THẾ GIỚI HAI TUẦN QUA

(5 –18. 11. 2004)

 

         Trao đổi về chuyện Thế Giới Hai Tuần Qua giữa phóng viên Quang Dũng (QD) của đài TN/PHVN và ông Trần B́nh Nam.

            Nội dung này được phát sóng ngày Thứ Năm, 18 tháng 11, 2004 vào lúc 10:10PM giờ Hoa Thịnh Đốn trên làn sóng đặc biệt của đài Việt Nam Hải Ngoại (VNHN), và có thể nghe lại sau đó qua Web site: http://www.phvn.org

 

Lời giới thiệu của Quang Dũng:

 

TBN: Xin cám ơn Quang Dũng, và xin kính chào quư thính giả của TN/PHVN. Tôi xin lỗi quư vị, v́ đi xa nên không có điều kiện hầu chuyện quư vị trong buổi nói chuyện định kỳ ngày 4 tháng 11 vừa qua. Nhất là lúc đó cuộc bầu cử tổng thống gay cấn nhất của lịch sử Hoa Kỳ vừa kết thúc và tổng thống George Bush tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Nếu được nói chuyện hôm 4 tháng 11 chắc có nhiều khía cạnh lư thú để bàn luận với nhau. Tuy nhiên vấn đề vẫn c̣n nóng hỗi và trong buổi tṛ chuyện hôm nay tôi sẽ cùng QD trao đổi thêm về kết quả và hệ lụy của cuộc bầu cử tổng thống này. Ngoài ra trong hai tuần qua biến chuyển đáng chú ư khác là sự qua đời của ông Yasser Arafat, người sáng lập Tổ chức Giải phóng Palestine (TC/GPP) và chủ tịch chính quyền Palestine. Sự qua đời của ông Arafat là một mất mát tinh thần cho người Palestine, nhưng trong cái rủi có cái may, v́ sự ra đi của ông có thể tạo điều kiện cho Hoa Kỳ và Do Thái hợp tác nhau để giải quyết vấn đề lập quốc của Palestine, và từ đó giải quyết toàn bộ t́nh h́nh Trung Đông, nhất là vấn đề chiến tranh tại Iraq.

 

QD: Trước hết QD xin hỏi ông nghĩ ǵ về sự thắng cử của tổng thống Bush?

 

TBN: Tôi nghĩ cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11 vừa rồi đă cho tổng thống Bush một thế mạnh hơn để lănh đạo. V́ nếu sau cuộc bầu cử năm 2000 ông ta là một tổng thống không có sứ mệnh của dân th́ qua cuộc bầu cử này ông đă có sứ mệnh của dân. Sứ mệnh đó càng đậm nét v́ ông đă thắng gọn gàng qua một cuộc tranh cử gay go và xúc động. Sự thắng cử của ông Bush cho thấy dù dân chúng Hoa Kỳ có lo lắng v́ chính sách của ông tại Trung Đông cũng nghĩ rằng con đường đi tới bằng sức mạnh là con đường có lợi cho Hoa Kỳ về cả hai mặt uy tín và vật chất. Uy tín ở chỗ c̣n ông Bush thế giới c̣n phải nể sợ Hoa Kỳ, c̣n vật chất là kho dầu hỏa Trung Đông.

            Cho nên sau cuộc bầu cử này tổng thống Bush sẽ dễ làm việc hơn. Tổ chức Al Qaeda sẽ phải xét lại đường lối khủng bố của ḿnh, Iran và Bắc Hàn phải duyệt xét lại chính sách nguyên tử, trong khi các nước Âu châu, nhất là Đức và Pháp cũng phải điều chỉnh thái độ v́ không một nước nào muốn bất ḥa với Mỹ quá lâu.

 

QD: Những thuận lợi của tổng thống Bush ông nói ở trên có lệ thuộc vào một điều kiện nào khác không?

 

TBN: Những thuận lợi này lệ thuộc vào thái độ và cách thực hiện chính sách của tổng thống Bush, và nhất là t́nh h́nh ổn định tại Iraq. Nếu chiến cuộc tại Iraq càng ngày càng sôi động, làm tiêu hao ngân sách để ảnh hưởng đến nền kinh tế Hoa Kỳ và tổn thất nhân mạng lên cao th́ các thuận lợi trên sẽ mất đi rất nhiều giá trị của nó.

 

QD: Ông nghĩ tổng thống Bush sẽ làm ǵ trong những ngày sắp tới đối với vấn đề Iraq.

