|
THẾ GIỚI HAI TUẦN
QUA
(Feb. 13 - Feb. 26, 2004)
Trần B́nh Nam (TBN): Xin kính chào Quang Dũng và kính chào
qúi thính giả của đài TN/PHVN. Trong hai tuần nay thế giới không có ǵ mới
mẻ lắm, ngoại trừ việc Hoa kỳ thay đổi cách h́nh thành một cơ cấu chính
quyền tại Iraq trước khi chuyển quyền cho người Iraq. Và tại Ḥa lan, ṭa
án quốc tế bắt đầu đăng ṭa phán xét việc Do thái cho xây một bức tường an
ninh tại vùng Tây ngạn sông Jordan băng qua những phần đất của người
Palestine. Tại Iran cuộc bầu cử quốc hội vẫn diễn ra hôm 20/2 dù Hội đồng
Giám hộ vẫn giữ lập trường cứng rắn là gạt bỏ các ứng cử viên chủ trương
cởi mở. Tại Bắc kinh các nước Nga, Mỹ, Nhật, Tàu và hai nước Bắc, Nam Hàn
hôm Thứ Ba 24/2 lại gặp nhau để giải quyết vấn đề vũ khí nguyên tử của Bắc
Hàn. Có những việc khác là động đất lớn tại Maroc ở Bắc Phi châu hôm Thứ
Ba 24/2 làm chết trên 500 người và tổng thống Putin của Liên bang Nga đột
ngộ giải tán chính phủ. Sự việc nầy tôi sẽ cùng Quang Dũng và thính giả thảo
luận trong chương tŕnh TG2TQ kỳ tới vào đầu tháng 3, trước cuộc bầu cử
tổng thống tại đó. Và sau cùng là chính sách ngoại giao của Việt Nam trong
giai đọan hiện nay.
Quang Dũng (QD): Trong nhiều tháng nay Hoa ky (HK) thay đổi
kế hoạch thành lập chính quyền Iraq nhiều hơn một lần. Và như ông nói ở
trên HK lại thay đổi nữa. Điều này có phải là một sự lúng túng của HK
trong đối sách của HK đối với t́nh h́nh hiện nay tại Iraq không?
TBN: Tôi nghĩ là có một sự lúng túng. TT Bush muốn quyền
hành phải được trao trả cho người Iraq vào tháng 6/2004 nghĩa là trước
ngày bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 để gạt bỏ một vấn đề có thể ảnh hưởng
bất lợi cho cuộc bầu cử. Và chính v́ thời điểm quá sát này mà HK lúng túng,
v́ không có đủ thời gian để tổ chức một cuộc bầu cử đoàng hoàng. C̣n nếu
thành lập một chính quyền Iraq qua thảo luận địa phương và sắp xếp (danh
từ thường dùng là caucus) th́ thành phần người Hồi giáo thuộc phái Shite
không đồng ư. Họ muốn một chính quyền được thành lập qua bầu cử để họ có
tiếng nói mạnh hơn v́ họ là thành phần đa số. Trước sự phản đối này HK đă
nhờ LHQ trọng tài, và LHQ sắp xếp hai bên để đi đến một thỏa thuận là nới
rộng chính quyền tạm thời hiện nay mà chắc rằng những người hồi giáo Shite
đa số sẽ chiếm được nhiều chỗ và tổ chức một cuộc bầu cử càng sớm càng tốt.
Theo nội dung bản báo cáo của các chuyên viên LHQ sau một ṿng
nghiên cứu và quan sát tại Iraq th́ một cuộc bầu cử có thể thực hiện vào
cuối năm 2004, với điều kiện phải có luật bầu cử rơ ràng và một danh sách
cử tri. Cả hai việc này vẫn c̣n là những bất trắc. V́ không ai trả lời dứt
khoát được câu hỏi: Ai làm luật bầu cử? Ai thiết lập danh sách cử tri?
QD: Nhưng đến tháng 6, sau khi chuyển quyền th́ quân đội
HK rút ra khỏi Iraq hay sao?
TBN: Trên nguyên tắc là như vậy, nhưng thực tế quân đội HK
không thể rút, v́ rút th́ chính quyền của người Iraq thân HK sẽ sụp đổ
ngay trước sự tấn công của thành phần Hồi giáo chống Tây phương. Quân đội
HK có thể giảm quân số theo một chương tŕnh rút quân dần dần nhưng vẫn phải
hiện diện tại đó. Và để giảm tổn thất quân đội HK có thể sẽ rút vào những
vùng chiến lược để cho tân chính phủ đương đầu với nhóm Hồi giáo chống đối.
QD: Như vậy th́ sẽ có một cuộc nội chiến tại Iraq?
