|
THẾ GIỚI HAI TUẦN QUA
(07-20.5. 2004)
TRẦN B̀NH NAM
Trao
ñoåi veà chuyeän Theá Giôùi Hai Tuaàn Qua giöơa Quang Duơng (QD) cuûa
ñaøi TN/PHVN vaø oâng Traàn B́nh Nam (TBN)
Noäi dung naøy ñöôïc phaùt soùng ngaøy Thöù
Naêm May 20, 2004 vaøo luùc
10:10PM giôø Hoa Tḥnh Ñoán treân laøn soùng ñaëc bieät cuûa ñaøi Vieät
Nam Haûi Ngoaïi (VNHN), vaø coù theå nghe laïi sau ñoù qua Web site: http://www.phvn.org
Trần B́nh Nam
(TBN): Tôi là Trần B́nh
Nam. Xin kính chào Quang Dũng và kính chào quư thính giả
của TN/PHVN. Hôm nay, như thường lệ tôi
sẽ trao đổi với Quang Dũng và quư thính
giả một số vấn đề đáng chú ư trên
thế giới và hoàn vũ trong hai tuần lễ
vừa qua kể từ ngày 7 tháng 5 cho đến hôm
nay, ngày 26 tháng 5. Có 4 việc đáng chú ư. Thứ
nhất là vấn đề ngược đăi tù nhân
tại Iraq, thứ hai là chuyện bầu cử
tại Ấn Độ, và bà Sonia Gandhi, một phụ nữ gốc Ư,
người con dâu gịng họ Gandhi đă
được đảng Quốc Đại chọn
làm thủ tướng, nhưng bà không nhận. Thứ
ba là cơn sốt dầu hỏa trên thế giới nhất
là tại Hoa Kỳ đang lên cao. Và sau cùng là tin không gian. Có tin pḥng
Thí nghiệm Không gian Quốc tế đang thiếu
tiền để tiếp tục kế hoạch xây
dựng như được dự tính và có thể
sẽ bị hủy bỏ.
QD:
Từ đầu tháng 5 đến nay dư
luận thế giới xôn xao về vụ quân
đội Hoa Kỳ ngược đăi tù nhân tại
nhà giam Abu Ghraib, và sau đó dư luận cũng xúc
động không kém trước hành động dă man
của một nhóm người tự xưng là
thuộc al Qaeda đă giết bằng cách cắt
đầu một thanh niên người Mỹ tên là
Nicolas Berg. Ông nh́n toàn bộ vấn đề này như
thế nào?
TBN:
Trong chiến tranh thời nào cũng có những
sự việc quá đáng và tàn bạo trên chiến
trường, nhưng khi những sự tàn bạo
xẩy ra không phải trên chiến trường th́
đó là một dấu hiệu xấu cho thế
giới chúng ta đang sống.
Cho
nên ngày 28 tháng 4 khi chương tŕnh “60 minutes II” của đài truyền h́nh CBS cho
lên một số h́nh ảnh tù nhân người Iraq trong
tay quân đội Hoa Kỳ bị ngược đăi
th́ người dân Hoa Kỳ hết sức sửng
sốt và tự hỏi: Những hành động tàn ác,
dă man và thiếu đạo đức như vậy có
thể xẩy ra trong một nhà tù do quân đội Hoa
Kỳ canh giữ hay sao?
Trả
lời câu hỏi này khá phức tạp. Có chiến
tranh th́ có nhà tù giam giữ tù nhân. Và có tù nhân th́ có nhu
cầu khai thác tin tức t́nh báo cần thiết cho
chiến trường. Và để tránh tù nhân hai bên
bị ngược đăi khi khai thác tin tức mới
có Quy chế Quốc Tế Geneva về Tù binh. Trong
chiến tranh quy ước Quy chế Quốc Tế
Geneva về Tù binh dễ được tôn trọng
hơn trong một cuộc chiến tranh du kích.