 

TBN: Ngay sau khi tổng thống Bush đắc cử, quân đội Hoa Kỳ tấn công vào thành phố Fallujah, chấp nhận tổn thất nhân mạng, điều này làm nhiều người nghĩ tổng thống Bush sẽ đánh tới. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Fallujah là một mụt nhọt đă kéo dài từ tháng 4/2004 đến nay phải giải phẫu nhưng tổng thống Bush sẽ tự chế và t́m một giải pháp chính trị qua cuộc bầu cử tại Iraq vào tháng Giêng năm 2005 sắp tới, thí dụ như chia ghế quốc hội cho những thành phần chống Mỹ, thậm chí thành phần thân Saddam Hussein với điều kiện chính quyền mới bảo đảm quyền lợi dầu hỏa của Hoa Kỳ.

            Tổng thống Bush cho biết sau khi tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ 2, ông sẽ công du Âu châu. Nghị tŕnh chuyến đi chưa công bố. Nhưng ngoài việc đáp lễ và cám ơn ông Tony Blair, tổng thống Bush c̣n đến nơi để ch́a tay làm lành với Đức và Pháp. Đó là một dấu hiệu tự chế.

 

QD: Giải pháp chính trị tại Iraq có cho phép Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Trung Đông không?

 

TBN: Không! Để bảo vệ quyền lợi dầu hỏa tại Trung Đông Hoa Kỳ phải duy tŕ áp lực quân sự tại đó. Ngoài số quân c̣n đồn trú tại Saudi Arabia, Hoa Kỳ c̣n có lực lượng hải quân tại Ấn Độ Dương, trong vịnh Ba Tư và Địa Trung Hải. Việc tái phối trí lực lượng quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ được nói đến trong năm qua sẽ được tổng thống Bush hoạch định thế nào để thỏa măn sách lược này.

 

QD: Việc tổng thống Bush tái đắc cử có ảnh hưởng ǵ đến chính sách nhân quyền của Hoa Kỳ đối với Việt Nam không?

 

TBN: Chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ là đối sách đối với Trung quốc chứ không phải đối với Việt Nam. Cho nên Hoa Kỳ, dù dưới chính quyền Cộng Ḥa hay Dân Chủ vấn đề nhân quyền tại Việt Nam không phải là điều làm cho Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm mặc dù những người trách nhiệm về nhân quyền trong chính phủ hay quốc hội Hoa Kỳ thỉnh thoảng cũng lên tiếng than phiền về t́nh trạng nhân quyền tại Việt Nam. Điều quan tâm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là làm thế nào để giữ Việt Nam trong quỹ đạo của ḿnh hay ít nhất không thù nghịch với ḿnh trong cuộc tranh chấp âm thầm với Trung quốc. Đó là cái điểm của chính sách Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Chuyện nhân quyền chỉ là cái diện.

 

QD: Mấy năm nay dự luật nối kết nhân quyền tại Việt Nam với loại viện trợ không nhân đạo cứ  lừng khừng măi không được thông qua. Vậy sau cuộc bầu cử vừa rồi đảng Cộng Ḥa đă thắng lớn và nắm cả hành pháp lẫn hai viện quốc hội, vậy c̣n trở ngại ǵ nữa không?

 

TBN: Trên mặt lư thuyết không c̣n một trở ngại nào nữa đối với dự luật nhân quyền. Nghĩa là nếu đảng Cộng Ḥa muốn thông qua, tổng thống Bush chỉ cần nháy Quốc Hội là nó được thông qua. Nhưng như tôi tŕnh bày ở trên chính phủ của tổng thống Bush có thể thấy việc thông qua dự luật nhân quyền để làm mất ḷng chính quyền Hà Nội không phục vụ cho quyền lợi Hoa Kỳ nên sẽ cứ để đó. Trong năm 2005 chúng ta có thể thấy dự luật sẽ được tái đệ tŕnh tại quốc hội, Hạ nghị viện sẽ thông qua rồi nằm chờ tại Thượng Viện giống như câu chuyện đă thấy trong mấy năm qua. Có khác chăng là lần này chính phủ Bush và Thượng viện có thể dùng dự luật nhân quyền như một cây gậy hay củ cà rốt để răn đe Hà Nội.

 

QD: Trước khi đi qua vấn đề ông Yasser Arafat tôi muốn hỏi theo ông tại sao TNS John Kerry thất cử?

