|
|
TIẾNG NÓI TỪ TRONG
NƯỚC
LTS: Một độc giả
từ VN vừa gởi cho chúng tôi bài dưới đây. Tác giả đă nêu ra một số vấn đề
kinh tế, tài chánh và tiền tệ rất đáng quan tâm. Đặc biệt Tác giả c̣n lưu
ư về những nguyên nhân dẫn đến các t́nh trạng này. Tuy nhiên, có một số
điểm chúng tôi muốn bố túc với tác giả:
- Hiện nay sinh hoạt
trong các lănh vực kinh tế, tài chánh, lao động ở VN chưa đạt tới quan
hệ vận chuyển theo qui luật của Kinh tế Thị trừơng (KTTT). Kinh tế VN
vẫn c̣n vận chuyển theo thị trường với định hướng XHCN. Cho nên
c̣n rất nhiều nghịch lí:Doanh nghiệp nhà nước(DNNN) được ưu tiên và dành
nhiều độc quyền so với khu vực kinh tế tư nhân.
- Tại các nứơc theo
KTTT lương được điều chỉnh hàng năm v́ có lạm phát. C̣n ở VN chỉ vài năm
mới điều chỉnh một lần, nên lương không theo kịp thời giá, rất thiệt
tḥi cho người ăn lương.
- Bơm số tiền quá lớn
cho các DNNN làm ăn thua lỗ th́ có hậu quả rất xấu cho ngân sách và hệ
thống ngân hàng. Nhà nước bán trái phiếu và phải trả lăi suất cao, lạm
phát có thể bùng nổ và ngừơi dân phải đóng thuế cao.
- Việc vay tiền của
bên ngoài (ODA) với lăi suất rất thấp là 1%,cho vay trong 40 năm và khất
hạn 7-10 năm. Điều kiện này như thế là tốt để phát triển các cơ sở hạ
tầng, nhờ đó tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá của VN. Vấn đề ở đây là sử
dụng số tiền ODA có hợp lí hay không? Nếu 30% các công tŕnh xây dựng
bị thất thoát do tham nhũng và móc ngoặc như hiện nay th́ sẽ không giúp
cho cạnh tranh tốt mà chỉ làm tăng gánh nợ của VN mà thôi!
- Trong việc định giá
hối đoái liên hệ tới nhiều yếu tố, trong đó phải tính tới sức xuất khẩu
của hàng hoá VN. Kinh tế VN đang ở thế bị động, v́ giới lănh đạo chưa
thấy rơ, muốn cạnh tranh tốt th́ phải có năng suất cao. Nghĩa là cần bỏ
độc quyền, giải thể sớm hệ thống DNNN và tách các quưêt định kinh tế
khỏi chính trị.
Tạp chí Dân chủ & Phát
triển rất cám ơn sự đóng góp của ông Hai Phán và trân trọng giới thiệu
cùng Độc giả.
Phần Nổi Của Tảng Băng
HAI PHÁN
Đặt vấn đề:
Thời gian qua, đặc biệt là mấy tuần vừa qua các thị trường vốn, bất động
sản, tài chính, thiết bị máy móc rất “nhạy cảm” từ khi có quyết định phát
hành trái phiếu của chính phủ cho đến quyết định phát hành tiền mới. Nhiều
quan chức tài chính tiền tệ đă xuất hiện trên báo chí để trả lời những
nguyên nhân, quyết định, v.v.v Nhưng thị trường chung lại phản ứng bằng
tăng giá (tháng 12/2003).
Ngày 06/01/2004, giá
vàng tại Việt Nam đă vượt ngưỡng 800.000 đồng /chỉ, chắc chắn sẽ mở màn
cho một loạt giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng trong năm 2004 này. Rồi lại
có một số quan chức xuất hiện trên báo chí, TV, đài, … lư giải những
nguyên nhân (nhưng phần lớn những nguyên nhân này lại ..... nằm ở ngọn chứ
không phải gốc rễ của vấn đề), v.v và v.v.