TBN: Hẵn là vậy. Và kết quả của cuộc nội chiến này không
ai có thể tiên đoán được, cũng như 30 năm trước đây cũng ít ai tiên đoán
được kết thúc của cuộc chiến Việt Nam sẽ như thế nào khi quân đội HK c̣n
đang chiến đấu tại đó.
QD: Nói như vậy có sự giống nhau ǵ về cuộc chiến VN và
cuộc chiến Iraq hiện nay không?
TBN: Nếu có sự giống nhau là giống ở chỗ trong cả hai cuộc
chiến HK đều chiến đấu v́ quyền lợi của nước Mỹ, và sự an toàn của thế
giới. Nhưng tại VN là ngăn chận làn sóng CS, c̣n tại Iraq là bảo vệ kho
dầu hỏa và chận trước khả năng đánh HK duới h́nh thức khủng bố của nhóm tổ
chức Al Queda.
QD: Về Iran, theo các nguồn tin quốc tế th́ phe bảo thủ có
khuynh hướng Hồi giáo cực đoan đă thắng lớn trong cuộc bầu cử quốc hội tại
Iran hôm 20/2, ông suy diễn sự việc này như thế nào.
TBN: Phe dân chủ tại Iran đă nói mạnh trước quyết định gạt
bỏ hơn một ngh́n ứng cử viên dân chủ của Hội đồng Giám hộ nhưng cuối cùng
họ không tạo được một sự ủng hộ nào từ phía dân chúng, cho nên cuộc bầu cử
đă diễn ra một cách b́nh thường và phe cứng rắn đă chiếm 149 ghế trên 290
ghế quốc hội. Phe dân chủ chỉ chiếm được 65 ghế. Lần này chỉ có 51% cử tri
đi bầu khác với năm 2000 có 67%. Như vậy Iran sẽ có một chính quyền lạnh
nhạt hơn với Tây phương do các tu sỉ Hồi giáo lănh đạo.
QD: Tại sao Iran đang có một quốc hội do những người dân
chủ chiếm đa số bỗng nhiên lại lọt vào tay những đại biểu cực đoan? Điều
này sẽ có những hậu quả nào đến t́nh h́nh Trung đông?
TBN: Lư do của sự thay đổi có thể do khuynh hướng chống
Hoa kỳ của dân chúng Hồi giáo trong vùng sau cuộc tấn công của HK vào Iraq
đang dâng cao. Hậu quả của nó là thứ nhất: Iran sẽ ít cởi mở đối với Cơ
quan Nguyên tử Năng quốc tế để lén lút chế tạo vũ khí nguyên tử; thứ hai
là tổng thống Khatami, một người có chủ trương cởi mở khó ḷng đắc cử tổng
thống trong nhiệm kỳ tới. Cũng có thể ông ta sẽ không ra ứng cử nữa.
QD: Trong phần mở đầu ông nói ông sẽ trao đổi với thính
giả về chính sách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Vậy chính sách đó
có ǵ đáng quan tâm?
TBN: Thật ra khi đưa ra vấn đề này tôi muốn bàn về chính
sách đối ngoại của VN dưới quan điểm của tiến sĩ (T/S) Âu Dương Thệ và ông
Bùi Tín, nguyên đại tá quân đội CSVN li khai và hiện sống ở Pháp.
Mới đây T/S Âu Dương Thệ có viết một bài nhan đề:
“Những
dấu hiệu thay đổi chính sách ngoại giao của Hà Nội”
đăng trên tạp chí Dân Chủ & Phát Triển, một tập san xuất bản 3 tháng một
kỳ của Hiệp hội Dân Chủ & Phát Triển Việt Nam ở Đức. Bài viết này được phổ
biến rộng răi trên internet. Quan điểm chính của T/S Âu Dương Thệ là dựa
vào những sự việc như hội nghị Trung ương 8 của đảng CSVN tháng 7 năm
2003; cuộc hội nghị ngoại giao kéo dài 10 ngày sau đó gồm các đại sứ Việt
Nam ở các nước ngoài; chuyến thăm viếng của tướng Phạm Văn Trà, bộ trưởng
quốc pḥng của Việt Nam đến Hoa kỳ và chuyến viếng thăm Sài g̣n của chiến
hạm Mỹ Vandergrif trong tháng 11/2003; và nội dung cuộc đàm phán giữa Hà
nội và Bắc kinh về hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ tháng 1 năm 2004 để kết
luận rằng đă có một sự chuyển hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại
của Hà nội đối với Hoa kỳ.
Về phần ông Bùi Tín, th́ ông cho rằng, theo sự quan sát
của ông th́ không có dấu hiệu ǵ
“nhóm
lănh đạo cao nhất có ư định thay đổi đường lối ngoại giao theo hướng tiến
bộ ...”
