TH GII HAI TUN QUA

(2 –15. 7. 2004)

 

            Trao đổi về chuyện Thế giới Hai tuần qua giữa Quang Dũng (QD) của Đài TN/PHVN với ông Trần B́nh Nam (TBN)

            Nội dung này được phát song ngày 15.7.04 lúc 10:10PM giờ Hoa thịnh đốn trên làn sóng của Đài Việt Nam Hải ngoại (VNHN), cũng có thể nghe qua  http://www.phvn.org.

 

 

TBN: Tôi là Trần B́nh Nam. Xin chào Quang Dũng và kính chào quư thính giả của TN/PHVN. Hôm nay tôi xin hầu thính giả ba chuyện: Thứ nhất là hội nghị quốc tế về bệnh AIDS tại Bangkok. Thứ hai là chính sách của Hoa Kỳ đối với nền trật tự của thế giới. Sau cùng là câu chuyện không gian liên quan đến số phận của viễn vọng kính không gian (gọi là Hubble Space Telescope) của Cơ quan Không gian Hoa Kỳ hay cơ quan NASA.

 

QD: Hội nghị quốc tế pḥng chống bệnh AIDS họp tại Bangkok có ǵ đáng quan tâm không?

 

TBN: Hội nghị quốc tế thứ 15 pḥng chống bệnh AIDS họp ngày 13/7 tại Bangkok có một tầm quan trọng cao. Tại hội nghị thứ 14 năm 2002 về bệnh AIDS họp tại Barcelona, Tây Ban Nha, với sự hứa hẹn trợ giúp tiền bạc của các nước tây phương, người ta hy vọng bệnh AIDS có thể được đẩy lui, hay ít nhất được chận đứng, nhưng thực tế không phải vậy.

Ngày 6 tháng 7, một tuần trước ngày hội nghị họp, bác sĩ Peter Piot, giám đốc chương tŕnh chống bệnh AIDS của Liên hiệp quốc phổ biến một bản báo cáo cho thấy trong năm 2003 có 3 triệu người chết và thêm 5 triệu người nhiễm vi trùng HIV tức nhiều hơn các năm trước, và t́nh trạng lây lan của vi trùng HIV trầm trọng nhất tại Đông Âu (1 triệu 250 ngàn người trong số 5 triệu), và hiện nay trên thế giới có 38 triệu người có vi trùng HIV.

Bác sĩ Piot cho biết thế giới không ngăn chận được sự lây lan của bệnh AIDS v́ Liên hiệp quốc không đủ tiền. Các nước giàu hứa chi tiền nhưng không giữ lời  hứa. Theo bác sĩ Piot để ngăn bệnh AIDS bành trướng phải cần 12 tỉ mỹ kim mỗi năm, nhưng hiện nay mỗi năm Liên hiệp quốc chỉ có 6 tỉ. Và chỉ có chừng 20% người cần săn sóc được chiếu cố. Tỉ số này c̣n thấp hơn tại Nga, Á châu, Trung  Đông và Phi châu. Bản báo cáo cho thấy Nam Phi có 5.3 triệu, Ấn Độ có 5.1 triệu, Trung quốc có 8 triệu và Hoa Kỳ có 950.000 người bị bệnh AIDS, trong đó một nửa là người da đen.

Tại đại hội Bangkok, đại diện của Pháp đọc một lời tuyên bố của tổng thống Jacques Chirac cáo giác Hoa Kỳ không giúp cho các nước  nghèo dùng kỹ thuật của Hoa Kỳ để chế biến thuốc chống AIDS với giá rẻ. Nguyên tắc của Tổ chức Mậu dịch Thế giới (TC/MDTG) cho phép các nước nghèo nếu có khả năng sao chép th́ có thể sao chép thuốc chống AIDS của các hăng bào chế khác để sản xuất thuốc trị bệnh AIDS rẻ tiền hơn mà không cần thông qua quyền sở hữu sáng chế trong trường hợp có một bệnh nguy hiểm lây lan. Hiện nay ba nước Thái Lan, Ấn Độ và Brazil có khả năng sao chép này. Nhưng Thái Lan đang thương thuyết để kư một Hiệp ước thương măi song phương với Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ đ̣i hỏi Thái Lan từ bỏ quyền sao chép nói trên của TC/MDQT th́ Hoa Kỳ mới kư thương ước song phương với Thái Lan. Tổng thống Pháp cho rằng sự đ̣i hỏi của Hoa Kỳ là một h́nh thức blackmail và không giúp ǵ cho việc pḥng chống bệnh AIDS trên thế giới. Đại diện Hoa Kỳ nói rằng lời cáo giác của ông Jacques Chirac là vô căn cứ.