Tháng 2/2004, chính phủ
loan báo sẽ điều chỉnh lương cho cán bộ công nhân viên, từ lương cơ bản,
hệ số lương, phụ cấp, v.v.v. Lương chưa tăng nhưng giá hàng hoá, dịch vụ
đă tăng.
Do vậy, vấn đề đặt ra
sẽ là: Liệu giá lên đến mức nào th́ chấp nhận được? Liệu sẽ có những
hậu quả nào không? Ai đang điều chỉnh luật chơi này? Tỷ giá hối đoái như
nào là chấp nhận được và những giải pháp nào là phù hợp?
Thưa quư vị,
Nền kinh tế của chúng
ta là nền kinh tế hàng hoá, vận hành theo cơ chế tự do của thị trường và
có đinh hướng của Nhà nước. Tất cả các quan hệ được điều chỉnh bởi các
luật thị trường.
Để làm rơ vấn đề,
chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu các nhân tố tạo ảnh hưởng:
+ Cách đây 01 năm, cuối năm 2002, chúng ta
đă tăng giá điện, 20%. Đó là mở màn cho một loạt sự tăng giá “đầu vào".
Tuy nhiên các Tổng công ty th́ vẫn cứ kêu là .. lỗ. Giá thành điện, được
coi là chi phí xây dựng giá thành sản xuất của các sản phẩm dịch vụ. Từ đó,
dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành chung của sản phẩm tăng 5-7% / giá
chung.
+ Chúng ta đă điều chỉnh lương cơ bản từ
210.000 đ lên 290.000 đ. Rơ ràng, việc tăng lương danh nghĩa này chỉ có
tác dụng đối với khu vực hành chính sự nghiệp và rất ít tác động đến các
lĩnh vực khác. C̣n lương thực tế vẫn rất thấp, v́ giá cả sinh hoạt cũng đă
tăng từ 5-10%. Tôi cũng không biết ngành tài chính vật giá tính giá bằng
phương pháp nào, nhưng rơ ràng giá cả đă tăng, và càng không thể lấy
phương pháp ngang sức mua đă tính trong trường hợp Việt Nam.
+ Nền kinh tế ngầm. Với mức thu nhập trung
b́nh 600.000 – 1.000.0000 đồng/người/tháng, nhưng giá cả dịch vụ, sinh
hoạt ăn uống, đi lại, y tế, giáo dục, đặc biệt là đất đai luôn cao ở mức
khó tin, với giá lên hàng tỷ đồng / chỗ ở. Đó là điều bất hợp lư rất lớn.
Với mức tích luỹ trung b́nh của các hộ gia đ́nh từ 5-10% th́ chúng ta c̣n
lâu mới trả đủ tiền nhà, tiền học, tiền y tế v.v.v Như vậy đâu là sự bất
hợp lư?
+ Điều này chỉ có thể lư giải được là
bằng nguồn tham nhũng và nguồn vay ngân hàng. Để mua và đầu cơ bất
động sản, sẽ có một số ít đặc quyền đặc lợi vay tín dụng ngân hàng, ngắn
hạn với mức (ví dụ như) 0.75% / tháng tiền đồng Việt Nam hoặc tiền USD dài
hạn (3-5 năm) cho mức 5-6% / năm. Như vậy, khi đến hạn thu hồi nợ, các cá
nhân kia phải bán bất động sản và đă có sự gây lên những cơn sốt ḥng trục
lợi. Theo tôi, tính toán tỷ lệ thu hồi từ các dự án này không quá 50%. Sự
tăng trưởng đáng ngạc nhiện và sự leo thang giá của đất đai là do một số
bộ phận đầu cơ là điều được dự tính.