Tại
Iraq hiện nay là một cuộc chiến tranh du kích
giữa người Iraq với Hoa Kỳ và Anh. Du kích Iraq áp dụng mọi
phương thức của du kích chiến, từ
phục kích, bắn lén, đặt bom bên vệ
đường, đánh bom tự sát, khủng bố
thường dân ... thậm chí hành động cắt
cổ người như cắt cổ súc vật, quay
vào video rồi cho vào mạng thông tin internet cho thế
giới xem như trường hợp ông Nicolas Berg
Quang Dũng có nhắc ở trên. Để chống cuộc chiến du kích
này quân đội Hoa Kỳ t́m cách bắt giữ
mọi thành phần t́nh nghi là du kích hay lănh đạo
du kích. Và có nhu cầu khai thác t́nh báo. Quân đội Hoa
Kỳ thấy ngay rằng áp dụng phương pháp
khai thác “quy ước” sẽ không lấy
được tin tức ǵ có giá trị nơi
những người du kích Hồi giáo không sợ
chết. Họ phải dùng những phương pháp mới đánh vào tâm lư và
thể xác của tù nhân. Và đó là nguyên nhân đưa
đến những cảnh “chướng
mắt” của những tù binh người Iraq
bị lột trần truồng chồng chéo lên nhau
tại trại tù binh Abu Ghraib (trại tù lớn
nhất tại Iraq), hay h́nh ảnh một tù nhân
trần truồng để cho chó săn cắn,
nếu chỉ nói đến một vài tấm trong hàng
trăm tấm h́nh chướng mắt và tàn bạo
khác.
QD: Theo ông th́ những hành
động này do cá nhân hành động hay
được sự chấp thuận và khuyến
khích của cấp trên.
TBN: Tôi nghỉ là cả hai.
Trong
buổi điều trần trước liên ủy ban
quân vụ quốc hội Hoa Kỳ ngày 7 tháng 5 vừa
qua ông bộ trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld không
trả lời được câu hỏi đơn
giản: “Ai có trách nhiệm về trại tù Abu Ghraib?”
của Thượng nghị sĩ John McCain.
Điều này chứng tỏ có một lỗ hổng
lớn trong hệ thống chỉ huy cai quản các
trại tù tại Iraq. Có thể đây là một lỗ
hổng giới chức quân sự Hoa Kỳ thấy
nhưng cứ để vậy v́ nhu cầu chiến
trường?
Tháng
8 năm 2003, Thiếu tướng Geoffrey Miller, giám
đốc trại tù tại Guantanamo được
cử đến quan sát trại tù Abu Ghraib và sau đó
khuyến cáo rằng lực lượng canh gát và
giữ trật tự của trại (nhiệm vụ
của quân cảnh) cần tạo
điều kiện để nhân viên tra hỏi (nhiệm vụ của t́nh
báo quân sự) dễ khai thác tin tức. Mấy chữ tạo điều kiện
trong bản khuyến cáo của Thiếu tướng
Miller là nguyên nhân đưa đến sự khủng
bố thể xác và tinh thần tù nhân. Thiếu
tướng Miller đă áp dụng phương pháp này
tại trại Guatanamo và thấy có kết quả.
Do
khuyến cáo của Thiếu tướng Miller, tháng
11/2003 Trung tướng
Ricardo Sanchez, tổng chỉ huy các lực
lượng bộ binh tại Iraq đặt trại
tù Abu Ghraib dưới quyền của ngành t́nh báo quân
sự với mục đích để sĩ quan t́nh
báo có thể ra lệnh cho quân cảnh tạo điều kiện trước khi
đưa tù nhân đến pḥng thẩm vấn.
Trong
hoàn cảnh chiến tranh du kích, hằng ngày có nhiều
quân nhân Hoa Kỳ bị giết nên các trại tù có nhu
cầu khai thác tin tức t́nh báo nhanh chóng để
kịp thời chận trước các cuộc tấn
công. Nhu cầu khai thác tin tức t́nh báo này dẫn
tới sự quá tay của nhân viên quân cảnh mà
họ xem chỉ là làm theo lệnh trên.
Vào
tháng giêng 2004 Hồng Thập Tự quốc tế
đă thông báo cho bộ tư lệnh quân đội
tại Iraq về sự hành hạ thể xác và tinh
thần của tù nhân. Tướng Sanchez đă cử
Thiếu tướng Antonia Taguba mở cuộc
điều tra. Cuộc điều tra cho thấy có
sự hành hạ và tra tấn tù nhân tại Iraq và Afghanistan, thậm chí có vài tù
nhân bị hành hạ đến chết.