 

QD: Ngoài chuyện căi cọ giữa Pháp và Hoa Kỳ, hội nghị c̣n bàn về những vấn đề ǵ khác không?

 

TBN: Hội nghị bàn về hai vấn đề khác nữa. Thứ nhất là giá tiền thuốc quá cao đối với các nước đang phát triển v́ các nước Tây phương sáng chế và sản xuất hầu hết thuốc chống bệnh AIDS và quyền sáng chế được bảo vệ bởi luật lệ quốc tế. Một bệnh nhân bệnh AIDS cần dùng mỗi năm ít nhất 5000 mỹ kim tiền thuốc. Trong khi đại diện của Pháp và Hoa Kỳ đang căi cọ nhau th́ những người biểu t́nh tại Bangkok la ó yêu cầu hội nghị hăy làm nhiều hơn nói, và lên tiếng kết án khối NATO quá hà tiện và kêu gọi khối này phải chi thêm nhiều tiền cho Liên hiệp quốc để chống AIDS.

            Vấn đề thứ hai gây ra tranh luận gay gắt là: phương pháp chống lây lan của bệnh AIDS. Các nhà khoa học th́ cho rằng cách hữu hiệu nhất theo thứ tự ưu tiên là dùng bao cao su, kim chích sạch sẽ và cẩn thận khi chọn đối tượng. Trong khi đó những nhà đạo đức và lănh tụ tôn giáo th́ muốn theo thứ tự: kiêng khem t́nh dục trước, sau đó mới đến chọn đối tượng cẩn thận và nếu không nhịn được mới dùng bao cao su.

Một phó sản của bệnh AIDS và cũng là một vấn nạn lớn là trong khoảng thời gian tử 2001 đến 2003 trên thế giới có thêm 3 triệu trẻ em mồ côi v́ cha hay mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ chết v́ bệnh AIDS, nâng tổng số mồ côi năm 2003 lên đến 15 triệu. Không có một ngân khoản nào trích trong ngân khoản chống bệnh AIDS giúp cho số trẻ em này.

 

QD: Sau hội nghị Bangkok t́nh h́nh pḥng chống bệnh AIDS có triển  vọng tốt hơn không?

 

TBN: Ai cũng hy vọng như vậy. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, hứa th́ dễ, và thực hiện lời hứa khó hơn, cho nên triển vọng chống lây lan bệnh AIDS trên thế giới c̣n gặp nhiều khó khăn. Nhưng đây không phải là một vấn đề nhân đạo, giúp cũng được, không giúp cũng được. Một khi bệnh AIDS lan tràn như một bệnh dịch th́ không ai được an toàn cả, v́ không ai có chỗ sống ngoài trái đất. Đến lúc đó  thế giới sẽ phải đoàn kết trong hành động. Hy vọng rằng sẽ không quá trễ thôi.

 

QD: Khi nêu ra vấn đề chính sách tuơng lai của Hoa Kỳ, thật ra ông định tŕnh bày với thính giả vấn đề ǵ?

 

TBN:  Trong khuôn khổ cuộc chiến tranh tại Iraq lật đổ Saddam Hussein năm 2003 và sự việc Hoa Kỳ vừa  trao quyền lại cho một chính phủ người Iraq, tôi muốn bàn đến quan niệm của Hoa Kỳ về một trật tự mới của thế giới qua lăng kính đó.            

            Dư luận thế giới cho rằng cuộc chiến Iraq là con đẻ của một số nhân vật trong và ngoài chính phủ Hoa Kỳ theo hệ phái tân bảo thủ (neoconservative - neocons) để chống lại nạn khủng bố, đồng thời phát huy dân chủ cho vùng Trung đông làm cột trụ bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ là một chính sách mới toanh của Hoa Kỳ. Dư luận cũng cho rằng cuộc chiến tranh Iraq chỉ là sự khởi đầu sự bành trướng ảnh hưởng của Hoa Kỳ bằng sức mạnh quân sự, và biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 chỉ là một cái cớ.