+ Sự bất hợp lư và sự đẩy lên "ảo" hoàn
toàn được giải thích bởi Nobel kinh tế 2001 "tính bất cân xứng về
thông tin". [1]. Chắc chắn, do
thiếu thông tin, do chính sách chồng chéo, chính sách thông tin một chiều,
thiếu cụ thể, … nên kinh tế chúng ta hiện nay đă có số lượng tiền bị găm
vào đất, bất động sản và trong dân chiếm tới tỷ lệ khoảng 70% tổng số vốn
dự nợ của Ngân hàng. Điều này đă dẫn đến những quyết định phát hành trái
phiếu chính phủ và chuẩn bị bơm tiền vào lưu thông qua phát hành tiền từ
giữa tháng 12 này.
+ Sự thua lỗ của các doanh nghiệp Nhà nước,
cũng như "làm thuê" cho các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là mượn tư cách,
mượn vốn, tài sản để tham gia các dự án, công tŕnh sẽ làm trầm trọng thêm
t́nh h́nh. Tỷ lệ thu hồi nợ rất thấp khoảng 16.5%
[2]
Theo dự đoán của tôi,
khả năng sau khi bơm tiền, giá cả sẽ leo thang khoảng 10%, thật là tín
hiệu xấu đối với nền kinh tế cuối năm con dê 2003 này.
+ Việc tài trợ và cam kết cho vay của các
tổ chức tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế hàng năm đạt 2.5 tỷ đô
la, với hệ số giải ngân thấp dưới 50%.
Tốc độ tăng trưởng
khoảng 7% / năm chủ yếu dựa vào vốn vay, và gia công xuất lại nước ngoài
và xuất khẩu một số mặt hàng thô. Và với mức tăng trưởng 7%/năm, th́
chúng ta mới chỉ có thể giảm được nghèo tạm thời mà thôi
[3]. Như vậy theo tính toán, khoảng 5 năm
nữa, Việt Nam sẽ phải dành ít nhất 5% GDP để hoàn trả các khoản nợ nước
ngoài. Và càng vay th́ càng nợ, điều này vô h́nh chung đang đi theo cái
ṿng "luẩn quẩn" của các nước nghèo và kém phát triển.
+ Tỷ giá hối đoái: Từ năm 1996 tôi đă bắt
đầu nghiên cứu và tính toán tỷ giá hối đoái VNĐ/USD như nào th́ được coi
là phù hợp cho đồng tiền Việt Nam. Tôi đă nhận định nên nâng tỷ giá lên
khoảng 14.400 VNĐ/USD vào khoảng 1997-1998. Khi đó ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đă có nới rộng giới hạn biên độ tại các ngân hàng thương mại 7-10%, có
nghĩa cho phép tỷ giá được phá giá nhẹ từ 7-10%. 02 chuyên gia: là ông
Nguyễn Đ́nh Tài - Viện Nghiên cứu QLKTTW và ông Nguyễn Viết Ngoạn – Ngân
hàng ngoại thương Việt Nam đă có nhiều nhận xét trái ngược nhau. Với ông
Tài, th́ tỷ giá khoảng 14.400 VNĐ/USD, c̣n ông Ngoạn nhận xét tỷ giá
khoảng 19.400 VNĐ/USD th́ đồng Việt Nam mới “ngang giá thực” của nó so với
đồng đôla [4].
+ Và những ép-phê do thực hiện chính sách
phá giá nhẹ đă không mang lại những kết quả khả quan cho nền kinh tế. Có
tăng trưởng 7%/năm liên tục trong 3 năm khó khăn qua, nhưng lại nặng nợ
nước ngoài lên 10%/năm, và điều này sẽ dẫn đến sẽ c̣n tiếp tục phá giá
đồng tiền, thông qua bơm tiền vào lưu thông, tiền Việt Nam rẻ đi trong
điều kiện một đồng đô la yếu, có nghĩa chúng ta đang tiệm cận tới tỷ giá
khoảng 17.500 đ hoặc 18.400 đồng, là mức nền kinh tế Việt Nam sẽ có sự cân
bằng giữa khu vực kinh tế trong nước và kinh tế có sự tham gia của nước
ngoài.