Nhiều
người ngạc nhiên tại sao trong số
những sĩ quan quân cảnh có nhiệm vụ canh gác
tù không có ai báo cáo với cấp trên, và tại sao
bộ quốc pḥng Hoa Kỳ khi đọc báo cáo
của Thiếu tướng Antonia Taguba lại không có
hành động ǵ để chận đứng
những sự bạo hành tù nhân như trên. Nhưng tâm
lư của sĩ quan và tướng lănh ngoài chiến
trường là che dấu những hành động
bạo hành của quân nhân dưới quyền
để tránh trách nhiệm. Cũng trong tâm lư đó ông
bộ trưởng Donald Rumsfeld đă không vội vàng
báo cáo đầy đủ những sự việc tàn
ác này cho tổng thống, và h́nh như cũng không có
biện pháp nào để ngăn chận.
Mới
đây hôm Thứ Bảy 15/5 tạp chí New Yorker và
tờ tuần báo Newsweek tường thuật rằng
những vụ việc xẩy ra tại nhà tù Abu Ghraib
là do một quyết định của bộ
trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld gọi là
“chương tŕnh khai thác đặc biệt” dùng cho tù
binh tại Afghanistan bị giam ở Afghanistan hay
tại nhà tù Guantanamo. Sau khi du
kích hoạt động mạnh tại Iraq, ông Rumsfeld đồng ư
áp dụng tại Iraq “chương tŕnh khai thác
đặc biệt” này để nhanh chóng khai thác tin
tức pḥng chống các cuộc tấn công của du
kích. Bộ Quốc pḥng Hoa Kỳ đă cho biết các
bản tin này là phóng đại và có ác ư.
QD: Trước phản ứng
của dân chúng Mỹ chính quyền Hoa Kỳ đă
giải quyết vụ việc như thế nào?
TBN:
Đứng trước vụ Abu Ghraib phản
ứng của dân chúng Hoa Kỳ là kinh ngạc lẫn
kinh tởm. Một số không ít cảm thấy
buồn. Buồn cho thế giới nhiễu
nhương. Con người càng lúc càng sa đọa
tinh thần. H́nh như cái nguyên tắc “giết nếu không sẽ bị giết”
trên chiến trường đang trở thành một
nguyên tắc hơn thua của chiến tranh ở
bất cứ nơi đâu. Trại tù trở thành
một phần của chiến trường. Tại
đó người ta đánh, giết, khai thác
để cho binh đội của ḿnh khỏi bị
bắn giết.
QD:
Nhưng có nhất thiết vụ Abu Ghraib là
một bằng chứng những giá trị
người Mỹ thường xiểng dương
như tôn trọng con người, nhân quyền và dân
chủ là giả dối không?
TBN:
Không, trái lại là khác. Những vụ bạo hành
và giết chóc xẩy ra nhiều nơi trên thế
giới, nhưng không có một quốc gia nào mà khi sự
việc được phanh phui dân chúng và chính quyền
đă phản ứng
một cách quyết liệt như tại Hoa Kỳ.
Sau khi đài CBS phanh phui, nếu người A Rập
trên toàn thế giới phẫn nộ dân chúng Hoa Kỳ
cũng phẫn nộ không kém. Ông bộ trưởng
quốc pḥng Donald Rumsfeld phải ra điều trần
trước Quốc hội Hoa Kỳ, công khai nhận
lỗi không chu toàn trách nhiệm và có thể sẽ
phải từ chức. Và tổng thống Bush nói
rằng những hành động đó là dă man, không
phản ánh những giá trị của Hoa Kỳ, và xin
lỗi nhân dân Iraq. Cuộc điều tra đang
được tiến hành, những người có
trách nhiệm sẽ bị đưa ra ṭa.
Vu
Abu Ghraib cho chúng ta thấy sự quan hệ giữa
người dân và định chế chính trị. Con
người vốn không tính
bản thiện cũng
không tính bản ác. Hành
động của một người trước
một t́nh huống là sản phẩm của giáo
dục và truyền thống và những điều
kiện hiện tại. Trong điều kiện
chiến tranh, chiến tranh càng bạo tàn và càng vô quy
ước một người lính vốn hiền lành
có thể trở nên hung dữ và có khuynh hướng
hành xử vô quy ước.