            Nhưng sự hiện hữu của khuynh hướng tân bảo thủ không phải là một cái ǵ mới mẻ. Nó có nguồn gốc từ thế kỷ trước kinh qua những giai đoạn bành trướng đế quốc của Hoa Kỳ, và cuộc chiến tranh Iraq chỉ là một sự tái diễn của lịch sử.

 

QD: Nguồn gốc đó khởi đầu như thế nào?

 

TBN: Nguồn gốc đó bắt nguồn từ sự đô hộ Phi Luật Tân, và việc xâm lăng  Mexico. Năm 1898 Hoa Kỳ đánh bại Tây ban Nha và đuổi Tây Ban Nha ra khỏi quần đảo Phi Luật Tân. Nhưng thay v́ trả độc lập cho Phi, tổng thống William McKinley (một nhiệm kỳ 1897-1901) bổ nhiệm một vị toàn quyền và biến Phi thành một thuộc địa. Nhiều năm sau đó Hoa Kỳ thẳng tay đàn áp phong trào nổi dậy đ̣i độc lập, một phong trào trước đó Hoa Kỳ đă khuyến khích và giúp đỡ chống lại người Tây Ban Nha. Sau 14 năm Hoa Kỳ mới dập tắc được phong trào giành độc lập của người Phi với một đoàn quân viễn chinh 120.000 người, 4.000 binh sĩ Mỹ tử thương, và 200.000 người Phi gồm quân nổi dậy và thường dân bị giết. Năm 1935 tổng thống Franklin Roosevelt biến Phi thành một vùng đất liên hiệp (commonwealth) chuẩn bị trao trả độc lập cho Phi. Độc lập chưa trao th́ năm 1942 Nhật Bản chiếm đóng Phi. Hoa Kỳ giải phóng và ban bố độc lập cho Phi năm 1945 với một thể chế dựa vào thể chế chính trị Hoa Kỳ.

            Chiến tranh tại Phi vừa dứt, năm 1913 tổng thống Woodrow Wilson (hai nhiệm kỳ tổng thống 1913-1921) đưa quân vào chiếm Mexico nói là để tái lập dân chủ sau một chính biến ở đó (tướng Victoriano Huerta ám sát tổng thống dân cử Francisco Madero để cướp quyền). Hoa Kỳ hy vọng người Mexico sẽ chào đón quân đội Hoa Kỳ. Nhưng thay v́ được đón tiếp như một đoàn quân giải phóng, quân đội Hoa Kỳ đă gặp phải sự kháng cự của người Mexico thuộc cả hai phe phái thân và chống tướng Huerta. T́nh h́nh bất ổn buộc Hoa Kỳ phải rút lui.

Hai sự việc lịch sử này là dấu hiệu bành trướng đế quốc của Hoa Kỳ. Và bài học là: chiếm đất th́ dễ, ổn định th́ khó. Sự thất bại của nó cộng với t́nh h́nh thế giới do trận đại chiến thứ nhất (1914-18) mang lại đă manh nha một chính sách Hoa Kỳ về một trật tự thế giới.

Trận Thế giới đại chiến thứ nhất mà nguyên nhân một phần do sự cạnh tranh bành trướng đế quốc của các nước châu Âu, làm cho tổng thống Wilson nhận ra rằng: phương pháp lư tưởng để ngăn ngừa chiến tranh là tháo bỏ chế độ thuộc địa, và ông ta thiết lập chủ thuyết Wilson (Wilsonianism). Chủ thuyết Wilson chủ trương quyền dân tộc tự quyết,  giảm vũ trang toàn cầu, thiết lập một chế độ mậu dịch tự do, và bảo đảm an ninh chung thông qua sự đồng thuận quốc tế. Chủ thuyết này là hành trang cải hóa thế giới của tổng thống Wilson mà ông tin là một nhiệm vụ thiên định của Hoa Kỳ.

            Chủ thuyết Wilson không đi tới đâu v́ các thế lực đế quốc Âu châu không đồng ư, và tại Hoa Kỳ khuynh hướng bành trướng thế lực bằng vũ lực vẫn c̣n mạnh. Sự thất bại của chủ thuyết Wilson đưa đến trận Thế giới đại chiến thứ hai. Cho nên sau trận đại chiến này tổng thống Franklin Roosevelt (ba nhiệm kỳ 1933-1945, anh em họ với tổng thống Theodore Roovevelt) người có công giải phóng Âu châu khỏi họa Đức quốc xă, đă dùng tư thế mới để áp lực hai nước thắng trận là Anh và Pháp từ bỏ mộng đế quốc, trao trả quyền độc lập cho các thuộc địa.

