỡng nan. Đi th́ cũng dở mà ở th́ không xong. Chừng nào cuộc đổi mới chưa phải là tự giác th́ hành vi chưa thể nhất quán, sự lúng túng ấy không thể tránh được. Khi sức ép bên ngoài yếu đi là cái ham muốn bên trong lại ph́nh trở lại. V́ bản chất không có ǵ thay đổi.

12/ Nguyệt Như: Có người nói Việt Nam bây giờ thay đổi nhiều lắm. Theo ông th́ những thay đổi đó chính yếu là ǵ? Phục vụ cho ai?

Hà Sĩ Phu: Hơn mười năm trước, thấy tôi phê phán chủ nghĩa Mác, nhiều người bảo tôi: Xă hội bây giờ thay đổi nhiều lắm rồi ông ạ, người ta có như trước đâu mà ông phê phán. Tôi nói: tôi phê phán chính v́ "nó" thay đổi nhiều quá đấy ông ạ! Trong bài Chia tay Ư thức hệ tôi đă phân tích rằng một cuộc thay đổi v́ lợi ích của Đảng đă được áp đặt cho dân tộc. Trong tính toán ấy không thấy dân tộc đâu cả. Tôi vẫn giữ ư kiến ấy. "Đổi mới hay không" không quan trọng bằng "Đổi mới như thế nào, theo chiều hướng nào, v́ ai mà đổi mới ?".

Nhớ lại bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ năm 1988, khi ấy phe XHCN c̣n nguyên, tôi đă vẽ một sơ đồ, dự đoán thế nào cũng có sự đổi mới Kinh tế nhưng không đổi mới về Chính trị và Tư tưởng. Có lẽ thế thật.

13/ Nguyệt Như: Có khuynh hướng cho rằng dùng kinh tế để thay đổi chính trị. Ông nghĩ sao về nhận định này?

Hà Sĩ Phu: Dùng kinh tế để thay đổi chính trị, tức là thay đổi hạ tầng th́ thượng tầng ắt sẽ phải đổi. Nói như thế là nêu một mảng của quy luật chung. Cũng như nói: Việt Nam tất cũng phải đi theo thế giới, cứ ḥa nhập là khắc phải thay đổi; cứ chơi với Mỹ là Mỹ nó không để như thế này đâu. Họ ngoan cố cũng chẳng chống được quy luật; thế hệ trẻ sau này họ sẽ làm khác đi chứ lo ǵ, v.v ....

Những điều ấy là những mảng của quy luật chung, nói thế không sai. Nhưng chân lư mà nói vắn tắt, nói nửa vời, quên đi sự nỗ lực chủ quan, có định hướng th́ vô cùng nguy hiểm và không hiểu quy luật. Mọi điều đều có tính hai mặt: có quy luật ắt có lợi dụng quy luật và phản quy luật. Quy luật vừa rất chung lại vừa cụ thể, rất riêng. Dừng ở cái chung là vô cùng nguy hiểm. Kết cục có thể là những cái riêng hoàn toàn ngược với dự tính, ngược với lư thuyết chung.

14/ Nguyệt Như: Theo ông th́ thành phần nào sẽ góp phần đem lại thay đổi tích cực cho Việt Nam? Thanh niên, sinh viên? Thương gia? Trí thức? Các nhà văn hóa? Chính trị gia?

Hà Sĩ Phu: Thưa chị Nguyệt Như, chính trị - xă hội xưa nay vẫn phân biệt hai yếu tố: Nền tảng và Thời cơ. Dân trí là nền tảng, tất cả những ai góp phần nâng Dân trí đều là tích cực, có công. Kinh tế cũng là nền tảng. Thanh niên, sinh viên vừa là yếu tố nền vừa là yếu tố thời cơ, rất quan trọng. Thế hệ trẻ bây giờ phải khắc phục rất nhiều trở ngại mới xứng đáng với thiên chức của ḿnh. Nhưng trực tiếp thay đổi xă hội th́ thời cơ mới là quan trọng. Chính trị gia sẽ biến thời cơ thành sức mạnh. Giữa Doanh gia và Chính trị gia có thể chuyển hóa nhau và hỗ trợ nhau. Ở Việt Nam ngày nay, tôi nghĩ trí thức và các nhà văn hóa đă đi tiên phong, nhưng chủ yếu họ thuộc yếu tố nền, ít có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành nhà chính trị.