Bài viết của T/S Âu Dương Thệ và sự góp ư của cựu đại tá Bùi
Tín cho thấy dựa trên cùng những dấu hiệu chung có thể có những nhận định
rất khác nhau về chính sách đối ngoại của Việt Nam. Nhưng đáng quan tâm ở
đây là sự khác biệt về nhận định này là giữa hai nhà quan sát có thẩm
quyền về các vấn đề Việt Nam. T/S Âu Dương Thệ vốn có căn bản về chính trị
học và các nhận định của ông thường dựa vào tài liệu, văn bản và sự việc.
Trong khi đó cựu đại tá Bùi Tín có kinh nghiệm về sinh hoạt nội bộ của đảng
CSVN, và ông ta c̣n giữ được nhiều tiếp xúc trong nước và thỉnh thoảng có
những tin tức sốt dẽo. Ông thường hiến cho độc giả đọc ông những nhận định
độc đáo của một người có cái nh́n từ bên trong.
Sự góp ư của ông Bùi Tín đối với bài viết của T/S Âu Dương Thệ
có thể giúp độc giả nh́n bức tranh
“ngoại
giao”
của Việt Nam rơ hơn, và có thể từ đó có thể có một cái nh́n chính xác hơn
về những chuyển dịch ngoại giao của Hà Nội đối với Bắc kinh và Hoa thịnh đốn.
Tuy nhiên, mặc dù tôi không đồng ư hoàn toàn với những kết
luận chắc nịch của T/S Âu Dương Thệ là Hà Nội đă thực hiện
“một
bước ngoặc quan trọng”,
... và Hà Nội “muốn
mời Hoa Kỳ làm lực đối trọng ở Đông Nam Á trước áp lực của Trung quốc”,
tôi cũng không thể nào đồng ư với kết luận của ông Bùi Tín khi ông cho rằng
T/S Âu Duơng Thệ là
“.... quá lạc quan, vội vă, lấy mong ước làm thật,
điều hết sức tránh ở những nhà khoa học và chính trị có cân nhắc, thận
trọng”.
Trước hết, một người góp ư thận trọng cũng thường tránh gán cho người ḿnh
không đồng ư là “...
vội vă, lấy mong ước làm sự thật ...”
Không ai đồng ư như vậy. V́ nếu xưa nay độc giả hải ngoại
thích đọc những nhận xét tinh tế của ông Bùi Tín về t́nh h́nh trong nước,
độc giả cũng ghi nhận T/S Âu Dương Thệ là một nhà b́nh luận chín chắn.
Những ǵ ông viết đều dựa trên những sự kiện xác thật và văn bản.
QD: Vậy ông Bùi Tín lập luận như thế nào để kết luận rằng
chẳng có ǵ thay đổi chính sách ngoại giao từ phiá Hà nội?
TBN: Ông Bùi Tín đưa ra 3 điểm để chứng minh ông ta không
tin đă có một thay đổi chính sách ngoại giao ǵ từ phía Hà Nội.
* Thứ nhất là theo ông Bùi Tín
“muốn
thay đổi chính sách đối ngoại ở Việt Nam thường phải qua một đại hội đảng,
phải có một nghị quyết của đại hội; nếu không, phải có một kỳ họp đặc biệt
của trung ương đảng, hoặc phải có sáng kiến đề xuất bởi Tổng bí thư hay
bởi một nhóm trong Bộ chính trị”.
Th́ ông đă không thấy có những đề xuất này.
* Thứ hai là nhóm lănh đạo hiện nay quá yếu kém về mọi mặt
để có thể đề xuất một cái ǵ có ư nghĩa.
* Thứ ba là ông Bùi Tín nói ông biết
“trong
cuộc họp trung ương lần thứ 8 (tháng 7/2003) bàn về chiến lược bảo vệ tổ
quốc trong t́nh h́nh mới, vấn đề được nhấn mạnh chính là phải cảnh giác
với xu thế đ̣i dân chủ trong nước, mạnh tay đàn áp mọi kẻ bất đồng chính
kiến, đối phó với mọi sức ép quốc tế về dân chủ và nhân quyền, đồng thời
tranh thủ cộng đồng người việt ở nước ngoài. Làm ǵ có chuyện thay đổi
chính sách đối ngoại! C̣n về họp ngoại giao sau đó cũng để nhấn mạnh những
quan điểm trên, đồng thời đặt nhiệm vụ rơ hơn cho ngành ngoại giao là vận
động thu hút đầu tư, nghiên cứu thị trường, làm t́nh báo kinh tế, tài
chính, khoa học, thương mại, t́m kiến thị trường và có đặt tiền thưởng,
chia hoa hồng cho ngành ngoại giao khi kiếm được thị trường và đạt những
hợp đồng béo bỡ cho địa phương và công ty. Làm ǵ có chuyện giải thích về
chính sách đối ngoại mới.”
QD: Ông có đồng ư những lập luận của ông Bùi Tín không?