           

QD: Như vậy sau Thế chiến thứ hai Hoa Kỳ có tư thế áp dụng chủ thuyết Wilson. Thế tại sao Hoa Kỳ vẩn mang tiếng là một tân đế quốc dưới h́nh thức kinh tế ?

 

TBN: Lư do là sau Thế chiến 2, cuộc tranh chấp giữa Liên bang Xô viết và Hoa Kỳ (chiến tranh lạnh) bắt đầu, làm cho Hoa Kỳ không thể thẳng tay áp lực Anh và Pháp, nhất là Pháp v́ Hoa Kỳ cần đồng minh tại Âu châu để đối đầu với Liên bang xô viết. Về phần ḿnh, Hoa Kỳ cũng không thể để cho phong trào giành độc lập tại các thuộc địa bị các tổ chức thân Mác xít thao túng nên đă dùng sức mạnh của ḿnh để giữ các quốc gia cựu thuộc địa tại Nam Mỹ, Á châu và Trung đông trong ṿng ảnh hưởng. Hoa Kỳ thống trị các quốc gia này bằng viện trợ kinh tế. Sức mạnh quân sự chỉ dùng trong trường hợp tối cần thiết. Chính sách này gọi là chính sách tân thuộc địa đă mang chiến tranh lạnh đến Nam Mỹ, Á châu và Trung đông. Thí dụ rơ nhất là cuộc chiến tranh Việt Nam khi Hoa Kỳ giúp Pháp thiết lập lại chế độ thuộc địa tại đó và sau khi Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ năm 1954 Hoa Kỳ đă đổ quân đến bảo vệ miền Nam Việt nam.

 

QD: Như vậy sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ vào cuối thập niên 1980 Hoa Kỳ hoàn toàn có tư thế thiết  lập một trật tự mới trên thế giới theo chủ thuyết Wilson.

 

TBN: Đúng ra là vậy. Cuối thập niên 1980 Liên bang Xô viết sụp đổ, Hoa Kỳ chủ trương bành trướng ảnh hưởng và duy tŕ quyền lợi quốc tế của ḿnh bằng cách xiển dương ḥa b́nh, dân chủ, và sức mạnh quân sự chỉ xử dụng với sự đồng thuận quốc tế theo hướng chủ thuyết Wilson. Cho nên năm 1991, sau khi Saddam Hussein xâm lăng Kuwait, tổng thống Goerge Bush đưa đại quân qua Trung đông đuổi quân chiếm đóng Iraq ra khỏi Kuwait với sự chấp thuận của Liên hiệp quốc, và rút  quân về. Năm 1996 tổng thống Clinton cũng chỉ đưa quân đến Bosnia để ngăn chận nạn diệt chủng với sự hợp tác của khối NATO.

            Tuy nhiên, khuynh hướng chống chủ thuyết Wilson vẫn c̣n là một chủ lực trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ. Đó là những Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz, John Bolton, Douglas Feith, Richard Perle trong chính quyền và Max Boot (của  tờ Wall Street Journal) và William Kristol (của tờ Weekly Standard) trong giới truyền thông họp thành nhóm tân bảo thủ (neocons). Nhóm này nắm cơ hội vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 để thuyết phục tổng thống George W. Bush gạt bỏ chủ thuyết Wilson và bắt đầu thời đại bành trướng thế lực của Hoa Kỳ bằng sức mạnh quân sự, có sự đồng thuận của quốc tế th́ tốt, nếu không th́ cũng không phải là điều phải quan tâm. Nhóm neocons tại Hoa Thịnh Đốn không nh́n sự thành h́nh của tổ chức Al Qaeda như một phản ứng của người Hồi  giáo đối với chính sách dầu hỏa của tây phương, nhất là thái độ bênh Do Thái của Hoa Kỳ đối với cuộc tranh đấu lập quốc của người Palestine, mà cho rằng Al Qaeda chỉ là con đẻ của một con người bệnh hoạn hiện thân nơi Osama bin Laden, nuôi dưỡng hận thù v́ ghen tức với sự “thành công vật chất và sự tự do” của Mỹ quốc.