15/ Nguyệt Như: Ông nghĩ sao về viễn ảnh của Việt Nam trong 5 hoặc 10 năm tới nếu vẫn c̣n chế độ độc tài? C̣n nếu Việt Nam có tự do dân chủ th́ theo ông sẽ như thế nào?

Hà Sĩ Phu: Trước hết chữ "độc tài" có thể làm người cầm quyền khó chịu, nhưng Đảng cộng sản đă tự nhận là Chuyên chính Vô sản kia mà, Chuyên chính với Độc tài th́ cùng một nghĩa (vẫn là một chữ Dictator!).

Trong hai lá thư trước đây gửi các ông Đỗ Mạnh Tri và Nguyễn Gia Kiểng tôi đă bộc lộ những suy nghĩ của ḿnh về tích chất đặc thù của xă hội Việt Nam. Việt Nam không có hệ tư tưởng nào hết, cũng không cứng nhắc, không giáo điều, trái lại khả năng thực dụng và thích nghi rất cao. Cả người lănh đạo và bị lănh đạo đều như vậy. Mà dân chủ th́ chủ yếu là quan hệ giữa lănh đạo và bị lănh đạo; hai bên cùng thực dụng và t́m được cách thích ứng với nhau th́ sẽ khó có đột biến. Chữ "thời cơ" tôi dùng ban năy cũng chỉ có ư nghĩa vừa phải thôi. Tôi không tin có một mốc thời gian cho một biến cố đột biến nào cả. Độc tài không thể cực đoan, mà dân chủ cũng không chính thống ǵ. Nghĩa là độc tài cũng nửa vời, dân chủ cũng nửa vời; kiểu Việt Nam là vậy: cứ dần dà, rỉ rả. Một thể bùng nhùng vô định h́nh, một hợp kim, một hợp chất. Tính chất của hợp chất này thế nào là do tương quan, tỷ lệ các hợp phần trong đó, không có h́nh mẫu tiền định nào cả. Một hợp chất không có tên trong tự điển.

Chỉ có một điều đáng mừng là xu thế ḥa nhập vào cái chung chắc chắn ngày càng tăng lên. Và một điều đáng buồn tôi đă nói từ lâu: Cái ǵ rồi cũng có cả, xin đừng lo, có thiếu chăng là thiếu một sự tử tế, một phong thái quân tử. Ṭa nhà Dân chủ, Nhân quyền Việt Nam hiện nay cũng đủ mọi pḥng ốc như các Ṭa nhà khác trên thế giới. Chỉ có điều mọi ch́a khóa trong ṭa nhà Nhân quyền này đều do một bộ máy "Quản trị" tối cao nắm giữ, độc quyền phân phối và thưởng - phạt (phân phối Nhân quyền cũng như phân phối tem phiếu theo tiêu chuẩn); độc quyền mở ra - khóa lại. Trên nguyên tắc quyết không trao ch́a khóa cho ai, nhưng thực tế chợ đen luân chuyển trong nội bộ thế nào th́ có trời mà biết.

16/ Nguyệt Như: Xin ông cho biết những ước nguyện và hoài băo trong quăng đời c̣n lại?

Hà Sĩ Phu: Những điều mà lương tâm và đầu óc tôi bắt tôi phải viết, tôi đă viết rồi. Những điều tôi nói hôm nay với chị cũng là nói lại những điều đă viết trước đây thôi. Tôi thanh thản. Nhưng đă hơn một năm nay đầu óc tôi sa sút lạ thường, cứ quên và nhầm lẫn, quên cả những điều rất thông thường, gần như mất khả năng làm việc. Tôi không phải nhà chính trị, tôi thấy thế là đủ. Về hạnh phúc chung, tôi chỉ mong cái Tốt sinh đẻ ra nhanh hơn cái Xấu; của cải của đất nước không bị cướp vào túi riêng hoặc bán đi; người oan khuất không c̣n oan khuất; mọi người có nhu cầu lắng nghe nhau v́ lợi ích chung. Tôi mong thực tiễn sẽ tốt hơn những điều tôi đă viết, tức là mong được ân hận rằng ḿnh đă viết quá tay. Về đời riêng, ngoài câu thơ, câu phú thù tạc, nếu có một lần lại được ra nước ngoài, thăm lại đất nước Tiệp Khắc đầy ân t́nh của tôi, gặp bè bạn khắp nơi để học thêm những người tài, người tốt để thêm tự hào về Con Người và cuộc sống Con Người. Thế là măn nguyện. ♣