Nhưng
một xă hội có tŕnh độ, có truyền
thống tôn trọng nhân quyền, dân chủ và tự
do ngôn luận sẽ không bao giờ chấp nhận và
bênh vực những hành động bạo tàn và hung
dữ xâm phạm nhân cách của kẻ khác dù nhân danh
bất cứ cái ǵ, như phản ứng của dân
chúng và chính phủ Hoa Kỳ trước vụ Mỹ
Lai tại Việt Nam cách đây ba thập niên và vụ
Abu Ghraib hiện nay.
QD: Trong cuộc bầu cử
tại Ấn Độ hai tuần trước đây
đảng Quốc Đại thiên tả đă toàn
thắng. Ông thấy thắng lợi này của
đảng Quốc Đại có ư nghĩa ǵ
đối với Ấn Độ?
TBN: Sau khi kết quả
đếm phiếu toàn quốc vào ngày Thứ Năm
12/5 cho thấy đảng Quốc Đại do bà Sonia
Gandhi cầm đầu đă thắng Liên Minh Dân
Chủ Quốc Gia đang cầm quyền của ông
Atal Behari Vajpayee, ông Vajpayee đă công khai chấp
nhận thất bại và sẳn sàng trao quyền cho
đảng Quốc
Đại. Sau đó hôm Thứ Bảy đảng
Quốc Đại bỏ phiếu bầu bà Sonia Gandhi
làm chủ tịch đảng và điều này có
nghĩa bà có thể trở thành thủ tướng
của Ấn Độ. Nhưng hôm Thứ Tư 18/5
bà tuyên bố không nhận chức vụ thủ
tướng.
Qua
đó tôi thấy cuộc bầu cử này có hai ư
nghĩa. Thứ nhất đây là cuộc bầu
cử dân chủ và chuyển quyền êm ái đầu
tiên tại một quốc gia có một tỉ dân,
một điều mà các quốc gia độc
đảng như Trung quốc và Việt Nam cần
học hỏi. Thứ hai là lần đầu tiên
một người không phải gốc Ấn
Độ làm chủ tịch đảng Quốc
Đại và đă đưa đảng giành thắng
lợi trong một cuộc bầu cử toàn quốc.
Bà Sonia Gandhi vợ của cựu thủ tướng
Rajiv Gandhi là một
phụ nữ gốc Ư. Chúng ta c̣n nhớ ông Rajia Gandhi
là con của bà thủ tướng Indira Gandhi, và bà
Indira Gandhi con gái duy nhất của ông Nehru là dâu của
ông Gandhi, người lănh đạo nhân dân Ấn
Độ đấu tranh bất bạo động và
đă giành được độc lập cho Ấn
Độ từ tay người Anh năm 1947 và đă
đuợc nhân dân Ấn Độ tôn lên bậc thánh.
Bà Indira và con trai Rajiv Gandhi đều bị ám sát
chết khi đang tại chức thủ tướng
(bà Indira năm 1984, và ông Rajiv năm 1991)
QD: Ông có thấy việc bà Sonia Gandhi
không nhận chức vụ thủ tướng là
một quyết định đúng không?
TBN: Có tin nói rằng quyết
định của bà một phần do lời khuyên
của hai người con của bà v́ sợ bà cũng
sẽ bị ám sát như cha (là thủ tướng Rajia
Gandhi) và bà nội (là thủ tướng Indira Gandhi), và
một phần khác là do sự chỉ trích của
đối lập rằng là một người
nước ngoài bà không đủ tư cách làm thủ
tướng của Ấn Độ. Theo tôi dù bởi
lư do ǵ, hay bởi cả
hai lư do nêu trên, quyết định của bà là
đúng.
Những
lời chỉ trích tuy có tính cách kỳ thị và
đượm màu sắc chính trị nhưng ảnh
hưởng của nó về lâu về dài không phải
là nhỏ. Cho nên dù bà không sợ tính mạng bị
đe dọa bà biết có nhận làm thủ
tướng bà cũng không thể giải quyết
được việc ǵ và trong một khoảng
thời gian đảng Quốc Đại sẽ
phải chọn một thủ tướng khác. Có
lẽ những người viết bản Hiến
Pháp Hoa Kỳ đă tiên liệu những rắc rối
này nên trong bản Hiến Pháp Hoa Kỳ minh thị một
người Mỹ sinh tại nước ngoài không
thể ra ứng cử tổng thống.
QD: Có những vấn đề
ǵ đảng Quốc Đại cầm quyền
phải giải quyết?