            Cho nên cuộc tấn công lật đổ Saddam Hussein (mà không có sự đồng thuận quốc tế) sau khi chiến thắng dễ dàng tại Afghanistan (với sự đồng thuận của quốc tế) với lư do (không vững chắc) Saddam Hussein có liên hệ với al Qaeda và có vũ khí giết người tập thể (có thể cung cấp cho al Qaeda để khủng bố Hoa Kỳ) chỉ là một bước tự nhiên.

 

QD: Vậy chủ thuyết mới là chủ thuyết ǵ?

           

TBN: Hoa Kỳ đang t́m đường rút ra khỏi Iraq thế nào để ít bị tổn thất nhất. Và bước đầu là trao quyền quản lư Iraq cho người Iraq. Sau đó việc phải đến là khuynh hướng neocoms phải nhường chỗ cho một khuynh hướng mới ra đời.

            Vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ, dù đó là George Bush hay John Kerry cũng không thể làm ngơ trước những kinh nghiệm quá khứ của hai tổng thống Theodore Roosevelt và Woodrow Wilson để h́nh thành một chủ thuyết mới giúp ổn định thế giới, đồng thời bảo đảm những ưu tiên của Hoa Kỳ trên thế giới. Chủ thuyết này sẽ không khác với chủ thuyết Wilson.

 

QD: Về không gian, có biến chuyển ǵ mới liên quan đến viễn vọng kính không gian của NASA?

 

TBN: Chúng ta đều biết năm 1990 Hoa kỳ phóng một viễn vọng kính vào quỹ đạo trái đất, giới khoa học gọi là Hubble Space Telescope. Ở một vị trí nằm ngoài  lớp khí quyễn bao quanh quả đất, viễn vọng kính không gian thấy các thiên thể trong vũ trụ rơ gấp trăm ngàn lần so với các viễn vọng kính đặt trên mặt đất, và đă giúp khám phá nhiều điều mới lạ về vũ trụ.

            Đầu năm 2003 khi tổng thống Bush phác họa chương tŕnh gởi người thám hiểm Hỏa tinh, tài nguyên của NASA chuyển qua chương tŕnh này th́ các chuyên viên NASA thấy không có khả năng tài chánh để nâng cấp viễn vọng kính không gian. Trong điều kiện này viễn vọng kính không gian có thể sống thêm nhiều lắm là 4 năm nữa.

 

QD: Như vậy số phận của viễn vọng kính không gian đă được an bài?

 

TBN: Nhưng các khoa học gia c̣n tiếc, v́ trong 14 năm hoạt động viễn vọng kính đă là tai mắt của các nhà khoa học nh́n vào không gian. Do đó sau một thời gian nghiên cứu, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (National Research Council) vừa gởi một khuyến cáo đến cho NASA yêu cầu gởi một phi thuyền con thoi hay một người máy (robot) đến nâng cấp viễn vọng kính để viễn vọng kính có thể tiếp tục phục vụ khoa học không gian.

            Ông Sean O’Keefee, giám đốc NASA cũng đồng ư với Hội đồng Nghiên cứu Không gian là cần phải làm một cái ǵ để cứu Viễn vọng kính không gian. Hai phương thức, hoặc người máy, hoặc phi thuyền con thoi có người lái đều được nghiên cứu.

 

QD: Nhưng sau vụ nổ của phi thuyền Columbia tháng 2 năm 2003, phi thuyền con thoi chưa bay trở lại th́ làm thế nào?

 

TBN: V́ vậy hiện nay sự nghiên cứu chú trọng vào người máy. C̣n giải pháp dùng phi thuyền con thoi có người lái th́ phải chờ đến khi phi thuyền con thoi bay trở lại (dự trù vào cuối năm 2004) mới có thể tính toán được.

            Dù sao th́ khuynh hướng nâng cấp viễn vọng kính không gian, cũng như sự tiếp tục xây dựng pḥng thí nghiệm không gian quốc tế (mà trước đây trong chương tŕnh “Thế giới hai tuần qua”  ngày 20 tháng 5 vừa qua  Quang Dnũg và tôi đă  có dịp bàn tới) là những điều các nhà khoa học sẽ không bỏ qua khi phi thuyền con thoi bay trở lại. Chuyện thám hiểm Hỏa tinh bằng phi thuyền có người lái có thể trở thành chuyện lịch sử trong vài năm nữa./.♣

 

 

 

 

Trích trong:

 

Mục Thời sự, Báo điện tử

của Tạp chí Dân chủ & Phát triển: www.dcvapt.net