TBN: Không. Tôi không đồng ư trên cả 3 điểm:
Về điểm thứ nhất, cũng có thể có những đề xuất ở cấp cao
của đảng CSVN mà ông Bùi Tín không biết. Đảng CSVN biết cách giữ kín
những điều họ cần giữ kín nên những ǵ ông Bùi Tín không biết hay chưa
biết không có nghĩa nó không thể diễn ra. C̣n lập luận thứ hai cho rằng
nhân sự lănh đạo hiện nay yếu kém để có thể có quyết định chiến lược ǵ có
ư nghĩa tôi thấy cũng không có tính thuyết phục. Những người kém cỏi trong
ngành ngoại giao của Hà Nội mà cựu đại tá Bùi Tín đă có cơ hội tiếp xúc
của hơn 10 năm trước (trước khi ông Bùi Tín rời nước) có thể cũng đă được
học hỏi thêm. Chúng ta không nên khinh địch. Về điểm thứ ba cựu đại tá Bùi
Tín kết luận “ông
biết ... buổi họp của Trung ương đảng tháng 7/2003... làm ǵ có .....
chuyện thay đổi chính sách đối ngoại ... Chuyện họp ngoại giao sau đó
..... làm ǵ có chuyện giải thích chính sách đối ngoại”
th́ ông Bùi Tín không cho biết dựa vào đâu và văn bản nào ông biết những điều
đó.
QD: Vậy theo ông, th́ chính sách ngoại giao của VN thật sự
có một chuyển hướng không?
TBN: Tôi thấy, dựa vào những chuyển biến cuối năm
2003 và đầu năm nay th́ thật khó mà không thấy rằng các nhà lănh đạo tại
Hà Nội đă có một sự động năo để gỡ cái thế ngoại giao ngột ngạt của Việt
Nam đang nằm giữa Hoa kỳ và Trung quốc. C̣n làm được đến đâu, gỡ
bí thế nào th́ c̣n phải chờ diễn biến của t́nh h́nh quốc tế. Trong bối cảnh
đó, nếu cuộc họp trung ương đảng CSVN tháng 7/2003 và buổi họp các đại sứ
Việt Nam trên toàn thế giới tại Hà nội sau đó nếu không có tầm vóc quá
quan trọng như nhận định của T/S Âu Dương Thệ, chúng nó cũng không đến nổi
chỉ là những buổi họp bàn về những chuyện nội bộ như nhận xét của ông Bùi
Tín. Một biến chuyển cũng đáng quan tâm là chỉ mới trong tuần trước đă có
một thoả thuận giữa hội Cựu chiến binh Hoa kỳ và bộ Quốc pḥng VN về việc
t́m kiếm xác định các nơi có ḿn, bom và đạn c̣n sót lại trong chiến tranh
VN. Hội Cựu chiến Binh Hoa kỳ đă được ngân khoản của bộ Ngoại giao HK và
các tin tức quân sự của bộ quốc pḥng HK để thực hiện công tác này. Đây là
một h́nh thức hợp tác giữa hai bộ Quốc pḥng VN và HK và đó là một dấu
hiệu chuyển hướng chính sách ngoại giao của VN đối với HK.
QD: Tôi xin chuyển qua một vấn đề khác. Ông có thấy cuộc
hội họp 6 nước tại Bắc kinh (BK) cách đây 2 hôm sẽ giải quyết được vấn đề
vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn không?
TBN: Tôi nghĩ chưa có giải pháp được. V́ lập trường của
Hoa kỳ và Bắc Hàn (BH) rất khác nhau. HK đ̣i hỏi BH phải phá bỏ các cơ sở
sản xuất vũ khí nguyên tử trước mới nói chuyện viện trợ kinh tế sau. Trong
khi BH đ̣i hỏi viện trợ trước, hủy bỏ sau. Vấn đề khác là HK đ̣i hỏi một
chế độ thanh tra hữu hiệu, nghĩa là một đoàn thanh tra có nhiều quyền hành,
trong khi BH phản đối công thức thanh tra chặt chẽ mà BH cho là vi phạm
chủ quyền quốc gia. Nhưng sự thành công hay thất bại dựa vào hai yếu tố.
Thứ nhất là sự cứng rắn và quyết tâm của HK dùng vũ lực nếu thương thuyết
không thành công, và thứ hai là lập trường của Trung quốc (TQ). Nếu TQ nhất
quyết khuyến cáo BH nhượng bộ cộng với và HK cứng rắn th́ có thể thành
công. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay HK khó cứng rắn, c̣n TQ sẽ thấy
không có lợi ǵ nhiều nếu ép BH nhượng bộ. ♣
Trích trong:
Mục Thời sự , Báo điện tử
của Tạp chí Dân chủ & Phát triển:
www.dcvapt.org
|