TBN: Có hai vấn đề:
Trước mắt là vấn đề thương
thuyết với Pakistan về Khasmir. Trước
đây tổng thống Pakistan Musbarraf vả thủ
tướng Vajpayee đă đồng ư hai bên sẽ
mở lại cuộc thương thuyết chậm
nhất là vào tháng 8/2004.
Đảng Quốc Đại phải tôn
trọng thời biểu này, nhưng đảng
Quốc Đại cũng có nhu cầu nghiên cứu
lại lập trường thương thuyết, và
nếu Liên minh Dân chủ Quốc gia của thủ
tướng Vajpayee không ủng hộ lập
trường mới th́ đảng Quốc
Đại sẽ gặp
nhiều khó khăn trong cuộc thương thuyết
này.
Thứ
hai là chính sách kinh tế. Tuy thắng trong cuộc
bầu cử, đảng Quốc Đại vẫn
không đủ đa số đa để thành
lập chính phủ nên sẽ phải liên minh với
đảng Cộng sản Ấn mới đủ
đa số. Điều này làm các nhà kinh doanh lo
ngại mà dấu hiệu đầu tiên là sau khi
được tin đảng Quốc Đại
thắng thị trường chứng khoáng
sathig tavova Ấn đă giảm xuống
mức thấp nhất trong 4 năm qua. Một trong
những việc đảng Quốc Đại
phải giải quyết là mang lại ḷng tin cho
giới kinh doanh để giữ đà phát triển
kinh tế như thủ tướng Vajpayee đă làm
trong 7 năm qua.
QD: Ngày hôm qua 19/5 tại Hoa Kỳ
có phong trào không mua xăng 1 ngày để phản
đối vụ giá xăng gần đây tăng vùn
vụt. Chưa biết sự đáp ứng của giới
tiêu thụ như thế nào nhưng điều này
chứng tỏ giá xăng lên cao đang trở thành
một mối lo chung tại Hoa Kỳ và trên toàn
thế giới. Vậy vấn đề này như
thế nào?
TBN: Giá dầu thô hiện nay lên 40
mỹ kim một barrel (một barrel bằng 119 lít)
tức là cao nhất kể từ cuộc chiến
tranh Trung Đông năm 1991. Có 3 lư do: sức tiêu thụ
tại Hoa Kỳ và Trung quốc tăng và khối OPEC
tức khối các nước sản xuất dầu
hỏa cắt giảm sản
xuất.
Nhưng
đối với Hoa Kỳ t́nh trạng không
đến nổi đáng để lo lắng lắm,
v́ theo báo cáo ngày 5/5 mới đây của Bộ Năng
lượng Hoa Kỳ th́ Hoa Kỳ c̣n 204 triệu barrel
dầu xăng dự trữ, và mặc dù khối OPEC
nói cắt giảm 1 triệu barrel mỗi ngày, các
nước trong khối OPEC vẫn như thông lệ
sản xuất 2 triệu barrel mỗi ngày trên số
quy định chung.
Yếu
tố quan trọng về dầu hỏa trên thế
giới là lượng dầu dự trữ của
Saudi Arabia, và Saudi Arabia sẵn sàng dùng số dầu
dự trữ này để điều chỉnh sự
lên xuống của lượng dầu trên thị
trường. Một thí dụ, đầu năm 2003
bất ổn chính trị tại Venezuela làm cho
nước này ngưng sản xuất dầu hỏa
làm thị trường quốc tế thiếu hụt
2 triệu barrel một ngày, nhưng nhờ sự
điều chỉnh của Saudi Arabia giá dầu
hỏa trên thị trường quốc tế không
tăng.
V́
vậy mối nguy của thị trường dầu
hỏa quốc tế là ở nơi t́nh h́nh chính
trị tại Saudi Arabia. Gần đây nhóm khủng
bố al Qaeda gây nhiều vụ tấn công tại Saudi
Arabia tạo bất ổn chính trị tại đó có
lẽ là nhắm mục đích tạo sự khủng
hoảng trong sự sản xuất dầu hỏa
tại Saudi Arabia.
QD: Khả năng phá hoại
của Al Qaeda tại Saudi Arabia đến mức
độ nào?