+ Sức ép giảm thuế thông qua AFTA của ASEAN
đang lên nền kinh tế Việt Nam. Việc thuế ô tô tăng, chi phí sử dung hạ
tầng tăng, … về thực chất điều này chỉ có giá trị ngắn hạn. Do sức ép tiến
độ năm 2006 phải hội nhập, thuế rất thấp 0-5%. Bản chất tính cạnh tranh
theo cơ cấu (structural competitiveness) của nền kinh tế là không có. C̣n
cạnh tranh về khối lượng-giá (price-volume competitiveness) cũng chỉ có
lợi cho nước ngoài. Do vậy có thể nói, chính sách vĩ mô của chúng ta
là chính sách bị động và rất lúng túng.
+ Từ đó dẫn đến những hoài nghi về khả năng
cạnh tranh thực sự. (chưa tính đến mức độ công nghệ, thiết bị mua của nước
ngoài) vô h́nh chung đă đẩy giá thành sản xuất sản phẩm lên đến 10%. Tỷ lệ
tham nhũng cao, mất khoảng 10%/GDP (theo Ngân hàng Thế giới) và đă dẫn đến
chi phí sản xuất/chi phí toàn xă hội tăng khoảng 20%. Theo tôi tạm tính,
sức cạnh tranh bằng giá khối lượng không thể bù đắp được những tồn thất (theo
tôi đó là chi phí ẩn).
Xuất phát từ luận cứ
nêu trên, tôi có một số suy nghĩ rút ra như sau:
- Chắc chắn tỷ giá VNĐ/USD
như hôm nay sẽ c̣n phải điều chỉnh, lên ít nhất 10% trong ṿng 1-2 năm.
- Giá cả dịch vụ và sản
phẩm bán ra trong nước, tăng ít nhất 10% sau khi bơm tiền mới vào lưu
thông và tăng lương.
- Khối lượng nợ nước
ngoài tăng trưởng 7-10%/năm và trong ṿng 05 năm nữa, Việt Nam sẽ phải
trích ít nhất 5%/GDP để trả nợ nước ngoài
- Chính sách dùng tiền
của Ngân hàng để đầu cơ đất đai c̣n rất lớn. Chỉ có thể chặn nguồn này
và Ngân hàng dùng đúng số tiền này vào sản xuất kinh doanh th́ mới có thể
cứu văn được. Nếu không, chúng ta đă ở phần nổi của 1 tảng băng trôi
trong chính sách điều hành vĩ mô.
- Các chi phí sử dụng hạ
tầng chắc chắn sẽ c̣n tăng v́ nhiều lư do, nhưng sẽ có một nguyên nhân
là do sức ép từ các khoản nợ và việc thất thoát do các nguồn đầu tư nêu
trên.
- Các doanh nghiệp tư và
TNHH c̣n chặng đường rất dài để tiến tới công bằng và hiện thực về một
lộ tŕnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Cuối cùng tôi muốn nói
rằng, trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, một công dân Việt Nam muốn
được đóng góp suy nghĩ cho sự phát triển chung của đất nước. Tôi chỉ nêu
ra những yếu tố, nguyên nhân dẫn đến và những hậu quả có thể để quư vị
tham khảo. Bản thân tôi rất mong được trao đổi, học hỏi quư vị gần xa về
vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn.♣
Tài
liệu tham khảo:
[1]
Nobel kinh tế 2001 ""for their analyses of markets with asymmetric
information" của Professor George A. Akerlof, Professor A. Michael Spence
and Professor Joseph E. Stiglitz.
[2]
Vnexpress.net,17/01/2003.
[3]
Báo cáo nghiên cứu của UNDP và Bộ kế hoạch đầu tư giai đoạn 2000-2010 .
NXB chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[4]
Thời báo kinh tế số năm 1996
Trích trong:
Mục
Thời sự , Báo điện tử
của
Tạp chí Dân chủ & Phát triển:
www.dcvapt.org
|