 

TBN: Câu trả lời hiển nhiên là v́ tổng thống Bush được dân tín nhiệm hơn.  Người Mỹ muốn chứng tỏ Hoa Kỳ là một siêu cường trong tinh thần “làm lớn th́ đôi khi phải làm láo” một chút, và chấp nhận trả cái giá đó. Tái bầu cho tổng thống Bush dân Mỹ muốn nói với thế giới rằng Hoa Kỳ sẵn sàng làm cái điều tổng thống John F. Kennedy đă nói với quốc dân năm 1961 là “pay any price, bear any burden” nghĩa là “trả bất cứ giá nào, mang bất cứ gánh nặng nào” để giữ vai tṛ đệ nhất siêu cường trên thế giới. C̣n chuyện có trả cái giá đó được không, có vác nổi cái gánh nặng không là chuyện hạ hồi phân giải.

            Phần khác nữa TNS John Kerry thua v́ ông ta có quá nhiều tiêu sản. Ông liên hệ đến nhiều việc dễ gây thắc mắc. Ông không nắm bắt được ảnh hưởng của tôn giáo tại Hoa Kỳ, và không thấy được rằng người dân Mỹ sống ở nông thôn hay các vùng phụ cận thành phố bảo thủ hơn ông ta tưởng. Ngoài ra ông không được đẹp trai, và nhất là có một bà vợ không dễ bắt mắt, khó tính lại sinh ở nước ngoài. Dù không nói ra người Mỹ khi đi bầu tổng thống họ cũng bầu luôn bà tổng thống là đệ nhất phu nhân của họ. Tôi ước lượng số phiếu bà Kerry làm mất của ông Kerry không phải là ít.

 

QD: Ông Yasser Arafat, lănh tụ phong trào giải phóng Palestine vừa qua đời hôm 11 tháng 11 Paris. Ông Yasser Arafat là người như thế nào, và cái chết của ông có những hệ lụy ǵ đến t́nh h́nh Trung Đông và sự lập quốc của người Palestine?

 

TBN: Ông Yasser Arafat là linh hồn của cuộc đấu tranh lập quốc của người Palestine. Ông được đưa đến chữa trị tại bệnh viện quân sự của Pháp tại Paris hôm 3 tháng 11 và qua đời tại đó hôm 11/11, hưởng thọ 75 tuổi. Tang lễ của ông được cử hành tại thủ đô Ai Cập, nơi nhiều người bảo là sinh quán của ông và đă được an táng hôm 13/11 tại thành phố Ramallah tây ngạn sông Jordan, thủ đô tạm của chính quyền Palestine, ngay tại nơi ông làm tổng hành dinh và gần như bị giam lỏng bởi quân đội Do Thái trong 3 năm qua.

            Ông Arafat, người Palestine, sinh ngày 4 tháng 8 năm 1929, con thứ năm trong một gia đ́nh buôn bán gồm 7 anh chị em. Mồ côi mẹ năm 4 tuổi ông được gởi đến ở nhờ nhà một người chú ruột tại Jerusalem. Cha ông chết năm 1948 khi tham gia phong trào chống lập quốc của người Do Thái. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại Cairo và gia nhập quân đội Ai Cập, sau đó giải ngũ và sống tại Kuwait. Tại đó năm 1965, ông thành lập Đoàn du kích Fatah như là bộ phận quân sự của Tổ chức Giải Phóng Palestine công khai đấu tranh vũ trang với chủ trương tiêu diệt Do Thái để thành lập nước Palestine, bộ chỉ huy đặt tại Lebanon. Sau cuộc chiến tranh  sáu ngày năm 1967 giữa Do Thái và các nước Hồi giáo tại Trung Đông, Do Thái toàn thắng, Ai cập mất giải đất Gaza, Jordan mất vùng Tây Ngạn, ông chạy sang tá túc tại Tunisia. Năm 1969 ông trở thành chủ tịch của TC/GPP và dùng khủng bố làm phương pháp đấu tranh. Cuộc đấu tranh Palestine – Do Thái dai dẵng cho đến năm 1988, khi sự trợ giúp của Liên bang Xô viết giảm dần, tổng thống Reagan mới thuyết phục được Yasser Arafat tuyên bố công nhận quyền tồn tại của Do Thái và từ bỏ phương pháp đấu tranh bằng khủng bố. Năm 1997 Yasser Arafat đắc cử chủ tịch chính quyền Palestine được tạm thời thiết lập theo thỏa ước Oslo. Sau đó là bế tắc cho đến hôm nay, một phần bởi Do Thái, một phần bởi chính những quyết định chiến lược sai lầm của ông Arafat.

            Nay ông chết đi người  Palestine thương tiếc ông, nhưng có một nghịch lư là sự vắng bóng của ông có thể là điều kiện tốt để Hoa Kỳ, Liên hiệp quốc, và các phe phái đối nghịch t́m ra một con đường giải tỏa bế tắc cho cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine.