TBN: Cho đến nay Al Qaeda
chỉ có khả năng khủng bố nhân viên các hăng
nước ngoài làm việc trong ngành dầu hỏa
tại Saudi Arabia. Theo nhận xét của tờ tuấn
báo The Economist số ngày
14 tháng 5 th́ chỉ khi nào quân khủng bố đánh phá
các nguồn sản xuất dầu hỏa khi đó
mới trở thành một mối lo. Nhưng Saudi Arabia
có nhiều cơ sở sản xuất và một
hệ thống ống dẫn phân phối phức
tạp nên Al Qaeda sẽ không có khả năng chận
đứng nguồn sản xuất dầu của
Saudi Arabia. Nhưng nếu Al Qaeda có khả năng làm
giàm lượng sản xuất 8 triệu barrel mỗi
ngày hiện nay hoặc phá hoại nguồn năng
lương dự trữ th́ Saudi Arabia không c̣n khả
năng điều chỉnh th́ đó cũng là một
đe dọa lớn cho thị trường dầu
hỏa thế giới, và qua đó nền kinh tế
thế giới.
QD: Ông có nói Pḥng thí nghiệm không
gian quốc tế đang có vấn đế thiếu
hụt ngân sách và có thể phải hủy bỏ
để nhường tiền cho chương tŕnh
khác. Ông có thể nói rơ hơn về vấn đề
này không?
TBN: Cách đây 1 tháng trong
chương tŕnh TG2TQ ngày 22/4 tôi có thưa chuyện
với thính giả về Pḥng thí nghiệm không gian
quốc tế. Hiện nay Pḥng thí nghiệm không gian
quốc tế đang bay quanh quả đất
với hai phi hành gia một người Nga Trung tá
Gennady Padalka và một người Mỹ, kỹ sư
Michael Fincke. Công việc tại Pḥng thí nghiệm không
gian quốc tế lúc này chỉ cầm chừng
chờ cho đến lúc phi thuyền con thoi của Hoa
Kỳ bay trở lại (dự tính cuối năm 2005)
mang vật liệu lên lắp ráp mới có thể
hoạt động như một pḥng thí nghiệm
đúng nghĩa của nó.
Nhưng
mới đây có tin rằng Cơ quan Không Gian Hoa Kỳ
(NASA) đang gặp trở ngại tài chánh v́ NASA
phải đầu tư tài nguyên cho chương tŕnh
phóng phi thuyền có người lái trở lại thám
hiểm mặt trăng và đi thám hiểm Hỏa tinh
tức hành tinh Mars như tổng thống Bush nói trong
báo cáo về t́nh trạng liên bang đầu năm 2004.
Do đó, chương tŕnh Pḥng thí nghiệm không gian
quốc tế có thể sẽ phải hủy bỏ.
Nhưng các giới chức NASA đang t́m mọi cách
cứu Pḥng thí nghiệm không gian quốc tế v́ Hoa
Kỳ và một số quốc gia đă bỏ
nhiều công sức và tiền bạc vào kế
hoạch này. Hơn nữa đối với các khoa
học gia chương tŕnh thám hiểm sao Hỏa không
có lợi ích thiết thực bằng Pḥng thí nghiệm
không gian quốc tế.
QD: Nhân dịp này xin ông cho thính
giả của đài biết về lịch sử
của Pḥng thí nghiệm không gian quốc tế.
TBN: Vâng. Ư niệm đầu tiên
về Pḥng thí nghiệm không gian do một bài báo của
khoa học gia người Đức ông Von Brown
đăng trên tạp chí Collier năm 1952. Thính giả
cao niên chắc c̣n nhớ ông Von Brown, người sáng
chế bom bay V-2 của Đức trong thế
chiến II. Sau chiến tranh ông sang định cư
tại Hoa Kỳ. Ông Von Brown nghĩ rằng muốn
thám hiểm không gian cần có một pḥng thí nghiệm
và một dàn phóng trong không gian để khỏi lo
việc vượt thắng sức cản của
không khí trong những vụ phóng cổ điển. NASA
thấy đây là một ư kiến hay và bắt đầu
đầu tư tiền của vào việc nghiên
cứu thực hiện. Nhưng sau đó NASA bận
rộn với chương tŕnh thám hiểm mặt
trăng của tổng thống Kennedy nên quốc
hội Hoa Kỳ không muốn chi tiền cho kế
hoạch nghiên cứu Pḥng thí nghiệm không gian.
Phải
chờ đến năm 1983 với sự thúc
đẩy của tổng thống Reagan quốc
hội Hoa Kỳ mới chuẩn chi 8 tỉ mỹ kim để
thực hiện Pḥng thí nghiệm không gian trong ṿng 10
năm gọi là Pḥng thí nghiệm không gian Freedom. Sau khi
chương tŕnh bắt đầu quốc hội
chấp thuận một ngân sách lớn hơn là 38
tỉ dự tính hoàn tất vào năm 1999.
Đến
năm 1993 NASA đă chi tiêu hơn 11 tỉ mỹ kim
nhưng Pḥng thí nghiệm không gian vẫn chưa có ǵ
ngoài một số an ten lưới lấy năng
lượng mặt trời. Tổng thống Clinton có
sáng kiến biến Pḥng thí nghiệm Freedom thành một
pḥng thí nghiệm không gian quốc tế và kêu gọi
sự hợp tác của Liên bang Nga và dự tính hoàn
tất vào năm 2010 với chi phí dự trù 110 tỉ
mỹ kim. Cho đến năm 1993 hầu hết các
bộ phận của pḥng thí nghiệm không gian
đều do hăng Boeing chế tạo, và
được chở đến Pḥng thí nghiệm
không gian bằng những chuyến bay của phi
thuyền con thoi. Từ năm 1993 pḥng thí nghiệm có
thêm một số bộ phận của Nga.
Công
việc xây dựng đang tiến hành tốt
đẹp th́ xẩy ra vụ nổ của phi
thuyền Columbia ngày 1 tháng 2 năm 2003, và pḥng thí
nghiệm không gian quốc tế chỉ được
duy tŕ nhờ phi thuyền Sozuz của Nga. Cho
đến nay đă có 16 chuyến bay của phi
thuyền con thoi Hoa Kỳ và 4 chuyến bay của phi
thuyền Sozuz tiếp tế cho Pḥng thí nghiệm không
gian quốc tế. Sau khi phi thuyền con thoi bay trở
lại, NASA dự trù
cần ít nhất 20 chuyến bay nữa mới hoàn
tất.
QD: Hiện trạng Pḥng thí
nghiệm không gian quốc tế như thế nào?
TBN: Chúng ta có thể mường
tượng Pḥng thí nghiệm không gian quốc tế
bây giờ là một dàn an ten thu năng lượng
mặt trời h́nh chữ nhật dài 73 mét, rộng 45
mét, cao 27 mét đang bay ṿng quanh quả đất ở
cao độ 400 km. Phía dưới dàn an ten là một
số pḥng h́nh trụ dùng làm pḥng thí nghiệm và nơi
ăn ở của các phi hành gia và chuyên viên. Căn pḥng
thí nghiệm lớn bằng một ngôi nhà có hai pḥng
ngủ theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ.
QD: Theo ông nếu chương
tŕnh Pḥng thí nghiệm không gian quốc tế bị
ngưng lại th́ có đáng tiếc không?
TBN: Nếu căn cứ vào
mục tiêu của Pḥng thí nghiệm không gian như
tổng thống Reagan xác định trong báo cáo t́nh
trạng liên bang năm 1985 để xin ngân sách là: “Pḥng thí nghiệm không gian có
thể dùng làm nơi chế tạo những thứ
thần dược trong 30 ngày trong khi nếu chế
trên mặt đất phải cần 30 năm, ngoài ra
Pḥng thí nghiệm không gian có thể giúp chế tạo
thủy tinh cực tinh khiết đến độ
có thể xử dụng để chế tạo các
máy siêu điện toán giúp đẩy mạnh khoa
học kỹ thuật, y khoa và tạo ra công ăn việc
làm” th́ Pḥng thí nghiệm không gian Freedom và bây giờ
là Pḥng thí nghiệm không gian quốc tế hẵn nhiên
có nhiều ích lợi thực tế hơn là một
chương tŕnh thám hiểm sao Hỏa chỉ có tính
cách phô trương uy tín của Hoa Kỳ. Cho nên
nếu chương tŕnh này bị hủy bỏ th́
thật đáng tiếc.♣
Trích
trong:
Mục Thời sự, Báo
điện tử
của Tạp chí Dân
chủ & Phát triển: www.dcvapt.org
|