 

QD: Ông Arafat có những sai lầm chiến lược nào?

           

TBN: Sai lầm lớn nhất của ông Yasser Arafat là năm 1991 ông ủng hộ cuộc xâm lăng Kuwait của Saddam Hussein. Sự việc này làm cho TC/GPP mất sự yểm trợ của khối Hồi giáo trên thế giới và trở nên bị cô lập. Để gỡ thế cô lập ông phải chịu thương thuyết với Do Thái và thành tựu được thỏa ước Oslo kư tại Hoa Thịnh Đốn năm 1993 qua đó hai bên đều có những nhân nhượng cần thiết. Do Thái bằng ḷng trả lại một ít đất đă chiếm được năm 1967, và công nhận sự ra đời một nước Palestine. Nhờ thỏa ước Oslo ông Yasser Arafat được giải thưởng ḥa b́nh Nobel năm 1994. Nhưng sự thi hành thỏa ước Oslo bị trục trặc v́ sự thay đổi lănh đạo về phía Do thái sau khi thủ tướng Rabin bị ám sát cuối năm 1995. Những người lănh đạo Do Thái kế tiếp thủ tướng Rabin dậm chân tại chỗ không muốn thi hành thỏa ước Oslo. Một thỏa ước khác được h́nh thành năm 2000 do sự vận động của tổng thống Clinton và sự hợp tác đầy thiện chí của thủ tướng Do Thái là ông Barak. Thỏa ước này có nội dung giống như thỏa ước Oslo. Theo các quan sát viên quốc tế đây là cơ hội tốt nhất để chấm dứt chiến tranh Trung Đông và thành lập nước Palestine. Nhưng ông Yasser Arafat không chịu kư. Và đây là sai lầm chiến lược thứ hai của ông. Sau đó Hoa Kỳ chán nản. Tổng thống Bush thay thế Clinton trở nên thân thiện với Do Thái hơn. Trong khi Do Thái trở nên cứng rắn xem Yasser Arafat là người không thể nói chuyện với, và ông Arafat trở lại chiến tranh trên đường phố đưa đến t́nh h́nh bế tắc hiện nay.

 

QD: Do thái, Palestine và các thế lực liên hệ như Hoa kỳ, Cộng đồng Âu châu, Liên bang Nga sẽ giải quyết sự bế tắc như thế nào?

 

TBN: Trước hết là giúp tổ chức một cuộc bầu cử tử tế để bầu người thay thế ông Yasser Arafat ở chức vụ chủ tịch chính quyền Palestine. Theo luật Palestine sẽ có cuộc bầu cử trong ṿng 60 ngày, và ngày ấn định là ngày 9 tháng Giêng tới. Người thay thế ông Arafat có thể là đương kim thủ tướng Ahmed Qurei hay vị thủ tướng trước là ông Mahmoud Abbas. Hai người này đều có cá tính, hết ḷng cho cuộc đấu tranh lập quốc và mềm dẽo hơn ông Arafat. Về phía Hoa Kỳ tổng thống Bush có nhu cầu thúc đẩy một giải pháp ḥa b́nh giữa Do thái và Palestine làm viên gạch xây dựng chính sách Iraq. Ông vừa tái đắc cử và có thế mạnh hơn để thúc đẩy Do Thái cũng như chính quyền mới Palestine đi đến một giải pháp. Về phía Do Thái thủ tướng Sharon trước kia cứng rắn cho rằng ông Arafat là một trở ngại sẽ phải nhân nhượng và uyển chuyển hơn để làm vui ḷng Hoa Kỳ. Ông Sharon được cho là người cứng rắn, nhưng khi quyết định đơn phương rút ra khỏi Gaza và phá bỏ vài khu định cư trong vùng Tây Ngạn ông cũng chứng tỏ là người biết tiến thoái. Việc Arafat qua đời là dịp tốt để ông thực hiện con đường thoái mà không làm mất quyền lợi của Do Thái.

 

QD: Thế c̣n vị trí của các tổ chức khủng bố như Hamas và Jihad ở đâu?

 

TBN: Đây là yếu tố khó khăn nhất v́ các tổ chức này có khả năng hành động độc lập đối với chính quyền Palestine. Nhưng nếu thấy có một giải pháp bảo đảm một nước Palestine tử tế sẽ ra đời th́ các tổ chức này cũng có thể bỏ vũ khí xuống để tham dự vào cuộc thương thuyết. Dù sao th́ sự lập quốc Palestine cũng là mục tiêu đấu tranh của họ. ♣

 

 

 

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net